Hà Nội, 1975
“Từ từ, từ từ nào.” Tôi cười, đẩy Đốm Đen và Mõm Hồng sang một bên. Tôi trút cám trộn rau muống vào máng. Hai con lợn vục miệng vào đồ ăn, nhai ngon lành, đuôi ve vẩy.
“Hương ơi có nhà không cháu? Có ai ở nhà không?” Có tiếng gọi tôi. Lau tay vào quần, tôi bước vội ra mở cửa. Cô Duyên đến, cô trông mảnh mai dưới ánh nắng sớm mai.
“Cô không ngờ cháu lớn đến vậy.” Cô cười nói vui vẻ. “Đẹp gái lắm đấy, béo nữa.”
“Gặp cô cháu mừng lắm.” Tôi vui vì nghe cô bảo mình béo. Ai cũng cố lên cân, nhưng làm sao được, ăn uống thiếu thốn quá.
Tôi kéo chiếc ghế bên bàn ăn mời cô ngồi, rồi vào bếp. Gặp cô, có cảm giác như bố về, cô là em gái duy nhất của bố. Ông bà mất sớm, anh em làm đủ thứ việc tự nuôi nhau.
Mang lên ấm trà xanh, tôi thấy cô đang đứng trước bàn thờ cậu Thuận, hai tay cầm mấy nén nhang đang tỏa khói, cô đưa tay lên quá đầu im lặng. Bà tôi giấu bớt bàn thờ để giữ bí mật, một người bạn của mẹ ghé thăm lúc bà không có nhà, xin chia sẻ với mẹ mất mát trong gia đình. Tôi không quên được cảnh mẹ khóc mãi, tay ôm chặt áo quần cậu Thuận vào ngực. Chẳng có gì đáng tự hào, lúc ấy tôi nghĩ sông suối nước mắt mẹ dành khóc than cậu mất rồi làm tình mẫu tử mẹ con tôi khô cằn đi.
Ngồi vào bàn, cô hỏi “Mẹ có đỡ chút nào không cháu? Mẹ có nhà không?”
Tôi gật đầu, cẩn thận không để rót trà tràn ra khỏi tách. “Mẹ chắc đang ngủ cô ạ,” tôi làm hiệu về phía phòng mẹ.
Cô nhìn đồng hồ trên tường rồi nói. “Để cô nói chuyện thêm với mẹ xem sao.” Cô uống cạn tách trà rồi đứng lên mang cả ấm trà vào phòng.
Cô ở trong phòng mẹ lâu lắm, khi đi ra khóe miệng trể xuống đầy thất vọng. Mẹ luôn làm khách ghé thăm bực mình, ngay cả người em gái. Tội nghiệp dì Hạnh, cồn cả từ tỉnh Thanh Hóa ra thăm chị.
Tôi cố gắng tập trung vào cuốn sách giáo khoa, nhưng chữ nghĩa trốn đâu mất hết. Sắp nhập học trở lại, học hành không đàng hoàng dễ bị tiêu lắm. Cửa phòng mẹ vẫn đóng kín. Vờ quét nhà, tôi rón rén đến gần, áp tai vào tấm cửa gỗ. Có tiếng rì rầm thi thoảng cả tiếng thút thít. Tiếng mẹ, tôi nhắm mắt, lắng nghe nhưng tiếng rì rầm như tan biến mất trước khi tôi hiểu được mẹ nói gì.
Mười một giờ, tôi nhóm bếp, đun nước nấu canh rau muống. Trong chiếc nồi đất, tôi kho hai con cá đối với nước mắm, ớt và tiêu. Cho gạo vào nồi, tôi nhặt kỹ cho hết mọt. Mọi ngày tôi ghế với bắp, khoai lang hay khoai mì ăn cho no, nhưng hôm nay nhà có khách nên chỉ nấu cơm trắng. Tôi muốn đãi cô, cô nghèo lắm làm ở xí nghiệp may mặc chỉ lãnh tem phiếu. Giống như bố tôi và mấy cậu, chồng cô đi chiến đấu ngoài mặt trận. Cô sống bên bờ sông Hồng, chăm hai con nhỏ.
Đến trưa, nồi cá sôi liu riu, tỏa mùi thơm ngào ngạt, tôi nếm thử. Rồi nếm thử canh rau muống, ngon quá tôi húp thêm một thìa nữa. Nhìn vào phòng mẹ rồi tôi múc một thìa cơm cho vào miệng, thêm một thìa thôi mà.
Chưa kịp nhai, có tiếng lạch cạch ngoài cửa. “Hương ơi bà về nè.”
Nghe giọng bà, tôi nuốt vội, miếng cơm trôi xuống họng như hòn than nóng, tôi ném chiếc thìa ra góc bếp, dùng tay áo lau miệng.
“Bà đói quá, con nấu cơm chưa?” Bà đẩy xe đạp vào nhà.
Tôi cười với bà, chắc nhìn láu lỉnh lắm. Tôi ra hiệu về phía buồng ngủ. “Cô Duyên đang nói chuyện với mẹ.”
Bà đưa ngón tay lên môi. “Cứ kệ chúng nó.”
Tôi dọn chén bát ra bàn. Mẹ đang nói chuyện, chắc nguôi ngoai được phần nào chứ. Tôi tưởng tượng đến bữa cơm trưa như một buổi tiệc mừng hội ngộ, tôi sẽ ngồi bên mẹ, nghe mẹ khen tài nấu nướng của con gái rồi xới cơm đầy bát bảo tôi ăn; giọng nói nhẹ nhàng của mẹ làm tôi không lo lắng nữa mà chú tâm vào việc học.
Nhưng khi mẹ và cô ra đến bàn ăn chỉ có im lặng suốt bữa. Bà cố gắng giữ mạch câu chuyện bằng cách hỏi han công việc của cô Duyên.
“Nhà máy sản xuất theo chỉ tiêu,” cô thở dài. “Quần áo chất đầy kho, không bán được nhưng cứ thế mà làm.”
“Chính quyền muốn kiểm soát kinh tế, nhưng làm sao được?” Bà gắp thêm cá cho vào chén cô.
“Cả hệ thống y tế cũng đầy khó khăn. Bác mới đi thăm người quen ở bệnh viện Bạch Mai; đông quá sức tưởng tượng. Cần thêm bác sỹ nhiều lắm đấy.” rồi bà quay sang mẹ. “Ngọc à, mẹ gặp mấy đồng nghiệp của con, họ nói mong con đi làm lại đấy.”
“Họ thích nói dối đấy thôi.” Mẹ tôi chanh chua làm tôi giật cả mình.
Một thoáng im lặng.
“Đồng nghiệp quan tâm đến con mà. Ai cũng lo, muốn con khỏe lên.”
“Khỏe lên à?” Mẹ bật cười, hai mắt đỏ ngầu. “Con mà mạnh mẽ được như mẹ, con đã khỏe lên rồi, mẹ vứt tụi con lại làng rồi chạy trốn, mẹ nhớ không?” “Thôi mà Ngọc. Chuyện qua lâu rồi, lúc đó mẹ còn cách nào khác đâu.” Môi bà run run.
“Có chứ, Người mẹ nào mà không có lựa chọn chứ.”
Tôi chưa bao giờ thấy mẹ giận dữ như vậy.
“Chị Ngọc…” Cô Duyên đưa tay nắm lấy tay mẹ.
“Không, em không hiểu hết đâu. Nếu mẹ chị không bỏ chạy, mấy anh em giờ này còn sống cả. Thuận chết rồi. Đạt, Sáng chắc gì đã còn mà về được. Thuận nó chết rồi, chết rồi!” Nước mắt chảy dài trên má.
“Mẹ xin lỗi,” Bà thì thào. “Để mẹ bù lại cho con, muốn gì cứ nói mẹ làm cho.” “Mẹ làm gì được cho con bây giờ chứ.” Mẹ tôi hai tay ôm lấy mặt. “Không được gì đâu! Con xem như thối tha vứt đi rồi. Không ai gột rửa được con đâu.” Tôi nhìn trân trối, tôi không hiểu mẹ nói gì.
“Ngọc à,” bà bỏ chén đũa xuống. “Quên mấy chuyện buồn đó đi con, Để mẹ giúp con – ”
“Giúp à, nói đi mẹ làm gì được nào.” Một tia giận dữ lóe lên trong mắt mẹ.
“Sao mẹ có thể ngồi ăn được trong khi Thuận nó nằm trong lòng đất lạnh.” “Thôi đủ rồi đó!” Bà đập mạnh tay xuống làm chiếc bàn rung rinh. “Con làm sao hiểu được người mẹ mất con đau khổ thế nào.”
