Nhà Thờ Đức Bà Paris

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 90 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ii Hang Chuột
Ii Hang Chuột

❊ ❊ ❊

Xin mời bạn đọc trở lại quảng trường Grève, mà hôm qua ta đã cùng Gringoire rời đi để theo sau Esmeralda.

Lúc đó mười giờ sáng. Tất cả đều sặc mùi hôm sau ngày hội. Mặt đường đầy rác rưởi, dải lụa, giẻ rách, lông cắm mũ, sáp ở đuốc rỏ xuống, thức ăn thừa dân chúng bỏ lại. Rất nhiều thị dân đi lượn phố, như ta thường nói, lấy chân đá những thanh củi đã tắt của đám lửa liên hoan, say sưa ngắm ngôi Nhà cột, nhớ lại những màn cửa đẹp treo đó hôm qua, bây giờ chỉ còn lại cái thú cuối cùng ngắm mấy chiếc đinh. Bọn bán rượu táo và rượu bia lăn thủng qua đám đông. Vài khách bộ hành vội vã qua lại. Người bán hàng đứng trước cửa tiệm để trò chuyện hoặc gọi nhau í ới. Ngày hội, các sứ giả, Coppenole, Cuồng đãng giáo hoàng, được nhắc tới trên mọi cửa miệng. Ai nấy đua nhau chê bai và cười đùa. Trong khi đó bốn cảnh vệ cưỡi ngựa tới đứng gác ở bốn góc giàn bêu tù, đã lôi kéo được một đám khá đông dân chúng đang tản mạn trên quảng trường, lại tụ tập quanh họ, đám này đành cam chịu đứng yên tại đó và rất buồn chán, với hy vọng được xem một vụ xử tội nhẹ.

Sau khi ngắm cảnh tượng linh hoạt và ồn ào diễn ra khắp mọi nơi trên quảng trường, nếu bây giờ bạn đọc đưa mắt nhìn ngôi nhà cổ xưa, nửa Gothic, nửa roman, ở tháp Roland, nơi góc bờ sông phía tây, bạn đọc có thể nhận thấy trong một góc của mặt tiền tòa nhà, một cuốn kinh công cộng lớn được tô điểm lộng lẫy, có mái hiên nhỏ che mưa và chấn song sắt ngăn kẻ cắp, nhưng vẫn có thể giở từng trang. Cạnh cuốn kinh là khung cửa sổ tò vò hẹp, có hai thanh sắt bắt chéo chữ thập chắn ngang, mở ra quảng trường, chiếc cửa duy nhất để lọt chút không khí và ánh sáng vào căn phòng nhỏ không cửa, được xây lấn vào trong bức tường dày của tầng dưới tòa nhà cổ; căn phòng tràn đầy vẻ bình yên càng lạnh lẽo hơn, vẻ lặng lẽ càng ảm đạm hơn, nếu so với quảng trường công cộng đông đúc và náo nhiệt nhất Paris, đang chen chúc, ồn ào khắp chung quanh.

Căn phòng đó nổi tiếng ở Paris từ ba thế kỷ nay, do Roland phu nhân ở tháp Roland để tang cha tử trận trong thập tự chinh, đã sai khoét vào trong vách tường tòa nhà riêng rồi mãi mãi tự giam mình tại đây; tòa nhà lâu đài đã được đem cúng cho kẻ nghèo và Chúa, bà chỉ giữ lại căn phòng đó, cửa ra vào được bịt kín còn cửa sổ bỏ ngỏ suốt mùa hè cũng như mùa đông. Quả thực, người đàn bà buồn khổ đã chờ đợi cái chết suốt hai mươi năm trong căn nhà mồ làm sẵn, ngày đêm cầu nguyện cho vong linh cha, bà ngủ ngay trên đống tro, không có lấy hòn đá gối đầu, bà khoác bao tải đen, sống toàn bằng của bố thí sau khi đã bố thí hết của cải, nhờ lòng thương xót của khách qua đường để lại cho mẩu bánh và bát nước trên thành cửa sổ. Khi chết, lúc dời sang nhà mồ khác, bà vĩnh viễn để lại quyền thừa hưởng căn phòng cho các phụ nữ đau buồn, các bà mẹ, vợ góa hoặc gái chưa chồng cần luôn luôn cầu nguyện cho người khác hoặc cho mình, và muốn tự chôn sống trong nỗi đau khổ lớn hoặc nặng lòng sám hối. Các kẻ khó thời đó đã long trọng đưa ma bà bằng nước mắt và lời chúc phúc, nhưng họ rất lấy làm tiếc là cô gái mộ đạo đã không được suy tôn thành thánh chỉ vì thiếu kẻ nâng đỡ. Trong bọn họ, có vài kẻ hơi kém đức tin, hy vọng việc này sẽ được thực hiện trên thiên đường còn dễ hơn ở La Mã, nên họ chỉ cầu nguyện Chúa xót thương người chết mà chẳng cần tới giáo hoàng, số đông đành chỉ tưởng nhớ bà Roland linh thiêng và giữ mớ quần áo rách làm thánh tích. Để tưởng niệm bà, về phần mình, thành phố cũng làm một cuốn sách kinh công cộng, được gắn cạnh cửa sổ căn buồng, để khách qua đường thỉnh thoảng dừng lại, dù chỉ định cầu nguyện thôi, mà cầu nguyện lại buộc phải nhớ tới bố thí, do đó các bà tu kín nghèo được thừa hưởng căn buồng của bà Roland, không đến nỗi bị chết đói và bỏ quên hẳn.

