Những Ngọn Núi Biết Hát

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 37 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ông Thầy Bói

❊ ❊ ❊

Nghệ An 1930 – 1942

Ổi à, cháu có nhớ hai bà cháu hay lang thang trong phố cổ Hà Nội không? Hay dừng lại trước một ngôi nhà ở phố Hàng Gai đấy. Bà không quen biết ai ở đó cả, nhưng khi đứng trước nhà, nhìn xuyên qua cổng, mọi thứ bên trong đẹp biết bao. Mấy cánh cửa chạm trổ rất tinh vi với hình hoa lá và chim muông, những bức trướng sơn mài lấp lánh ánh nắng, mấy con rồng bằng sứ vươn lên từ chiếc mái diềm cong vút. Căn nhà gỗ năm gian cháu nhớ không, có sân lát gạch đỏ đấy.

Để bà nói cháu nghe nhé, sở dĩ bà hay dừng lại trước căn nhà đó vì trông giống căn nhà thời thơ ấu của bà ở Nghệ An. Đứng với cháu ở đấy, bà như đang nghe tiếng nói cười của cha mẹ, anh Công và cô Tú.

À, cháu hỏi bà chưa một lần nói đến chuyện bà có một người anh và một người cô. Bà kể ngay đây, nhưng cháu có muốn trước hết ghé thăm căn nhà tuổi thơ của bà không?

Phải đi mất ba trăm cây số từ Hà Nội cháu ạ. Theo quốc lộ qua các tỉnh Nam Định, Ninh Bình và Thanh Hóa rồi rẽ trái ngay ngôi chùa tên Phú Đinh, phải qua nhiều xã lắm mới đến Vĩnh Phúc, đó là một ngôi làng như mọi ngôi làng khác ở miền bắc Việt Nam. Tên làng đặc biệt đấy Ổi ạ, nghĩa là “có phước mãi mãi.”

Ở Vĩnh Phúc, ai cũng có thể dễ dàng dẫn cháu đến chiếc cổng nhà từ đường của hai bà cháu – đó là ngôi nhà của họ Trần. Họ sẽ đưa cháu theo đường làng, qua ngôi chùa có mái cong lên như những ngón tay của một người vũ công điêu luyện, mấy chiếc ao trẻ con và trâu đang tắm mát. Mùa hè, cháu sẽ ngẩn ngơ trước những cụm mây bằng hoa xoan tím, hoa gạo đỏ đong đưa như những chiếc thuyền đang cháy đỏ. Đến mùa gặt, cháu sẽ được chào đón bằng đường làng trải thảm rơm màu vàng rực.

Đến giữa làng, trước một ngôi nhà lớn bao quanh bằng một vườn cây ăn trái đủ loại. Nhìn qua cổng, cháu sẽ thấy ngôi nhà giống như cái hai bà cháu thấy ở phố

Hàng Gai, chỉ khác ở chỗ là lớn và đẹp hơn nhiều. Người dẫn đường sẽ hỏi cháu bà con thế nào với họ nhà Trần. Nếu kể cho họ nghe, Ổi ạ, họ sẽ ngạc nhiên lắm. Vì họ nhà Trần hoặc bị chết, bị giết hoặc mất tích. Bảy gia đình hiện trú trong ngôi nhà đó từ năm 1955, không có bà con gì với mình cả.

Cháu yêu ạ, đừng ngạc nhiên gì cả. Cháu có hiểu tại sao bà lại kể cho cháu nghe về gia đình mình không? Vì rằng nếu ta còn chuyện kể về ai đó, thì họ không chết dù rằng thân xác không còn hiện hữu trên quả đất này nữa.

Ngôi nhà của họ Trần là nơi bà sinh ra, lấy chồng rồi sinh mẹ Ngọc của cháu, cậu Đạt, cậu Thuận, cậu Sáng và dì Hạnh. Cháu không biết cậu Minh nhỉ? Con lớn nhất của bà đấy, bà thương nó nhiều lắm. Không biết nó còn sống không nữa. Nó bị người ta bắt đi mười bảy năm trước rồi bặt tăm từ đấy.