“Ồ, con hiểu hết biết hết chứ. Vì vậy mà không cam tâm thấy mẹ ngồi bình thản ăn uống thế này.”
“Thôi đừng cãi nhau nữa. Thôi đi” tôi thét lên.
Tôi vào bàn học ngồi khóc, cô Duyên vào theo dỗ. “Xin lỗi cô làm cả nhà rối lên. Mẹ cần thêm thời gian cháu ạ…” “Mẹ sao vậy cô? Mẹ cháu nói gì với cô?” Cô dùng tay lau nước mắt cho tôi.
“Ngày nào đó cháu sẽ hiểu thôi. Bây giờ cô chỉ có thể nói, làm bác sỹ mẹ đã cứu biết bao sinh mạng. Mẹ làm việc trong trạm xá dã chiến dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh, đôi khi mổ xẻ mà không có thuốc tê. Bất cứ lúc nào có dịp, mẹ cháu đều tìm kiếm bố cháu và các cậu nhưng vẫn bóng chim tăm cá.” “Mẹ nói gì nữa với cô chứ? Không dưng mà mẹ cháu lại thành con người dễ sợ vậy sao?”
“Ồ, Hương à. Chiến tranh, nhiều chuyện ngoài sức tưởng tượng của mọi người cháu ạ.”
“Mẹ cháu giết ai đó phải không cô?” “Cái gì? Sao cháu nói vậy?”
“Trong lúc ngủ, mẹ khóc gọi một đứa bé. Có khi lại bảo rằng mẹ giết nó cô ạ.” “Không đâu, chỉ là ác mộng ấy mà.” Cô lắc đầu. “Tin cô đi, mẹ cháu là người tốt.”
“Mẹ và cô nói chuyện mấy tiếng đồng hồ. Có chuyện gì cô cho cháu biết với.” “Cháu lớn thêm chút nữa, chính mẹ sẽ kể Hương ạ. Dù có gì đi nữa, mẹ thương cháu nhiều nhiều lắm. Mẹ quan tâm đến cháu nhiều hơn cháu tưởng đấy. Mẹ biết ơn vì cháu đã chăm sóc cho mẹ.”
“Mẹ có đề cập đến sao cô?”
“Ừ, hẳn nhiên rồi cháu.” Cô Duyên cắn môi. “Có chuyện mẹ nhờ cô nói với cháu.”
“Mẹ không tự nói được sao?”
Cô cầm lấy tay tôi. “Hương, mẹ muốn đến ở với cô một thời gian. Mẹ cần thời gian để – ”
Tôi đứng bật dậy. “Mẹ muốn tống khứ cháu đi đấy.”
“Đừng nghĩ vậy cháu, mẹ cần chỗ dựa. Lúc này là cô. Nhà bên đó không rộng rãi lắm, nhưng cô có thể đưa mẹ đi dạo bên sông. Gần gũi với thiên nhiên, tốt cho mẹ hơn cháu ạ.”
Tôi quay mặt đi. Mẹ tâm sự với cô Duyên chứ không phải tôi. Mẹ không tin con gái. Với mẹ, tôi nào đã hết phận làm con.
Sau khi cô đưa mẹ đi, tôi ra sau vườn, cầm theo cuốn, Ngôi Nhà Nhỏ Trong Những Cánh Rừng Đại Ngàn. Cô gái người Mỹ may mắn biết bao khi được ở cùng bố mẹ, còn tôi cả hai đều trôi xa. Lật đến trang cuối, Laura cuộn trong chăn nằm thoải mái, mẹ đan áo trên chiếc ghế bập bênh và tiếng đàn tiếng hát của bố làm cả nhà ngập tràn hạnh phúc.
Tôi nghiến răng, giật mấy trang cuối ra khỏi cuốn sách, xé tan thành những mảnh vụn. Cứ nghĩ trả thù xong sẽ hả dạ, nhưng khi vụn giấy rơi xuống chân như những chú bướm chết, nước mắt tôi lại trào ra.
Tựu trường, tôi loay hoay, kết quả kiểm tra hết chỗ nói, bà bực mình lắm nhưng tôi không thèm để tâm. Bà chính là người đuổi mẹ ra khỏi nhà.
Bà ít nói hẳn; những lời mẹ nói như xát muối vào vết thương làm bà đau đớn hơn. Bà đã nuôi nấng tôi bao tháng ngày, nay tôi phải có trách nhiệm chăm cho bà nhưng sao tôi không làm được, sợ làm vậy là phản lại mẹ. Mỗi lần mang mấy giỏ thức ăn bà nấu đến, mẹ nhìn bằng đôi mắt vô hồn đến nỗi tôi tự hỏi người ngồi đó có phải là mẹ mình không nữa.
Tôi nói chuyện với cô Duyên nhưng không biết thêm gì. Cô cứ bảo cho mẹ thêm chút thời gian rồi đâu vào đó thôi.
Ngày 30 tháng tư năm 1975, tin Quân Đội Bắc Việt chiếm được Sài Gòn lan ra, hàng đoàn người về lại quê hương. Cuộc kháng chiến chống Mỹ đã thực sự kết thúc. Việt Nam đã thống nhất. Nam Bắc, giang san lại về một mối. Dân chúng ca hát, nhảy múa, tay phất cờ. Lá cờ đỏ sao vàng như những ngọn lửa đỏ khắp các phố phường. Loa phóng thanh đầy những bài ca, phát biểu hoan nghênh chủ nghĩa anh hùng trong Quân Đội Bắc Việt, ca ngợi nhân dân ta đánh thắng đế quốc Mỹ và chế độ Miền Nam.
Nhìn lại, mong sao tôi hiểu hết được ý nghĩa của ngày này. Đó chính là đánh dấu việc khép lại một giai đoạn nhuốm máu trên cả quê hương gần hai mươi năm, hơn ba triệu người thiệt mạng, để lại hàng triệu người thương tật hay phải xa mảnh đất sinh ra lớn lên. Có lần tôi đọc báo về số bom đạn trong cuộc chiến này, con số thật kinh khủng: bảy triệu tấn bom.
Ngày kết thúc chiến tranh nhưng bà vẫn không vui mừng. Với gia đình tôi, hòa bình chỉ thực sự trở về khi người thân được đoàn tụ. Trong khu phố, chỉ duy nhất nhà tôi lá cờ trên cửa không bay phất phới. Bà quỳ trước bàn thờ, tiếng mõ nhịp đều đều theo tiếng đọc kinh. Quỳ kế bên, nhắm mắt, tay chắp trước ngực, tôi cầu nguyện cho bố, cậu Đạt, và cậu Sáng bình yên về lại quê nhà mà không thêm hệ lụy nào của chiến tranh.
Bà giục tôi đi học trở lại, bà ở nhà mấy ngày, xài sang lắm. Bà nấu nướng đủ thứ thức ăn, chuẩn bị cho buổi tiệc trọng đại của gia đình.
Một tuần đúng sau Ngày Độc Lập, tôi dậy sớm đọc kinh với bà. Rồi bà nấu bữa sáng, xa xỉ vậy đó, phòng khi có khách. Mang hai chiếc xô không đi hứng nước, gặp bà Nhân đang tập thể dục buổi sáng, tôi chào bà.
Nhiều phụ nữ đang túm lại quanh giếng, giặt đồ, tôi bước qua chỗ họ về chiếc máy bơm.
“Có chú bộ đội về kìa,” tiếng thì thầm sau lưng tôi.
Tôi quay lại, một thân hình gầy ốm đang đi vào trong hẻm, khổ người và chiều cao giống bố.
Có tiếng nói “giống anh tôi vậy,”
Tiếng kêu loảng xoảng vang lên khi mấy bà vứt xô chậu bỏ chạy về phía chú bộ đội. Tôi cũng chen vào nhưng không nhanh bằng các bà, xung quanh đám đông vây kín lấy người lính.
“Chú Sáng, chú Sáng về rồi!” Tiếng một đứa con nít reo lên. Cậu Sáng của tôi đã về.
“Chào các bác, các cô, các cháu.” Cậu chào hết mọi người. “Mẹ cháu quả là có phúc, Sáng ạ.” Ông Tùng vỗ vai cậu.
Bà Thương nắm tay cậu hỏi. “Thế anh có gặp hai đứa Thắng, Lợi con tôi không?”
Cậu lắc đầu. “Dạ chiến tranh kết thúc rồi, hai chú sớm về thôi bác ạ.”
“Tôi mong có vậy.” Bà Thương lẩm bẩm rồi lau nước mắt quay đi.
“Hương đây, cháu chú đây,” có người đẩy tôi về phía cậu, tôi lao vào ôm lấy cậu.