Ở các thành phố thời trung cổ, loại nhà mồ đó thực ra không hiếm lắm. Ngay giữa dãy phố đông đúc nhất, ngay giữa cái chợ màu sắc sặc sỡ và ầm ĩ nhất, có khi đứng dưới chân ngựa, dưới bánh xe, người ta thường gặp một nhà hầm, một cái giếng, một gian nhà nhỏ tường bịt kín và rào chấn song, dưới đó một người ngày đêm cầu nguyện, tự ý hiến mình để suốt đời kêu xin chuộc tội giải oan. Trước cảnh tượng kỳ lạ đó, cái buồng giam kinh khủng, một khâu nối tiếp giữa nhà ở và nhà mồ, giữa nghĩa trang và khu phố, con người tách khỏi cộng đồng người sống và từ nay coi như thuộc về người chết, ngọn đèn cháy nốt giọt dầu cuối cùng trong bóng tối đó, mảnh đời còn lại leo lét dưới hố đó, hơi thở, tiếng nói, lời cầu nguyện vĩnh viễn trong cái hộp đá đó, khuôn mặt mãi mãi ngoảnh về thế giới bên kia, con mắt đã sáng ánh mặt trời khác, vành tai áp vào vạch mộ đó, linh hồn giam hãm trong thể xác, thể xác giam hãm trong hầm tối và dưới hai lớp vỏ da thịt và đá cứng đó là một linh hồn đau khổ rì rầm, mọi cái đó đã gợi cho chúng ta bây giờ bao nhiêu ý nghĩa, nhưng hồi đó không hề được đám đông để ý. Lòng mộ đạo thiếu suy xét và thiếu tinh tế của thời đó không nhìn thấy lắm khía cạnh như vậy trong một hành vi tôn giáo. Họ hiểu sự việc gộp chung một khối và tôn sùng, thờ kính, nếu cần thì phong thần sự hy sinh đó, nhưng không ai phân tích các đau đớn và cũng rất ít mủi lòng thương hại. Thỉnh thoảng họ đem lại ít thực phẩm cho kẻ tu khổ hạnh khốn nạn, nhìn qua lỗ hổng xem còn sống hay chết, chẳng cần biết tên tuổi hắn ta, cũng chẳng nhớ rõ hắn bắt đầu chết từ bao năm nay rồi, nếu có khách lạ hỏi gì về bộ xương còn sống đang mục nát trong hầm, người chung quanh chỉ trả lời, nếu là đàn ông: - “một lão tu kín”; nếu là đàn bà: - “một mụ tu kín”.

Thời đó, người ta nhìn nhận mọi cái đều như vậy, không siêu hình, không quá đáng, không kính phóng đại, bằng mắt thường. Kính hiển vi còn chưa được phát minh, cho những gì thuộc về vật chất cũng như tinh thần.