Bà sẽ kể cho cháu nghe chuyện xảy ra với cậu Minh sau, nhưng cứ để bà đưa cháu quay lại mùa hè tháng 5 năm 1930, lúc ấy bà mới lên mười.

Bà giật mình thức giấc vì tiếng động thùm thụp, ngay lúc giữa đêm, nghe nhịp nhàng, lanh canh ngân vang. Bà càu nhàu “giờ này mà ai làm ồn vậy không biết?” quay sang bà thấy cô Tú, là người giúp việc, đang ngáy đều đều cạnh bên, Tú nghĩa là ‘mỹ miều’ nhưng mới thoạt gặp cháu sẽ sợ ngay, một vết sẹo hình chữ chi từ mắt trái chạy dài đến miệng. Trên má phải, thịt đùn lại thành những nếp nhăn. Lúc sinh ra cô ấy không hề bị như vậy, nhiều năm trước lúc bà sinh ra, có một trận hỏa hoạn ngốn gần cả làng Vĩnh Phúc. Nhà cô ấy bị thiêu rụi, lấy đi chồng và hai người con trai, cô Tú tưởng cũng bỏ mạng. Bà cố của con mang cô ấy về thang thuốc, lúc lành bệnh cô muốn ở lại nhà ta, năm tháng qua đi cô thành người trong họ.

Mấy năm sau, Ổi à, chính cô là người cứu bà và mẹ cháu.

Sáng hôm ấy, vừa nhìn thấy cô ấy bà đã yên lòng, bà cám ơn cô vì đã sang ngủ chung với bà mấy hôm.

“Dậy, cô Tú, có tiếng gì đấy,” bà thì thào nhưng cô vẫn tiếp tục ngáy đều.

Tiếng động gấp gáp hơn. Bà ngáp, đứng lên, mò mẫm tìm đôi guốc gỗ. Bà ra khỏi buồng ngủ, lạch cạch đi dọc hành lang rồi chạy vội đến phòng lớn là chỗ nơi chứa thóc thu hoạch của gia đình. Bà cứ phải đưa hai tay ra trước để dò đường. Cẩn thận nhưng vẫn bị va đầu vào chiếc đàn nhị, làm nó bật lên tiếng kêu trầm trầm trên hai dây đàn, sao cái ông anh lại treo nó thấp vậy chứ, cứ như mấy bài nhạc rên rỉ cả ngày của anh ấy chưa đủ hay sao ấy. Qua khỏi phòng khách có chiếc đèn dầu trên bàn, tỏa ánh sáng đến bộ tràng kỷ sơn mài cẩn xà cừ. Đó là bộ ván để trên bốn chân rất cứng, ông cố hay ngồi tiếp khách. Mấy chiếc cột lớn bằng gỗ lim quý từ nền gạch cho đến trần nhà. Trên cao nữa là một chiếc đèn dầu khác chiếu vào mắt bà từ bàn thờ cả họ. Hai bức hoành phi sơn mài viết bài thơ Nôm – chữ viết cổ của người Việt.

Theo hướng tiếng động, bà ra đến sân trước. Dưới ánh trăng vằng vặc, ông cố đang đứng bên chiếc cối gỗ lớn để giã lúa. Gương mặt chữ điền và hai cánh tay gân guốc loang mồ hôi. Sao ông không sai gia nhân làm nhỉ.

Gần đấy, bà cố ngồi trên chiếc ghế nhỏ, đang sàng gạo. Hai tay bà thoăn thoắt tới lui đẩy trấu ra ngoài. Trông bà rất vui, nếu không có những hạt gạo rơi lả tả trước mặt, cháu sẽ nghĩ bà cố đang múa đấy.

Bà chợt nhớ ra truyền thống gia đình: ông bà cố có lệ tự tay chuẩn bị mẽ gạo đầu tiên của mùa gặt mới để dâng cúng tổ tiên. Mùa gặt mới bắt đầu hôm trước. Thành quả còn chất đống dưới cây nhãn.