“Xem này, cao gần bằng cậu đấy,” cậu nói, còn tôi hít một hơi dài cố nín khóc. Cậu Sáng trở về thật rồi. Bố, cậu Đạt nay mai trở về thôi, không có gì phải lo lắng.
“SAO MẸ LẠI LÀM CHUYỆN NGU NGỐC thế không biết.” Tôi ngồi chết trân bên cạnh bà, cậu Sáng đi lui đi tới trong phòng khách lên tiếng chì chiết. Đôi giày dưới chân cậu kêu lên lít kít theo tiếng bước chân thậm thịch. Cậu đá hai con lợn chạy lon ton xung quanh. “Con không tưởng tượng nổi mẹ bỏ dạy để làm con buôn.”
“Bình tĩnh nào, mẹ có làm gì xấu đâu.” Bà rót tách trà cho cậu.
“Lại còn không xấu à?” Cậu ghé miệng vào sát tai bà. “Con là đảng viên, không thể có mẹ là con buôn.”
“Ồ, con kết nạp đảng rồi à?” Bà khịt mũi, “Mẹ thấy có vấn đề gì chứ, chuyện của mẹ, chuyện của con có liên quan gì đến nhau đâu.”
“Đơn giản như mẹ nghĩ đâu chứ.” Tiếng cậu rít lên. “Con và các đồng chí của mình tốn biết bao xương máu đánh đuổi ngoại xâm để giành lại công bình cho nhân dân. Giải phóng khỏi những kẻ tư sản, bóc lột.”
Cậu đang lên lớp, bà đến bên chiếc lò mang bát đĩa đầy thức ăn lên bàn: bánh cuốn, phở, xôi nước dừa và cháo cá. Thấy bà dọn thức ăn lên mừng con về, tôi đứng lên giúp một tay.
“… Mẹ làm con vuột mất cơ hội làm lãnh đạo đấy. Con thành trò hề cho đồng chí, đồng đội, giờ còn nói được ai nữa vì – ”
“Vì không nói được mẹ mình chứ gì?” tay đang so đũa, bà nhìn lên. “Thôi nào, mấy năm rồi mẹ con ta không gặp nhau, ngồi xuống ăn chút đi con.”
Bấy giờ cậu mới chịu đứng lại, nhìn đồ ăn mũi phập phồng. Cậu quay đi nhưng không kịp, tôi thấy cậu nuốt nước bọt.
“Cậu à,” tôi mời cậu. “Bà nấu toàn mấy món cậu thích suốt tuần đấy, để nhỡ cậu về.”
Cậu kiểm tra, khóa cửa nẻo cẩn thận, ghé mắt qua cả mấy khe hở xem có ai rình rập không.
Đến bên bàn, cậu thì thào “thôi được, lần này thôi, cậu không muốn làm cái Hương buồn.” Cậu như ngốn ngấu, im lặng trong suốt bữa ăn. Đánh chén xong cậu ợ một tiếng rõ to.
Cậu đứng lên lại đi lui đi tới, bà và tôi vẫn còn ăn. Cậu mở miệng phun ra hàng tràn ngôn từ như từ một kẻ hoàn toàn xa lạ. “Mẹ, nếu mẹ còn thương con, bỏ ngay cái việc ấy rồi đi dạy lại. Mẹ còn đi buôn, con không đến thăm mẹ được nữa đâu.”
Cậu đi rồi trông bà thật thiểu não. Dọn dẹp xong bà lặng lẽ ra chợ.
Sao cậu lại thay đổi đến lạ lùng như vậy? Ngày trước cậu lo lắng cho bà lắm. Cậu hay xếp giấy thành mấy con vật cho tôi và đám bạn. Đến tết Trung Thu cậu chẻ tre làm mấy chiếc lồng đèn lạ mắt: cá, mèo, hổ, ngôi sao và cả hoa. Tôi luôn thắng giải trong cuộc thi rước đèn quanh hồ Hoàn Kiếm. Năng khiếu đó cậu học được từ người thợ thủ công chăm sóc cho mình trong những ngày đầu cậu và bà đặt chân đến Hà Nội.
Tôi rót cho bà ly nước khi bà từ chợ về. “Bà có sao không? Sao cậu Sáng hỗn hào vậy.”
“Hệ thống tuyên truyền nó tẩy não vậy đấy.” Bà ngồi xuống phản “Bà kể lại cho nó nghe chuyện xảy ra với ông cố, để khuyên can chính trị nguy hiểm lắm. Mà nó nào có chịu nghe.” Tiếng bà thở dài “Thôi mưa dầm thấm lâu. Bà phải kiên nhẫn thôi.”
Bà xoay xoay ly nước trong tay, “như mẹ cháu đấy, ý bà là phải cố gắng nói chuyện với nó, chính gần gũi của cháu mang mẹ lại gần đấy.”
“Mẹ có quan tâm gì đâu bà ạ. Con không muốn đến thăm mẹ nữa đâu.” Tôi đứng lên như không muốn dính dáng đến chuyện phiền phức ấy nữa.
Bà nắm tay tôi. “Hương à mình không làm thì ai làm hả con. Hứa với bà là không được bỏ mặc mẹ nhé?”
Từ đó, mỗi lần ghé sang nhà cô Duyên tôi đều mang theo sách vở, khi đọc sách, khi thì làm bài tập để khỏa lấp im lặng giữa hai mẹ con.
Mấy tuần sau, tôi nhận một lá thư. Ngạc nhiên quá, tôi cứ mở bao thư lấy tờ giấy ra đọc, cười một mình rồi lại bỏ vào.
“Thư của ai vậy con?” Mẹ đột nhiên hỏi, khi ngồi cách tôi mấy sải tay như mọi khi.
“Con không biết mẹ ạ.” Mẹ nhướng mày lên.
“Mẹ muốn nghe không?” Rồi không chờ mẹ trả lời, tôi hắng giọng.
Hương mến, bạn có nhận ra hè đã về? Hoa phượng như thắp đèn hai bên
đường. Tớ mơ đến một ngày được cùng bạn đi dưới bầu trời đỏ rực ấy.
Tôi chìa mảnh giấy ra, “Con tìm thấy trong túi xách, không biết đứa nào bỏ vào.”
“Con có cảm tình viên bí mật đấy.” Mẹ cười.
“Có đứa chơi khăm con không chừng?”
“Không phải đâu,” mẹ bảo. “Bằng tuổi con, mẹ nhận được cả đống thư như vậy.”
“Thật hả mẹ, nhiều không? Mà ai gởi cho mẹ?” Nụ cười chợt biến mất, mẹ quay ra nhìn cửa sổ.
“Mẹ không muốn về nhà sao?” Im lặng.
“Mẹ à, về nhà đi con cần có mẹ mà.”
“Không được đâu con…Con không phải đến với mẹ đâu. Mẹ không tốt đẹp gì đâu.”
“Cô Duyên cho biết mẹ sẽ đi làm lại. Nhưng sao làm công nhân mà không làm bác sỹ. Mẹ yêu nghề lắm mà?”
“Mẹ không làm bác sỹ được nữa đâu.” Mẹ vặn vẹo mấy ngón tay. “Làm bác sỹ làm mẹ nhớ đến những chuyện không vui.”
“Chuyện gì mẹ?”
“Ồ, mẹ không kể con nghe được đâu. Chỉ biết chuyện kinh lắm, mẹ không muốn bất kỳ ai phải gặp như mình.”
“Mẹ à, nếu không nói cho con nghe được thì kể cho bà, bà giúp được mà.” “Không đâu con,” mẹ thì thào. Mẹ cúi đầu, đôi vai rung lên. “Mẹ xin lỗi không mang bố về. Mẹ bắt bố tham gia cái quân đội chết dẫm kia. Bố muốn chặt ngón tay để khỏi đi nghĩa vụ. Bố có bảo sẽ trốn đi, nhưng mẹ lại nói sao hèn thế, là đàn ông phải chiến đấu bảo vệ tổ quốc đánh đuổi ngoại xâm.”
Tôi nhìn mẹ trân trối, mẹ điên rồi chắc?
Tôi lắc đầu, “Bà bảo ai cũng phải tham gia, bố làm gì có lựa chọn nào khác chứ.”
“Có chứ con!” Mẹ nắm chặt tay.
“Bố sẽ về mà.”
“Về ư? Chiến tranh kết thúc ba tháng rồi con.”
Ba tháng qua đi. Nếu bố còn sống phải nghe chút tin tức chứ. Mẹ muốn nói vậy mà không dám nói hết câu.
Cơn giận như chận ngang ngực, nước mắt ứa ra. Tôi không muốn liên hệ gì với người đàn bà đang ngồi đấy nữa. Có vì bà ta mà bố tôi phải ra chiến trường, có lẽ bà ta đã giết nhiều con nít cũng nên.