Tuy nhiên, dù không mấy ai còn chiêm ngưỡng, các tỉ dụ về lối tự giam hãm như vậy ngay giữa đô thị thực ra vẫn khá phổ biến, như đã nói ở trên, ở Paris có khá nhiều biệt phòng như vậy để cầu Chúa và sám hối: hầu hết đều có người tu ở rồi. Quả thực, giáo hội luôn chăm lo, không để các phòng đó vắng người, để như vậy hóa ra gieo tiếng tín đồ bớt mộ đạo, cho nên khi thiếu kẻ tu khổ hạnh, họ nhốt người hủi vào. Ngoài biệt phòng ở quảng trường Grève, còn có một cái ở Montfaucon, một cái ở nhà xác tại nghĩa trang Innocent, một cái khác tác giả không còn nhớ ở đâu, hình như ở nhà Clichon thì phải. Còn nhiều biệt phòng nữa ở nhiều nơi khác, còn thấy dấu vết trong truyện cổ, vì thiếu công trình kiến trúc. Khu đại học cũng có một biệt phòng riêng. Trên đồi Sainte-Geneviève, một người thuộc loại cùng khổ thời trung cổ, trong ba mươi năm liền, đã tụng bảy bài thánh ca khổ hạnh trên một đống phân, dưới suối nước ngầm, cứ tụng đi tụng lại mãi, ban đêm càng tụng to hơn, magna voce per umbras*, và bây giờ nhà sưu tầm đồ cổ tưởng còn nghe thấy tiếng người đó khi bước vào phố Giếng biết nói.

Câu này là trích đoạn trong tập sử thi Enéide (VI, 619) của Virgile (71 - 19 trước công nguyên): Admonel et magna testatur voce per umbras: báo trước và lớn tiếng bảo họ làm chứng cho trong bóng tối.

Trở lại câu chuyện về căn phòng ở tháp Roland, xin nói ngay nó chưa bao giờ vắng bóng nữ tu kín. Từ ngày bà Roland chết, căn phòng rất hiếm lúc bỏ không một hoặc hai năm. Nhiều bà đã tới đó than khóc thân nhân, người yêu hoặc tội lỗi cho đến lúc chết. Thói tinh quái của dân Paris, gặp cái gì cũng dính vào, ngay cả những chuyện ít liên quan tới họ, cho rằng ở đó rất ít thấy quả phụ.

Theo thời thượng hồi đó, một chú thích bằng tiếng Latinh được ghi trên tường, chỉ cho khách qua đường có học biết về tác dụng tu hành của biệt phòng. Tập quán này được duy trì mãi tới giữa thế kỷ mười sáu, dùng một câu châm ngôn ngắn viết trên cửa ra vào để giải thích một tòa nhà. Cho nên tại Pháp, ta còn đọc thấy ngay phía trên khung cửa xép của nhà giam ở tư dinh lãnh chúa Tourville: Sileto et spera*; tại Ái Nhĩ Lan, dưới huy hiệu treo trên cổng lớn của lâu đài Fortescue: Forte scutum, salus ducum* tại Anh trên cổng chính tòa lâu đài hiếu khách của các bá tước Cowper: Tuum est*. Vì thời đó mỗi tòa nhà là một tư tưởng.

“Hãy im lặng và hy vọng”.

Huy hiệu lớn, lời chào của các thủ lĩnh.

(lâu đài này) là của bạn.

Vì căn phòng xây kín ở tháp Roland không có cửa ra vào, cho nên người ta khắc bằng chữ lớn kiểu roman ở phía trên cửa sổ hai từ:

TU, ORA*

“Nhà ngươi, hãy cầu nguyện”.

Dân chúng vốn thực tế, chẳng cần nhìn sự vật quá tinh tế và sẵn sàng dịch Ludovico Magno* thành Cổng Saint-Denis, đã gọi căn hầm tối đen và ẩm thấp đó là Hang chuột*. Một chú giải có lẽ không cao cả bằng cái tên Latinh nhưng trái lại, thú vị hơn.

“Tặng Louis Đại đế”, lời ghi bằng tiếng Latinh ở cổng Saint-Denis.

Hang chuột, tiếng Pháp là Trou autx Rats, gần đồng âm với tiếng Latinh TU, ORA.

Ca —★— Nhà Thờ Đức Bà Paris Văn học Kinh điển ebook©MotSAch TVE-4u©VCTVEGROUP —★— Nhà Xuất Bản Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh 2000
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.