“Bố, mẹ.” Bà chạy vội nhảy qua cả năm bậc thềm của hiên nhà xuống chiếc sân gạch.

“Bố mẹ làm con thức giấc à, Diệu Lan?” Ông cố với tay lấy khăn lau mặt. Côn trùng như đang hòa nhạc sau lưng ông. Từ góc vườn vang lên tiếng bò trâu nhốt trong chuồng, nhưng mấy chú gà vẫn đang yên giấc bên trong mấy cái lồng tre. “Mèo con à, ngủ lại đi con,” bà cố hay gọi bà như thế vì mê tín sợ ma quỷ nhòm ngó.

“À, xong mẽ gạo rồi đây.” Ông cố đổ gạo từ cối ra rổ tre. Bà giúp cha, mùi thơm gạo mới xộc vào tận phổi.

Bà đem rổ gạo đến cho bà cố, bà cố đang xem kỹ mấy hạt gạo trắng trên sàng trước khi trút vào trong hũ sứ.

“Thầy Thịnh dạy thế nào hả Diệu Lan?” Ông cố lên tiếng hỏi từ phía trên tiếng chày. Ông bận lắm, hai cha con ít có thì giờ nói chuyện.

“Thầy rất giỏi bố ạ.” Thầy Thịnh là người ông bà cố mướn để dạy cho bà và ông Công. Ngôi trường duy nhất trong huyện xa quá mà chỉ để dành cho mấy cậu con trai. Ông Công và bà đành học ở nhà. Ông cố đã xuống đến tận Hà Nội rước thầy Thịnh về. Ông đến nhà, mang cả xe trâu kéo đầy sách vở. Con gái làng phần lớn chỉ học nấu nướng, giặt giũ, vâng lời và làm việc đồng áng, bà lại học đọc học viết với ông giáo đi nhiều học rộng, nghe đâu ông đến tận nước Pháp. Bà thích những cuốn sách thầy cho. Thầy ở cùng gia đình, trong căn phòng phía tây.

“Bố rất vui thấy thầy dạy cả hai đứa tiếng Pháp,” ông cố nói

“Nhưng tại sao phải học thứ tiếng đó chứ.” Bà cố không đồng ý chút nào. Pháp đang đô hộ nước ta, bà thấy lính pháp đánh đập tá điền trong làng. Thi thoảng chúng vào cả nhà ông bà lục lọi tìm vũ khí. Trong tỉnh, tá điền và công nhân biểu tình chống bọn Pháp. Ông bà cố không dính dáng vào, vì ông bà sợ bạo loạn và tin rằng trước sau gì người Pháp phải trao trả lại nước ta mà không cần đổ máu.

Ông ngừng giã, hạ giọng nói. “Con biết bố rất ghét người nước ngoài. Chúng đến đây trên sáu mươi năm rồi, bóc lột bằng sưu thuế, giết chóc người vô tội. Nhưng cách duy nhất để đánh đuổi là phải hiểu chúng.”

“Vua Bảo Đại cũng làm vậy à? Ông học theo Pháp để giải phóng dân tộc đấy à?” Bà cố hỏi, tay giữ chiếc sàng cho bà đổ gạo vào.

“Ai cũng biết người Pháp biến Bảo Đại thành con rối. Tuyệt vời thật, cai trị dân thuộc địa bằng vua của họ.” Ông cố tiếp tục giã rồi trả lời.

Xong việc, một chú gà trống đã đập cánh trong chuồng cất tiếng gáy vui vẻ. Mấy chú gà trống khác lập tức phụ họa bản đồng ca gọi mặt trời thức dậy.

Trống chùa làng báo hiệu cuối canh năm, trời đã năm giờ sáng.

Cô Tú vội ra sân, cô kéo tay bà hỏi “Sao mèo con không ở trong giường?”

“Cô ơi cháu là nông dân bé mà.” Bà hít mùi thơm trầu cau tỏa ra từ quần áo cô

Tú.