Tôi chạy ra cửa rồi quay lại nói. “Hy vọng bố sẽ quay về, vì nếu bố không quay về, con không, không bao giờ bỏ qua cho mẹ!”
Đến nhà, tôi hỏi bà có phải mẹ thuyết phục bố đăng lính không.
“Có đàn ông nào thoát được đâu,” bà kêu lên. “Không biết tại sao mẹ cháu lại tự trách mình như thế. Chuyện có người cắt ngón tay hay trốn đi là có thật, nhưng những người bà biết đều bị chịu hình phạt rất nặng nề. Cuối cùng vì không chịu nỗi mà phải đi lính thôi. Có cơ hội cho mấy cậu trốn đi, liệu bà có để mấy cậu vào bộ đội không?”
“Nhưng chính mẹ thúc giục bố tham gia quân đội nên mới ray rứt như thế chứ ạ.”
“Khoảng thời gian bố cháu đăng ký vào quân đội.” Bà thở dài, “nhiều người dân vô tội chết vì bom. Hà Nội như sôi lên vì căm hận, hàng loạt người tình nguyện đi chiến đấu. Mẹ cháu giống như họ thôi, rất yêu nước.”
Tôi chợt nhớ mấy đứa con trai trường tôi khai gian tuổi để được vào quân đội. Nhưng không thể chấp nhận được việc mẹ đẩy bố vào lò lửa chiến tranh.
Bước ra ngoài, tôi nhìn lên bầu trời không một vì sao. “Bố ơi! Về đi bố. Về để hàn gắn mẹ với con.”
Tôi lại vùi đầu vào sách vở để quên đi nỗi giận và nhớ mong. Tôi tập trung học, bà đã làm mọi việc để tôi có cơ hội học hành, tôi phải nắm lấy. Ba năm nữa tôi sẽ hoàn tất bậc trung học và thi tuyển vào đại học.
Tháng 8, đã năm tháng tính từ ngày mẹ về, tôi trúng tuyển vào trường đầu bảng ở Hà Nội, trường Chu Văn An.
Ngôi trường may mắn không bị bỏ bom, những tòa nhà kiểu xưa vẫn uy nghi đứng bên Hồ Tây. Ngồi trong lớp tôi có thể thấy mấy ngư dân dùng chân chèo chiếc thuyền tre, tay kéo chiếc lưới lấp lánh. Tôi thấy cả những người phụ nữ cúi xuống rồi mất hút dưới những gợn sóng để mò cua bắt ốc.
Trường mới xa nhà, Bà phải mua cho tôi chiếc xe đạp. Trong lớp năm mươi hai học sinh mà chỉ mình tôi và một bạn nữa có xe. Số còn lại nhà xa mấy cũng phải đi bộ.
Đám bạn biết bà là con buôn nên không muốn gặp tôi sau giờ học. Không ai muốn đến nhà tôi chơi.
Tôi không quan tâm. Ở nhà tôi có thể đọc những quyển sách cấm có nội dung chống cộng, bà mua cho tôi. Nhà còn là chỗ thư giãn: tập võ tự vệ với bà và chơi với mấy con vật. Tôi năn nỉ bà đừng bán Đốm Đen và Mõm Hồng. Bà quyết định để nái, đẻ được hai mươi hai chú trong lứa đầu. Bán mười lăm con thu được khá tiền. Bà lấy căn phòng thứ ba làm chuồng lợn sau khi chuyển giường cậu Đạt sang phòng bố mẹ. “Khi nào cậu về thì tính tiếp.” Bà bảo.
ĐẾN MÙA THU. Tôi mong bà có động thái gì để mang mẹ về nhà, nhưng hình như bà đang bận tâm đến chuyện khác. Một hôm, từ chợ về thấy bà vui hẳn lên. “Hương cháu biết chuyện gì chưa? Bà sắp có thêm một đứa cháu. Mợ Hoa có thai. Ôi, không tin được.”
“Hay vậy bà, nhưng sao bà biết ạ?” Cả cậu Sáng và mợ Hoa có liên lạc gì với gia đình đâu, cả hai người chỉ gặp mẹ tôi có một lần.
Bà nháy mắt, “Bạn bà lâu nay vẫn thay bà thăm cậu mợ.”
Bà nấu nướng, miệng lẩm nhẩm mấy bài hát vui nhộn.
Tôi đang làm bài, nghe tiếng bà vang lên ngay cửa buồng. “Hương mang ít thức ăn đến cho mợ Hoa, con.”
Bước ra, tôi thấy một đống hộp nào xôi, nào cá nướng và rau xào để trong chiếc giỏ. “Ăn cho có sữa cháu.”
“Con không muốn gặp mợ đâu bà. Với lại ngày mai cháu có bài kiểm tra.” Tôi quay vào phòng.
“Đi có chút xíu mà con.” Giọng bà theo tôi vào đến bàn học. “Để bà lấy xe lai con đi nhé.”
Tôi trợn mắt, không biết sao bà dễ bỏ qua cho cậu Sáng đến vậy. Bà giúp mẹ tôi có hơn không.
Đang nằm trên giường đọc thơ Xuân Quỳnh, bà đứng bên. “Có người đang học bài để mai kiểm tra vậy đấy,” bà cười nói.
Tôi lật thêm trang nữa, thấy xấu hổ vì nói dối làm bài kiểm tra. Bên ngoài trời đang nóng như đổ lửa, cậu Sáng lúc nào cũng lên lớp bốc cả mùi.
“Hương à, đứa bé là em con đấy…” “Nếu bà muốn thì tự đi.”
“Bà không làm được nên mới nhờ đến cháu.”
“Sao lại không ạ? Ồ cháu nhớ rồi.” Tôi hắng giọng, giả cậu Sáng. “Con là đảng viên. Không thể có mẹ là con buôn.”
Bà nhăn mặt, “Bà có nhờ cháu làm gì đâu, nhưng chuyện này phải giúp bà mới được.”
“Cháu có phải nghé con nữa đâu mà bà phải dắt mũi.” Tôi cầm sách lên, muốn quên hết bằng mấy trang sách.
“Hương à, bà có dạy con ăn nói như vậy đâu, phải biết tôn trọng người khác chứ.”
“Tôn với chả trọng.” Tôi ngồi lên. “Làm gì còn trong cái nhà này chứ.” Tôi chợt nhớ cách cư xử của cậu Sáng, Mợ Hoa và mẹ tôi.
Mặt bà tím lại. Tôi nghĩ bà sẽ tát cho tôi bạt tai hay mắng cho một trận, nhưng bà chỉ im lặng đi ra.
Tôi nằm xuống, miệng ư ử khoái trá cho rằng thắng được bà, nhưng bà lại xuất hiện, đầu đội nón lá tay mang chiếc túi đồ ăn.
“Bao giờ làm mẹ cháu sẽ hiểu cho bà.” Bà kéo tôi dậy. Muốn phản đối lắm nhưng khi nhìn vào mắt bà tôi lại im lặng.
Hai bà cháu đến tòa nhà bê tông, nơi cậu mợ Sáng ở, bà lấy nón lá che mặt rồi để tôi vào một mình. “Xong việc con ra gặp bà ở phố Tràng Tiền nhé.” Bà bảo. Bà đạp xe đi, chiếc bóng bé xíu in trên nền trời đang tối dần.
Tôi bặm môi để khỏi bật ra tiếng kêu khi bước vào chiếc cầu thang tối ám, bẩn thỉu. Tôi muốn xé chiếc giỏ rồi ngốn cho hết thức ăn. Tôi quá chán ngán trách nhiệm với bà, với mẹ và họ hàng.
Tôi gõ cửa. Không ai trả lời. Chờ một lúc tôi lên tiếng gọi “cậu Sáng ơi,” Vẫn im lặng.
“Tốt thôi, cậu không có nhà,” tôi nói rồi quay ra dợm bước đi, có tiếng thì thào bên tai. “Hương đấy hả cháu?”
Cọt kẹt chiếc cửa mở. Mợ Hoa thò đầu ra, nhìn quanh. Nhanh như chớp, mợ nắm lấy tay tôi kéo vào trong, rồi đóng cửa lại ngay.
“Có ai trông thấy cháu đến đây không?” Mợ nhướng mày hỏi, bụng mợ đã lùm lùm dưới làn áo py ja ma như mặc khín của người khác.
“Không ai thấy đâu ạ, mà sao vậy?” Tôi nói trổng không, nhưng mợ không để ý vì mắt còn bận nhìn vào chiếc giỏ đồ ăn.
“Vào đây cháu, cậu mợ định ăn cơm.” Mợ kéo tôi vào sâu hơn. Tôi đi qua căn phòng ngổn ngang hàng đống sách trên sàn nhà. Lý Thuyết Chủ Nghĩa Mác-Lê, Chủ Nghĩa Tư Bản Đang Giãy Chết, Đế Quốc Mỹ Chỉ Là Con Cọp Giấy của nhà xuất bản Sự Thật.
Bên phải là nhà bếp không có gì, bên trái là phòng tắm và một phòng nữa, bày biện rất sơ sài. Có lần bà nói với tôi cậu Sáng cho hết đồ đạc mắc tiền, nhà cửa nghèo nàn để chứng tỏ mình thuộc giai cấp công nhân. Trống trải như thế này nuôi lợn có lý lắm, nhưng không nghe tiếng súc vật.
Tôi theo vào căn phòng lớn.
Cậu đang ngồi trên chiếc chiếu cói. Mặc chiếc áo lót và quần cộc, thân thể cậu ốm yếu ngoài sức tưởng tượng. Trước mặt cậu là hai đĩa thức ăn: khoai mì và rau muống. Cán bộ nhà nước được lãnh tem phiếu thực phẩm, nhưng chẳng thấm vào đâu. Cậu nên tăng gia thêm chăn nuôi thay vì cứ ngồi đọc ba cuốn sách tuyên truyền.
“Chào cậu,” tôi lên tiếng.
“Hương hả, cháu đi một mình thôi hả? Bà đâu?”
“Bà đang đứng dưới đường.” Cậu thở phào.
“Bà gởi cậu ít đồ ăn.” Chiếc giỏ mỗi lúc mỗi nặng; bà bỏ hàng mấy tiếng đồng hồ nấu nướng cho cậu con út cưng.
Cậu và mợ liếc nhìn ngầm hỏi ý nhau. Một lúc cậu hắng giọng, “Bỏ xuống đi cháu. Gần chân tường, đúng đấy.”
Tôi bỏ giỏ xuống.
“Hương này,” cậu nói tiếp. “Nói bà cẩn thận, cứ để cháu đi chứ đừng tự mình đến đây nhé.”
Tôi không trả lời, chỉ muốn đi cho khuất mắt.
MỘT TUẦN SAU, đi học về, cửa trước bị mở khóa, nghe thấy tiếng kính coong phía sau lưng, tôi quay lại thấy bác phát thư, đội mũ vàng, cưỡi xe đạp vai đeo túi, tay cầm bức thư.
“Đây là nhà bà Diệu Lan đúng không?” “Đúng bác ạ, bà cháu đấy.” Tôi trả lời. “Nhà có thư từ Sài Gòn đây.”
Tôi dựa xe vào cửa. “Sài gòn à bác?” Bác gật đầu, đưa tôi bức thư.
Tôi nhìn qua hàng chữ trên bì thư. “Ồ của dì Hạnh cháu. Có lá thư nào nữa không ạ?”
“Không có đâu, nhưng cứ để bác xem lại.” Bác phát thư lôi ra mấy chồng thư từ trong túi xem lại.
“Không có gì thêm đâu cháu.”
Tôi nhìn theo đến khi bác đi ra khỏi con hẻm, hy vọng bác nhớ ra có thêm một lá thư cho bà và tôi.
Lợn mẹ, lợn con, gà đói kêu òm sòm khi tôi mở cửa. Dì Hạnh vào Sài Gòn có lẽ để tìm bố tôi và cậu Đạt, chắc dì tìm ra rồi.
Tôi muốn biết nội dung bức thư nhưng lại sợ có điều không hay, phải đi tìm bà thôi.
Cho gà, lợn ăn xong, tôi đạp xe vội đến phố cổ. Quanh tôi, mùa thu đang chín rục. Ánh nắng vàng ươm đổ xuống từ bầu trời xanh, những chiếc lá vàng đỏ đung đưa lìa cành rơi xuống vệ đường, xào xạc dưới chân người.
Vào đến phố cổ, tôi đạp xe theo phố Hàng Gai đến phố Hàng Bạc, từ phố hàng Bông đến phố Hàng Hành rồi vòng sang phố Hàng Thuốc, phố Hàng Mã đến phố Hàng Tre. Bà đang ở đâu đấy trong ba mươi sáu phố phường. Ai đó đang hối hả, giấu mặt dưới chiếc nón lá tôi nhìn thấy đều có thể là bà.
Tim tôi như muốn nhảy khỏi lồng ngực, thấy hai tên bảo vệ, tay đeo băng đỏ. Tôi phanh thắng, tay ghì ghi đông, suýt chút nữa xe quay sang bên khi một tên chỉ tay về phía tôi. “Cô đó! Đến đây.”
Tôi xuống xe dẫn bộ xuống phía hắn. “Chào chú.” Tôi nín thở, hy vọng mặt không tái đi vì sợ.
“Cho xem giấy tờ,” Tên bảo vệ cao lớn thét lên từ phía trên.
Tôi mở túi xách, đưa cho hắn tờ giấy sở hữu chiếc xe cùng với giấy tờ tùy thân. Tên kia lùn, mập mạp xích lại gần nhìn vào. “Giàu nhỉ, cô em, xe cô em đứng tên.”
“Lấy đâu ra chiếc xe này hả?” Tên cao khều nhìn tôi từ trên xuống dưới.
“Bà cháu mua chú ạ.”
Tên lùn nháy mắt với tôi. “Đừng gọi tụi anh bằng chú.” Ánh mắt hắn dừng lại trên ngực tôi.
Tên cao khều nhướng mày. “Bà cô à? Lấy đâu ra tiền mà mua hử?” hắn lấy chân đá mạnh vào xe, chiếc xe rung lên tôi kịp giữ lại. Hệt như y đá vào bụng tôi.
“Bà cháu là cô giáo mà chú, bà làm việc vất vả lắm.” Tôi cố lấy giọng lịch sự, trong đầu lóe lên mấy động tác tự vệ Đá – Xỉa – Chặt.
“Này.” Gã lùn huých cùi chỏ ra hiệu bảo gã cao đến giải quyết người phụ nữ trung niên đang gò mình đạp xe. “Nếu không có giấy tờ mang tên chủ sở hữu, đồng chí cứ tịch thu, trường hợp này cứ để tôi.”
Gã cao bước ra đường lớn tiếng gọi người phụ nữ, còn gã lùn mập xem xét giấy tờ của tôi. Hắn dùng mấy ngón tay móng đen thui đầy cáu bẩn vuốt ve hình tôi trong tờ giấy. “Đẹp thật, ở ngoài còn đẹp hơn cả trong ảnh.”
“Chú à, cháu đi được chưa ạ? Cháu trễ học rồi ạ.”
“À đây, số 173 phố Khâm Thiên,” hắn đọc to địa chỉ rồi nhìn vào mắt tôi. “Tối nay ở nhà nhé. Anh sẽ đến thăm.”
“Sao lại đến thăm hả chú?”
“Đã bảo gọi bằng anh cơ mà,” hắn xì một tiếng, rồi hạ giọng. “Thì anh bỏ qua cho em. Tối đi chơi với anh bảo đảm an toàn.”
Tránh ánh mắt của hắn, tôi xếp giấy vào trong túi. Bình tĩnh nào, tôi tự nhủ, lặp lại lời bà dạy khi tôi đạp xe đi, hãy dồn tâm trí vào nội lực.
Tìm được con hẻm, tôi rẽ vào, chân dính đầy bùn làm tôi suýt trượt ngã. Tôi dừng xe gần một bà lão đang ngồi xổm trên vỉa hè trước mặt là chiếc rổ tre. “Chè xanh, chè xanh đây. Uống chè xanh đi cháu.” Bà mời tôi.
“Vâng cho cháu một chén nhưng đừng đậm lắm ạ.” Tôi kiểm tra chiếc xe, may mà cú đá lúc nãy không gây hư hại gì nhiều, tôi nắn lại chiếc bọc sên bằng sắt. “Khóa lại đi cháu.” Bà lão giở tấm vải che trên cái rổ rót ra một chén trà xanh bốc khói. “Thời buổi bây giờ trộm cắp như rươi.”
Bà đưa cho tôi chiếc ghế đòn và chén trà. Nhìn ánh mắt, tôi biết bà là người nhân hậu, đáng tin cậy. Cúi người về phía bà, tôi thì thào, “Cháu tên là Hương, cháu đang tìm bà ngoại. Bà cháu đang chạy chợ ở đây ạ.”
“Bà cháu tên gì?” bà lão cũng thì thào, rồi nói lớn lên “Để bà rót thêm nước cho nhé, trà đậm quá.”