Cô cười, quay sang bà cố. “Ồ xin lỗi chị nhé, em ngủ say quá.” “Có gì đâu cô, đêm qua cô làm việc muộn quá mà.”

Nhận lấy chiếc hũ bằng sứ đầy gạo lên tới miệng, cô vội mang vào bếp.

Chút ánh hồng nhô lên đằng cuối đường chân trời phía đông. Chim hót trên cành. Những tia nắng đầu ngày âm ỉ dưới chân trên đám trấu. Bà cầm lấy chổi gom những tia nắng thành đống.

Bà cố mang chiếc khay cho chồng đang ngồi trên bậc thềm. Bà cố rót trà ra mấy chiếc cốc bằng ngọc.

“Xin chào mọi người.”

Bà ngước lên thấy thầy Thịnh đang bước ra, đôi mắt ông như đang mỉm cười dưới hàng lông mày rậm đen. “Ồ, dậy sớm ở đây thích thật, không khí rất trong lành,” Thầy nói, hít một hơi dài khoan khoái.

Chốc nữa lớp học mới bắt đầu, thầy đầu chưa đội khăn đóng; mặc áo dài the đen và quần trắng.

Ông cố cười mời, “mời thầy xơi trà à.”

Ngồi xổm xuống cạnh ông bà cố, bà hớp một một ngụm trà trong chén của ông.

Vị đắng ở đầu lưỡi nhưng sau lại tạo vị thơm ngọt ở cổ.

“Thầy Thịnh này, tôi không biết gì Hà Nội…chắc là đẹp lắm.” Bà cố nói khi đưa tách trà cho thầy. Giống nhiều dân làng, bà cố chưa một lần đến thủ đô.

“Hà Nội à? Vâng, đặc biệt lắm. Cổ kính lắm, gần cả ngàn năm rồi đấy.” Mắt thầy đột nhiên mơ màng. “Gia đình tôi trong phố cổ, những con đường nhỏ len lỏi với những dãy nhà cũ nghiêng nghiêng. Nhưng phải nhớ hết ba mươi sáu phố phường mới gọi là biết phố cổ Hà Nội. Mỗi phố có sức sống riêng – Phố Hàng Gai, Phố Hàng Bạc, Phố Hàng Thiết, Phố Hàng Tre, Phố Hàng Than, Phố Hàng Muối, Phố Hàng Mã, Phố Hàng Bông, Phố Hàng Thuốc…”

Mắt bà mở to khi nghe thầy kể hết các tên từ trong trí nhớ. Thầy lại kể tiếp gia đình thầy ở Phố Hàng Bạc. Cha thầy là thợ bạc, ông muốn thầy theo nghiệp của gia đình. “Nhưng nếp sống bận rộn của thị thành không hợp với tôi. May mắn có cậu Vượng, em tôi gánh vác việc ấy. Tôi chỉ muốn sống đời nông thôn, gõ đầu trẻ.” Thầy cười nhìn bà.

Bà nghĩ cha mẹ thầy rất thông minh đặt tên hai người con là Thịnh và Vượng, hợp hai tên lại có nghĩa là phát đạt. Nghe thầy kể về Hà Nội và gia đình, bà gắng nhớ từng chữ mà không hề biết rằng chính nhờ vậy mà hai mươi lăm năm sau đã cứu sống bà.

“Con chào bố mẹ, con chào thầy.”

Bà quay sang thấy ông Công đang đứng trên bậc cửa, ngáp, ưỡn ẹo như con mèo. Lớn hơn bà hai tuổi, ông Công cao lớn da rám nắng vì suốt ngày chơi với trẻ con trong làng cưỡi trâu, đánh trổng.

“Sớm thế con?” Thầy nhắp một ngụm trà hỏi.

“Vâng thưa thầy. Con muốn học khi đầu óc còn minh mẫn ạ.”