“Vâng ạ,” tôi nói lớn theo, rồi hạ giọng “bà cháu tên Diệu Lan ạ.”
Bà lão nhìn tôi chăm chú rồi mời một người đi qua. “Trà xanh, trà xanh đây.” Tôi hớp một ngụm. Trà làm tôi phỏng hết cả miệng. “Bà cháu có đây không ạ? Chuyện gấp lắm,” tôi nằn nì.
“Trà xanh, trà xanh đây,” bà lớn tiếng rao, cầm chiếc nón ra chiều đang quạt để che miệng.
“Sao bà biết là cháu bà ấy?”
Tôi lục cặp lấy lá thư ra. “Đây thư dì cháu gởi đây ạ.”
Bà nhìn sơ qua. “Đợi đây nhé,” bà lão cầm chiếc rổ cắp ngang hông rồi biến mất vào con hẻm. Tôi uống xong chén trà, bà lão quay lại thu dọn đồ đạc.
Không cần bà nói gì, tôi đẩy xe đi theo. Phố Hàng Muối im lìm, bà lão chọn một góc đường, tôi ngồi đối diện.
“Ổi, có gì vậy cháu?”
Tôi quay sang thấy bà ngoại trán đầy vết nhăn.
Tôi đứng lên. “Có thư dì Hạnh bà ạ.”
Bà ngồi xuống, xé bao thư. Bà đọc vội rồi thở phào.
“Thư nói gì vậy bà?”
“Cháu đọc lớn cho bà Uyên cùng nghe luôn thể.”
“Đọc ở đây á bà?” Tôi nhìn quanh, mấy người đang đi bộ kế bên. Cách mấy căn nhà một người đàn ông đang hút thuốc lào, khói thuốc quyện trên đầu trước khi tan biến vào không khí.
“Có gì đâu nào, đọc đi cháu.” Bà duỗi chân hớp một ngụm trà. Tôi hắng giọng rồi đọc.
Kính gởi mẹ, chị Ngọc và cháu Hương.
Con xin lỗi vì không kịp cả báo cho gia đình biết việc con chuyển vào Sài Gòn. Anh Tuấn từ chiến trường trở về lại được cử vào Nam, lần này là để làm giám đốc nhà máy. Anh bảo mấy mẹ con đi theo, con vội bán đất bán nhà thu xếp mọi thứ. Con cùng với ông bà nội, hai cháu Thanh và Châu đi xe lửa hết ba ngày mới vào đến trong này. Thật ngỡ ngàng khi đến thành phố trước đây được gọi là Hòn Ngọc Viễn Đông mẹ ạ.
Con đồ chừng Sài Gòn giàu có nhưng thật ngoài sức tưởng tượng. Đường phố rộng như mấy đồng ruộng, nhà cửa cao hơn cả mấy cái cây cao nhất con từng thấy trong đời. Người dân ở đây ăn mặc rất đẹp, giọng nam của họ làm con cứ nghĩ mình là người nhà quê lên tỉnh.
Mẹ biết Sài Gòn đổi tên thành Thành Phố Hồ Chí Minh không? Chính quyền bảo mọi người dùng tên mới nhưng con cứ để hai tên, phòng xa vậy mà.
Nhìn chung, anh Tuấn bảo nhiều việc phải làm lắm. Ai làm việc cho Mỹ và chế độ cũ đều bị đi học tập cải tạo. Quân đội miền bắc tiếp quản thành phố này vào tháng tư năm 1975, nhiều người trốn ra nước ngoài bằng tàu bè và máy bay, bỏ
lại nhà cửa và tài sản. Gia đình con thuộc quân đội nên được phân cho một cái nhà hai tầng bị bỏ lại ấy, lớn như lâu đài mẹ ạ.
TÔI NHÌN BÀ. Hai đoạn kế bị bôi đen, như có ai dùng cọ lớn nhúng mực rồi bôi lên.
“Tiếp đi cháu, chỗ đó bị kiểm duyệt đấy,” bà giục. “Kiểm duyệt à bà?”
“Cháu nghĩ là dì làm đổ mực lên lá thư vậy sao? Dì viết cẩn thận lắm.” Bà ghé sát vào tai tôi. “Chính quyền xét thư, đoạn nào không thích họ bôi đen đi.”
“Ồ.” Tôi nhìn kỹ vào đoạn bị kiểm duyệt nhưng chịu không đọc được.
Con dạy học ở trường gần nhà, hai đứa nhỏ đi học lại. Nhiều thầy cô từ miền bắc vào, nhà trường dùng sách in từ ngoài ta. Nhiệm vụ của chúng con là quét sạch tàn dư chế độ cũ.
Mẹ à, chắc anh Đạt và anh Hoàng về lại rồi chứ. Có tin tức gì mẹ cho con biết ngay nhé. Cả anh Minh nữa. Con xin ơn trên phù hộ cho mấy anh. Con sẽ đi tìm mấy anh trong này.
Tôi cắn môi, vậy là không tin tức gì.
Chị Ngọc à, chị phải khỏe lên nhé. Em xin lỗi vì không ở bên chị lâu hơn trong lần thăm trước. Nhưng em muốn trở ra thăm chị một ngày không xa để cùng hàn huyên như thuở nào. Chị cần em làm gì cứ nói nhé.
Châu, Thanh đi học trở lại rồi mẹ ạ. Bà sẽ ngạc nhiên thấy chúng nó thuần thục bài quyền tự vệ con dạy và nhắc chúng nó tập, nhìn chúng nó múa võ con lại nhớ đến ngày xưa với thầy Văn. Mẹ giữ gìn sức khỏe đừng làm nhiều quá.
Hương này, cháu ngoan lắm, dì cám ơn cháu nhiều. Việc học hành sao rồi? Vẫn được học sinh giỏi của trường chứ? Nhớ viết thư cho dì nhé.
Mẹ, chị Ngọc và cái Hương à, con rất mong mọi người vào đây thăm con. Con sẽ đưa mọi người đi chơi chợ Bến Thành một ngày cho biết, ăn thử đồ ăn miền nam nữa. Thành phố đẹp lắm mẹ ơi.
Con xin kính thư. Hạnh
Bà lão bán trà khen dì Hạnh được việc trong miền Nam, nhưng bà tôi không thích mấy việc thay đổi dì nhắc đến trong thư như trại cải tạo và bỏ hết hệ thống giáo dục rất tốt vốn có từ trước.
Bà quyết định về nhà sớm với tôi. Bà dẫn đường, len lỏi qua mấy con hẻm bé xíu trong lòng phố cổ mới đến đường lớn, tôi ngập ngừng khi thấy cảnh mấy tên bảo vệ nắm tay một người đàn ông cố vùng ra, lôi tuột đi. Bà bảo tôi cứ đi.
Lúc bà dừng lại tôi nhận ra đang đứng trước cửa hiệu nổi tiếng. Đó là hiệu kem thơm ngon có tiếng bao đời nay. Không dám mơ đến chuyện bà cháu mua kem. Nhưng bà bảo muốn mua bao nhiêu que kem tùy thích. Tôi chọn ba loại: sô cô la, cốm và dừa. Bà tự mua cho mình hai que kem đậu xanh.
“Tìm chỗ nào hay hay đi cháu.” “Hồ Hoàn Kiếm được không bà?” “Cháu nói đúng ý bà đấy.”
Hồ nằm gần đấy. Mặt hồ như một tấm gương lớn. Tôi dắt xe theo con đường ngoằn ngoèo quanh hồ, qua những hố tránh bom cá nhân có nắp cỏ đã mọc lan lên.
“Bà ạ sao người kia bị mấy tên bảo vệ lôi kéo vậy?” Tôi hỏi.
“À, quần ống rộng quá. Bị phạt vì học theo kiểu hip pi phương tây.”
Bất giác tôi nhìn xuống ống quần, lạy trời may mà không rộng lắm.
“Chính quyền muốn khống chế hết người dân cháu ạ. Nhiều người bị bắt bỏ tù. Hứa là cháu cẩn thận nhé? Nếu có ai tìm cách tịch thu chiếc xe đạp thì cứ để họ lấy. Đừng cãi cọ xô xát làm gì.”
Tôi gật đầu, không biết phải làm sao khi tên bảo vệ kia đến nhà tìm tôi.
Hai bà cháu ngồi trên chiếc ghế đá công viên, dưới cây cổ thụ tàn lá vươn ra đến mặt hồ, mấy chiếc lá vàng lay động trong gió. Cách một quãng, giữa mặt hồ là Tháp Rùa tường rêu xanh, lấp lánh trong nắng chiều. Đỉnh tháp là hình mấy con rồng và phượng hoàng tung cánh sắp bay lên không trung. Trên cù lao cạnh bên tháp, Đền Ngọc Sơn nhô lên khỏi lùm cây mọc ken dày.
Thật may mắn, khu cổ kính này không bị bom làm hư hại.
Tôi nhìn xuống mặt nước, cầu nguyện thấy mấy cụ rùa. Hồi bé, bà thường kể rằng sự tích về Hồ Hoàn Kiếm. Cách đây mấy trăm năm, giặc Minh phương bắc xâm lấn bờ cõi nước ta, Trời ban cho người Việt thanh gươm báu. Một ngư phủ nghèo nhặt được cách Hà Nội mấy cây số, mang về dâng lên vua Lê Lợi. Nhà vua dùng thanh gươm đánh đuổi giặc ngoại xâm hùng mạnh. Giặc tan, vua bơi thuyền trên hồ này. Một con rùa lớn nổi lên nói tiếng người, yêu cầu nhà vua trả lại gươm. “Thiên hạ thái bình, không cần đến vũ khí nữa,” rùa nói. Quá ngạc nhiên, nhà vua đưa thanh gươm báu ra. Rùa ngậm lấy rồi lặn xuống nước. Từ đấy hồ có tên là Hoàn Kiếm – trả lại kiếm.
Không có sự thật nào đúng hơn sự tích ấy. Nếu cả người Mỹ và Việt Nam buông vũ khí, sẽ không còn ai phải thiệt mạng.
Mắt bà mơ màng. “Bà Uyên, bà bán trà, có lần thấy Cụ Rùa Già nổi lên ở hồ này. Khi về đến nhà, con dâu sanh đứa con trai.”
Bà tôi và mọi người gọi mấy con rùa ở hồ này kính cẩn là Cụ Rùa.
Tôi cắn một miếng kem. “Đúng đấy bà, bất kỳ ai gặp được Cụ Rùa trong hồ là có phước lắm, nhưng có bao nhiêu Cụ Rùa sống ở đây hở bà?”
“Không ai biết đâu cháu ạ. Hiếm lắm.”
Tôi đưa mắt nhìn sang Đền Ngọc Sơn. Bà và tôi đến đây không biết bao lần, cầu nguyện để gặp được Cụ Rùa. Cụ nặng 250 ký dài hơn hai mét. Theo mấy chuyên gia, phải sống đến 900 năm.
Tựa đầu vào vai bà, tôi thầm mong mình nói được lời xin lỗi vì đã có những lời bất kính. Từ nay trở đi, tôi tự nhủ, lễ phép với bà hơn.
Ánh chiều tà đổ những tia nắng như dát vàng xuống hai bà cháu đang đạp xe về nhà. Tới đầu con hẻm khu phố, tôi thấy cả đám đông trước nhà mình.
Xe chưa dừng hẳn, bà đã nhảy xuống. Bà vẹt đám đông, lách vào rồi mất hút trong đó.
“Không hiểu sao còn về nhà được đấy,” tiếng một người phụ nữ.
“May mắn còn sống đấy,” giọng một người đàn ông.
Chiếc xe đạp của tôi ngã ập xuống đất.
“Cho cháu qua nào.” Tôi lách vào đám đông hai tay mở đường. Tôi bị đẩy qua phải rồi qua trái, đầu chao đảo nhưng cố giữ hơi thở. Tôi nhích đến trước từng chút một, cuối cùng len gần đến khoảng trống nhỏ ngay tâm vòng tròn.
Còn sau vài người, nhón chân nhìn qua vai họ, đập vào mắt tôi là bà đang quỳ bên cạnh chiếc ghế sắt có hai bánh xe lớn. Bà ôm lấy người đang ngồi tựa lưng vào chiếc xe lăn.
“Bà” tôi gọi lớn. Mấy người đứng hàng đầu quay lại nhìn, họ lẩm bẩm rồi nhường chỗ cho tôi bước vào, có người kéo tôi xuống quỳ cạnh bà. Tôi chớp mắt và nhận ra gương mặt rất quen.
“Hương, bé Hương.” Giọng nói cất lên gọi tên tôi.
“Bố!” ánh sáng lóe lên quanh tôi, rồi tắt dần đi trong đường hầm tối đen, nuốt tôi vào lòng nó.
Tôi bồng bềnh như đang đi trên mây. Một đại dương xanh ngắt đu đưa giữa màn sương. Một đốm đen xuất hiện, lớn dần biến thành Cụ Rùa. Cụ bơi đến sát bên tôi, miệng mở ra. Tôi cố nói nhưng chỉ ú ớ. “Hương ạ” Cụ bảo, mắt sáng quắc, nước lấp lánh trên đầu. Cụ Rùa thở phì phò, lưỡi thè ra mát lạnh áp vào trán tôi. “Hương, Hương ơi!” ai đó gọi tôi từ xa xăm. Tôi cố cựa mình, sương dần tan đi. Cụ Rùa biến mất, tôi lại thấy mình đang ở nhà. Hóa ra đám mây là chiếc phản gỗ, lưỡi cụ là chiếc khăn ướt đắp trên trán.
“Ổi, cháu thấy đỡ chưa?” Bà hỏi. “Chuyện gì vậy bà?”
“Cháu bị ngất,” bà đang đút cho tôi mấy thìa nước đường.
Tôi nhớ lại, “bố!”
Đưa mắt nhìn quanh, ông ở đằng kia. Hai con mắt sâu hút, gương mặt hốc hác râu ria xồm xoàm trên làn da cằn cỗi, ông vận chiếc áo lính ngồi trên xe lăn. Hai mẩu chân cụt đầy sẹo nhô ra dưới chiếc quần cũng đã được cắt ngắn theo.
Ông mở miệng cười nhưng tôi lại khóc. Không phải bố mà là cậu Đạt.
“Hương,” cậu gọi tôi. “Cậu làm cháu sợ, xin lỗi nhé.”
Tôi lắc đầu, nước mắt rơi dài trên má.
Bà vuốt mặt tôi, “cháu làm bà sợ quá, Ổi à.”
“Cậu Đạt, cháu mừng lắm thấy cậu trở về.” Tôi cũng nói được mấy chữ. “Cậu cũng vui lắm, bé Ổi, nhưng cháu lớn lắm rồi đấy.”
“Chân cậu như vậy cháu buồn lắm,” tôi đưa mắt nhìn vào chỗ cụt. “Đau không cậu?”
“Hết đau rồi.” Cậu di chuyển đến gần tấm phản. Cậu cầm lấy tay tôi đập đập vào chiếc mỏm cụt. “Thấy không, cậu đâu có đau nữa đâu.” “Chuyện sao vậy con?” bà hỏi.
“Con giẫm phải mìn mẹ ạ, không có gì ghê gớm đâu.” Cậu nhún vai.
“Về được nhà là may rồi con.” Bà bóp chặt tay cậu.
Cậu cười với tôi. “Cậu có cái này cho cháu đây, cô nàng ạ. Cuối cùng cậu đã giữ được lời hứa giao tận tay người nhận.”
Mở chiếc túi áo trên ngực, cậu lấy ra một vật nhỏ đưa lên miệng hôn rồi lại ôm vào ngực và nhìn lên trời. Cậu nhắm mắt một lát trước khi quay về phía tôi, cái vật nhỏ đó nằm trọn trong lòng bàn tay cậu.
Tôi cầm lên, nhìn lớp bao phía ngoài màu đen bằng ny lông và giấy. “Ai gởi hả cậu?”
“Bố cháu.” Cậu cười rạng rỡ.
“Cậu gặp bố à.” Tôi ngồi thẳng người lên.
“Mấy năm trước rồi, để cậu xem…chính xác là bảy năm hai tháng. Lúc đó là tháng 8 năm 1968, cánh quân của cậu đang nam tiến.”
“Cậu có gặp lại bố cháu không? Cậu biết bố đang ở đâu không?”
“Không, nhưng bố cháu rồi sẽ về thôi trước cả khi mình biết chỗ của bố cháu ấy chứ.”
Tôi ngồi đó người như tê cứng, bà ôm lấy tôi. “Cháu không tính mở ra xem à?” Hai tay tôi run rẩy lần mở mấy lớp bao bên ngoài.
Một con chim bằng gỗ, khắc rất đẹp. Chú chim đứng trên chiếc bục vuông, cánh xòe ra, cổ vươn lên như chuẩn bị cất tiếng hót.
“Bố cháu làm đấy.” Cậu lại cười. “Chính con chim này đã hót cho cánh quân của cậu nghe khi phải hành quân hàng tháng trời để ra đến chiến trường.
“Nó có tên không cậu?” tôi đưa nó lên áp vào mặt, nghe thấy mùi mồ hôi và tiếng cười của bố nữa. “Sơn ca.”