Có công mài sắt có ngày nên kim,” thầy cười nói. À câu tục ngữ này bà nghe hoài. Nghe thêm lần nữa vào lúc đó bà chẳng vui gì. Lúc học, ông Công làm việc siêng hơn bà nhiều, đầu óc giỏi hơn bà. Ông nhớ hết những chữ tiếng Việt khó hiểu, chữ Pháp, chữ Hoa, ông không cần cả bàn tính khi làm toán.

Như để giải cứu cho bà, một nhóm chín người đàn ông đến trước cổng nhà. Bọn họ mặc áo nâu quần đen, tay cầm liềm, đầu đội nón lá. Họ là những người làm công đã nhiều năm cho ông bà cố.

“Mời các bác xơi trà đã ạ,” ông cố lên tiếng.

Ông Công và bà vào nhà lấy thêm tách.

Hai anh em xắn quần lên làm việc nhà. Ở cái điền trang do ông nội của bà để lại này, ông Công có nhiệm vụ cho heo ăn còn bà cho gà ăn. Ông bà cố luôn dạy rằng niềm vui lớn lao của nông dân là được tự mình nuôi trồng.

Bà mãi chơi với mấy con gà con cho đến lúc bà cố gọi vào. Trên tay bà cố là một mâm đầy ứ thức ăn vừa mới lấy trên bàn thờ xuống mang ra hiên, theo sau là cô Tú thêm một mâm nữa.

Quây quần bên gia đình, bà giữ vị ngọt của hạt cơm đầu mùa trong miệng. Thầy Thịnh và chín người tá điền gật gù khen tài nấu nướng của cô Tú và bà cố.

Sau buổi cơm sáng, ông cố ra đồng cùng với vài tá điền. Bà cố ở lại với số tá điền còn lại làm việc trong sân. Bà cố giục bà đi ngủ lại nhưng bà ngồi vào bàn mở tập ra. Theo thời khóa biểu, thầy dạy ông Công buổi sáng, bà buổi chiều, bà vẫn muốn được thầy khen giỏi hơn ông Công.

Bên ngoài cửa, gió mát. Ánh nắng đổ những dát vàng và bạc trên những chiếc lá đang lay động. Qua hàng rào dâm bụt phân cách nhà với đường làng, bà thấy một ông lão lưng gù xuống.

Ông đang lê bước, tay chống gậy. Chiếc vạt áo dài màu trắng phất phới như đôi cánh bướm. Chiếu khăn đóng màu đen trên mái tóc bạc trắng. À ông Túc, một người thầy bói nổi tiếng trong làng.

Như đám bạn của mình, bà vừa sợ vừa phục ông lão này. Bà hay đứng trước cổng nhà ông xem đám đông từ phương xa đến nhà ông xem bói. Người bước ra khỏi nhà ông vui sướng như phát điên, kẻ đi ra nước mắt giọt ngắn giọt dài. Nhiều người thán phục ông Túc, nhưng không ai biết ông học ở đâu tài đoán thời vận. Có người rỉ tai nhau, lúc lên bảy ông Túc đi bơi trong một ao làng bị Thủy Quái nắm chân lôi xuống bùn tính dìm chết, bạn cùng đi bơi không biết ông mất tích cho đến khi một cột nước phun lên cả cậu bé đang huơ tay múa chân đấm đá. Chúng bạn ngạc nhiên thấy ông rơi xuống mặt nước trở lại rồi bơi vào bờ. Cậu trên đường về nhà, nhiều người chận hỏi đánh nhau với Thủy Quái ra sao. Sau chuyện đó, người ta tập trung nghe ông bói.

Giờ này ông làm gì ở đây nhỉ, bỏ hết khách ở nhà không tiếp hay sao?

Bà nhoài người nhảy qua cửa sổ vào trong vườn. Mấy chú cào cào búng lên đập cánh vào bắp chân bà. Cúi xuống thật thấp, bà nhìn thấy ông bước vào cổng. “Chào ông Túc,” Tiếng bà cố chào vui vẻ.

“Chào bà, bận ghê nhỉ! Vụ này thu hoạch thế nào bà nhể?”