“Tên đẹp thật.” Bà cười với tôi “Nghĩa là núi biết hát đấy cháu.”
“Tin cậu đi, khi chú chim này cất tiếng hát,” Cậu nói “núi rừng cũng cất tiếng theo. Đồng đội của cậu hay kể chuyện về chim sơn ca. Họ bảo tiếng hót của nó lên tận thiên đình, hồn người chết theo tiếng chim hót mà trở về.”
“Chim này đặc biệt cậu nhỉ.”
Cậu gật đầu, “con chim gỗ này theo cậu bảy năm qua, leo không biết bao cánh rừng, lội không biết bao con sông, xuống không biết bao hào sâu, mà không bị chết vì bom đạn.”
“Vậy nên trên người nó còn ghi dấu. Bà nhìn hai cánh chú chim. “Bố cháu rất khéo tay, bà không biết nó lại có chất nghệ sỹ đến vậy.”
“Cám ơn cậu nhé.”
“Không đâu cháu, người cám ơn phải là cậu. Nó đã cứu mạng cậu. Cậu hứa sẽ trao tận tay cháu nguyên vẹn. Cậu phải sống để hoàn thành sứ mạng,” cậu chỉ con chim “cháu có thấy dòng chữ dưới đế không?”
Tôi lật lên nước mắt lại ứa ra. Ngón tay tôi vuốt ve lời nhắn của bố: CON GÁI, CON LÀ MÁU NÓNG TRONG TIM CHA.
“Hãy trân quý con chim này nhé Hương,” cậu nói “Không còn bao nhiêu con đâu. Lúc đầu cậu gặp nhiều lắm. Nhưng rồi bom đạn, hóa chất do kẻ thủ rải xuống làm chim phải ngưng tiếng hót.”
“Hóa chất à?” Bà hỏi.
“Vâng, chúng ném rất nhiều vào núi rừng, làm cây trụi lá để dễ bề phát hiện bộ đội đang hành quân bên dưới. Chất độc đó giết chết cả những côn trùng bé nhỏ. Con không biết tên gọi của chất độc đó là gì cho đến khi hết chiến tranh. Cái tên rất đẹp: Hóa Chất Màu Da Cam.”
Chuẩn bị cơm tối xong, tôi đẩy chiếc xe lăn của cậu đến bên bàn. Bà và tôi nhìn nhau, cậu ngồi thấp quá.
“Hai bà cháu chuyển cậu lên đây thôi.” Bà kéo chiếc ghế. “Nếu hai bà cháu đủ sức thì được thôi.” Cậu pha trò. “Được mà.” Tôi bước sang phải, bà sang trái cậu.
“Nào giữ hai miếng thịt vô dụng này nhé.” Cậu ra hiệu về phía hai chiếc chân cụt đến đùi.
Bà luồn một tay vào chiếc chân cụt, một tay bà đỡ lưng cậu. Tôi làm theo, rùng mình khi chạm vào chỗ thịt mềm mềm đó.
“Một, hai, ba,” cả ba cùng đếm, cố nâng cậu lên. “Ô hô, cánh phụ nữ được việc ra phết.” Cậu vỗ tay.
“Đâu khó khăn gì đâu.” Tôi ngồi xuống, cầm chén của cậu lên.
“Khoan bới cơm đã cháu,” cậu đưa mắt nhìn quanh. “Ở nhà có chút rượu nào không mẹ?”
“Rượu á? Mẹ nhớ là con đâu uống đâu, Đạt.” “Mẹ ơi, đôi lúc nó giúp con giải sầu đấy.” “Không có con à.”
“À mà có trên kia kìa.” Cậu nhìn lên phía bàn thờ. “Bố, cậu Công cả Thuận nữa không phiền trách gì đâu khi con uống phần của mọi người.”
“Có ai uống rượu đâu con, nên mẹ không cúng.”
“Thôi vậy.” Mặt cậu bí xị “thế thì ăn thôi, không có tí con không ăn được.” “Chờ chút cậu.” Tôi đứng lên. “Bà Nhân chắc có đấy. Để cháu bước sang bên kia đường xem sao.”
Nhờ trời, người hàng xóm này luôn có ích trong mọi tình huống. Bà đưa cho tôi một chai rượu đế, khẽ thì thào “ông nấu đấy, đừng cho ai biết nhé.”
Tôi về đến, bà rót ra một chiếc ly nhỏ. Cậu chỉ làm một tợp là hết. Cậu chép môi. “Rượu ngon thế.” Cậu đưa chai lên mũi ngửi rót thêm ly nữa. “Cháu hỏi xem bà ấy mua ở đâu nhé.”
“Ông tự nấu lấy đấy cậu,” tôi buột miệng xong lại thấy ân hận ngay. “Ồ bà Nhân bảo cháu đừng cho ai biết.”
“Ừ thì bí mật,” cậu cười khúc khích, ngửa cổ uống cạn. Cậu nghiêng người về phía tôi “Cậu sẽ giữ bí mật với điều kiện bà Nhân chỉ cho cậu cách nấu.” Mùi hôi nồng từ miệng cậu làm tôi nhăn mặt.
“Thôi ăn đi kẻo nguội.” Bà gắp mấy miếng bò nướng than vào chén cậu.
Cậu nhai nuốt. “Ừmm miếng thịt sao thần thánh thế, lâu lắm rồi con không hề ăn miếng thịt nào.”
“Nhiều lắm ăn cho đã đi con.” Bà đẩy đĩa thịt gần phía cậu. Cậu gắp một miếng chấm vào muối tiêu chanh.
“Mẹ giỏi thật đấy.” Cậu nhìn quanh. “Nhà này, xe đạp, lợn sề, lợn con…” “Bà vất vả lắm đấy cậu.” Tôi nói.
“Lương nhà giáo của bà nhiều lắm à?” Cậu uống cạn thêm một ly.
“Ồ không, mẹ mà còn đi dạy, nhà ta giờ còn giật gấu vá vai chán.” Bà cầm lấy chai rượu rót thêm một ly cho cậu, “hôm nay uống vậy là đủ rồi con.” Bà đứng lên.
“Mẹ làm sao?” Cậu ngạc nhiên việc bà bỏ dạy đến nỗi không để ý đến bà đem chai rượu đi cất.
“Mẹ bây giờ là con buôn.” Bà với tay để chai rượu vào tủ trên bếp rồi đóng cửa lại.
“Mẹ, con còn uống mà,” cậu phản đối, nhưng bà quay lại bàn rồi. Bà múc rau vào chén cậu.
“Mẹ nhớ con rất thích món này lắm. Rau muống nấu với tôm khô.” Giọng bà nghẹn lại.
“Vâng, con nhớ chứ. Ngon lắm, cảm ơn mẹ.” Cậu cúi đầu. “Mẹ là con buôn à? Gan ra phết.”
“Để cứu cả nhà,” bà xới cơm vào bát.
“Bà đi buôn để cho cháu được đi học. Trong khi bạn cháu nhiều đứa phải thôi học đi làm.”
Cậu gật đầu. “Nhưng mẹ đi buôn ở đâu?”
“Trong khu phố cổ, được mấy năm rồi đấy con.”
“Mẹ thành dân chuyên nghiệp rồi.” Cậu uống nốt. “Mẹ mướn con làm phụ được không?”
“Đạt!”
“Con nói nghiêm túc đây. Con cần có việc làm. Thân con đây, chỉ thiếu hai chân thôi.”
Giọng cậu run lên nhưng nhanh chóng lấy lại bình tĩnh.
“Ừ mẹ cũng nghiêm túc,” bà vuốt tay cậu. “Con là sự sống của mẹ mà. Mẹ sẽ chăm sóc con. Mẹ hứa sẽ tìm việc cho con.”
“Cám ơn mẹ,” nói rồi cậu cầm đũa.
Bà xúc đồ ăn cho tôi rồi hỏi. “Kể cho mẹ nghe, sao con lại lâu về nhà vậy, bây giờ là tháng mười rồi cơ mà. Những sáu tháng mới về đến.” “Chuyện dài lắm, từ từ con sẽ kể, cho con thêm chút rượu đi mẹ.” Bà thở dài, tôi đồ chừng bà lắc đầu nhưng lại đứng lên.
Bà đặt chai xuống, “ăn đi rồi hãy uống con.”
BÀ NGỦ KẾ BÊN THỞ RÕ TO. Trí óc tôi vẫn còn vướng bận hình ảnh bố đang băng qua rừng, chim bướm ngã gục vì chất độc màu da cam, và con chim gỗ bố đang nép mình khắc cho tôi mang cả dòng chữ bên dưới chiếc đế: “con gái là dòng máu nóng trong tim bố.”