“Cũng tạm ông ạ. Chí ít lúc không bị hư hại vì mưa bão như năm ngoái.” Bà cố đặt chiếc rổ xuống, đỡ tay ông Túc bước qua mảnh sân đầy đồ.

Tò mò muốn biết lý do ông Túc đến đây, bà lẻn vào phòng khách ngồi trên chiếc phản gỗ sau lưng ông lão. Tách trà bà cố rót cho ông Túc nghi ngút khói.

“Cám ơn ông quá bộ sang đây ạ. Công việc ngày một nhiều, nhà cần thêm một nhà kho lớn nữa. Có lẽ ngay vườn đằng trước.” Bà cố tự rót cho mình một tách trà. “Ông xem chỗ đó có tốt không?”

Ngay lúc ấy có con gì chạy ngay trước mặt bà. “Ahh!” bà nhảy khỏi chiếc phản.

“Gì vậy bà?” ông lão nheo mắt hỏi bà cố.

“Con chuột lớn ông ạ” con vật chạy mất bà vẫn phóng đến bên bà cố.

Bà cố cười. “Mèo con ạ, mùa gặt làm chúng động ổ, xong mùa chúng về tổ thôi.”

Ông thầy bói đột nhiên thẳng lưng. “Con bé này là ai thế bà Trần?” Ông nhìn bà khắp lượt.

“Cháu Diệu Lan, con tôi đấy ông ạ.”

Bà khoanh tay lễ phép chào ông Túc.

“Đến đây con.” Ông lão nhướng mày bảo bà. “Con ngồi xuống đây, có gì đó rất lạ, đưa tay đây ta xem. Xòe lớn ra, giữ yên xem nào.”

Bà làm theo, bà vui lắm. Bọn bạn ghen tị cho xem, ông Túc xem tương lai cho tớ nhé.

Ông lão dựa người vào ghế bành có hai tay chạm đầu rồng. Ông nheo mắt xem xét kỹ lưỡng mấy đường chỉ tay của bà. Đột nhiên ông trố mắt như thảng thốt. “Ông à, chỉ tay của cháu sao thế?” bà cố cầm chiếc quạt giấy khẽ quạt cho ông thầy bói và bà.

“Gượm đã nào.” Ông nâng hai tay của bà lên gần mắt. Ông nhìn kỹ mấy đường chỉ tay, lấy ngón trỏ di di vào làm bà nhột suýt nữa phá lên cười.

Bà cố rót thêm trà.

“Sao ạ?” Bà cố hỏi khi ông ngước lên.

“Bà Trần à, chắc bà không muốn nghe đâu.”

“Dạ sao lại không ạ?” Bà cố nói tay còn giữ bình trà đang nhấc lên. “Bà không biết thì tốt hơn đấy.”

“Tôi càng muốn biết đấy ông.” Bà cố cúi người đến trước trán nhăn lại chờ đợi.

Ông lão quan sát mặt bà, nhìn xuống xương sống “Vâng, nếu bà muốn biết… cháu đây sau khó khăn lắm. Giàu sang được một thời gian thôi rồi mất tất cả mà thành ăn mày, lang thang ở một thành phố lớn đấy.”

Chiếc bình rơi khỏi tay bà cố, trà nóng bị đổ ra bốc khói lên từ sàn nhà.

“Mẹ!” bà lao đến.

Bà cố tránh những mảnh vỡ, kéo bà vào. “Ông chắc chứ ông Túc?” “Xin lỗi bà tôi nói những gì chỉ tay hiện ra.”

Bà cố ôm lấy vai bà.

Bà cố không bao giờ gặp lại ông Túc. Bà cũng không được bén mảng đến nhà ông lão nữa. Lời tiên đoán của ông quá khủng khiếp, bà cố kín đáo đưa bà đi không biết bao nhiêu đền chùa cầu nguyện xin lộc. Nhìn bà cố đốt tiền vàng mã cúng cô hồn, cúng cả heo quay cho những kẻ khuất mặt khuất mày. Bà oán ông lão lắm.

Hai năm sau, bà được mười hai, ông Túc mất vì già yếu. Đám tang ông to nhất làng. Rất nhiều người từ nơi xa về tỏ lòng thành kính với người quá cố. Họ kể lời tiên đoán ông nói ứng nghiệm ra sao.

Bà vẫn không hiểu được làm sao ứng nghiệm cho bà được chứ. Sao lại thành ăn mày được. Gia đình bà vào loại giàu nhất làng cơ mà. Trâu bò đầy chuồng, lúa ngô đầy đồng, ông cố cho xe trâu kéo nông sản lên Hà Nội, bán cho những nhà hàng sang trọng rất lời. Đêm đến, nghe tiếng lạch cạch bàn tính, bà biết nhà ta có nhiều tiền lắm. Dù trả tất cả các thứ thuế khóa cho Pháp và vua chúa, nhưng ông bà cố làm việc rất cần mẫn.

Lời tiên đoán của ông Túc dần phai đi như một giọt mực hòa tan trong ao nước lớn, bà vẫn là cô gái vô lo. Bà cùng đám bạn chạy nhảy trên đồng, đuổi bắt cào cào, châu chấu, khám phá mấy con sông, đầm lầy, vườn tược rồi đến trèo cây xem chim nở trong tổ. Có khi cùng cả nhà lên xe trâu kéo đi chợ cuối tuần đầy sắc màu hay rừng Nam Đàn, ở đó ông Công và bà tung tăng trong khoảng không xanh mướt. Ổi à, nếu nhắm mắt lại, hít một hơi sâu bà có thể ngửi được vị ngọt của sim tím của ổi rừng vàng rộm hay vị đắng của quả tre.

Có khi ông cố đưa cả nhà đi xa hơn, thấy được những cánh đồng lúa trải dài như những tấm thảm bằng lụa, điểm cánh cò, sông Lam lấp lánh trong nắng và dãy Trường Sơn vươn vai như những con rồng sắp bay lên. Thời niên thiếu của bà giống mà cũng không giống mọi người.

Bà học chăm lắm. Thầy Thịnh ở với gia đình đến năm năm, thầy thành bạn thân của ông cố. Đêm đêm hai ông ngồi dưới mái hiên uống trà làm thơ. Ca dao đã ăn sâu vào ông từ lời ru của mẹ. Như đa phần nông dân, ông cố cho rằng làm thơ tự nhiên như cày ruộng.

Bạn gái của bà lấy chồng do mẹ cha sắp đặt. Tuổi mười ba, cô bạn tên Hồng của bà lấy chồng, một người gấp đôi tuổi cô ấy. Bị chết vợ, người ấy muốn có một người lo việc đồng áng. Thời đó, Ổi ạ, phụ nữ là để làm việc.

Ông bà cố lại giáo dục bà khác đi, luôn khuyên khích bà tự lập và dám nói lên suy nghĩ của mình. Ông bà cố ủng hộ khi bà không chịu nhuộm răng đen. Hồi đấy răng đen rất cần cho phụ nữ. Những người để răng trắng bị xem thiếu đoan trang. Thấy mấy cô bạn đau đớn bà sợ lắm, họ phải dùng nước cốt chanh làm mềm răng rồi nhuộm đen bằng thuốc. Qua mấy cuốn sách của thầy Thịnh bà có cái nhìn khác về cái đẹp.

Theo lệ, con trai lớn sẽ kế tục công việc của gia đình, nhưng ông Công lại muốn bà phụ một tay. Mấy người lớn tuổi trong làng thường bảo nếu thực dân Pháp không bỏ lối thi tuyển của triều đình nhất định ông Công sẽ thi đổ và làm quan mang vinh quang về cho làng, ông không thích làm quan mà chỉ yêu đồng lúa, ông yêu cô gái tên Trinh, con gái của ông trưởng thôn. Hai người cưới nhau khi cô ấy chỉ mười sáu, cô Trinh thành chị của bà, lúc nào bà cũng mong có người chị như thế.

Trong làng có người chịu trách nhiệm thu thuế cho thực dân Pháp. Người ta quen gọi y là con ma độc ác, hắn có gương mặt bự thịt, đôi mắt ti hí với cái đầu hói nhẵn thín bóng loáng. Ai cũng chết khiếp khi thấy hắn với chiếc roi mây. Người nào nộp thuế không đúng hạn sẽ bị hắn đánh rồi tịch thu hết tài sản để trừ nợ. Y đánh cả vợ con. Bà tránh không bao giờ nhìn vào mặt y. Bà không thể ngờ có ngày lại phải đối diện với hắn.

Năm mười sáu, bà gặp một cậu con trai tên Hùng, ông bà cố biết gia đình cậu ấy rất rõ trong nhiều năm. Sau khi hoàn tất việc học ở Hà Nội, Hùng trở về làng và dạy học ở trường mới của huyện.

Mãi tới khi gặp Hùng, bà rất ghét bọn con trai. Bà chỉ thích ăn hiếp chúng nó như vẫn thường làm với ông Công. Nên cháu cứ nghĩ là biết ngay lần đầu cậu ấy đến thăm gia đình bà, Hùng đã phản ứng thế nào. Bà và cậu ấy cãi nhau.

Vậy đấy, hai người cãi nhau.

“Lan không thấy phải tống khứ thực dân Pháp khỏi đây sao?” Hùng nổi cáu với bà. “Phải ngưng ngay việc bắn giết dân ta đi chứ!”

“Hùng không nghe sao?” Bà phản công “họ đã hứa trao trả lại độc lập, nếu kiên nhẫn chờ vài năm nữa chúng ta thu lại giang san mà không cần phải đổ máu.” “Ừ, cô tin tưởng quá vào bọn nước ngoài rồi đấy. Chúng nói ngon ngọt rồi lại nuốt lời ngay.” Hùng tiếp tục nói thực dân Pháp cố tình để cho Việt Nam lạc hậu, đói nghèo. Chúng đã tận thu tài nguyên để mang về chính quốc. Chúng dùng thuốc phiện ru ngủ ý chí. Không đời nào chúng để chúng ta tự do.

Càng nói bà càng ngạc nhiên. Mấy tên đàn ông ngoài gia đình này ra lại chẳng đếm xỉa đến ý kiến phụ nữ như vậy, cho rằng họ chỉ nói những điều nhảm nhí, “Đàn bà đái không qua ngọn cỏ”. Nên khi cậu Hùng nhìn vào mắt bà nói không đồng ý, bà thấy cậu ấy mới thông thái, đẹp trai làm sao. Mắt Hùng toát ra niềm vui, môi cong lên như mặt trăng khuyết.

Bà yêu ông của con như vậy đấy. Bà thấy được tình yêu của ông qua từng ngày, nhìn cháu xem Ổi ạ. Cháu có mắt, mũi và nụ cười rất giống ông. Có khi đang nói chuyện với cháu bà cứ nghĩ mình đang nói chuyện với ông.

Rồi ông bà làm đám cưới vào năm đó, năm sửu, 1937. Theo yêu cầu của ông bà cố, cậu Hùng không theo lệ thường mà đến ở rể. Con đầu của bà là cậu Minh, sinh năm 1938, hai năm sau đến mẹ Ngọc của Ổi, rồi cậu Đạt năm 1941.

Nào, giờ quay lại những năm tháng hạnh phúc nhất đời bà nhé. Bà nghĩ hạnh phúc nằm sâu trong da thịt, không ai có thể lấy đi được. Một ngày mùa đông năm 1942, cuộc đời bà thay đổi.

Bà nhớ như in hôm ấy, từ cái thời khắc bà cúi xuống nhìn các con, ngọn đèn trong tay chiếu ánh sáng lung linh lên mặt mấy đứa nhỏ. Cậu Minh, bốn tuổi, hai tay ôm lấy cậu Đạt, một tuổi. Cả hai đạp tung cả tấm chăn dày ra.

Trên chiếc giường hồi bé của bà, mẹ Ngọc nằm đàng xa đang mớ ngủ. Ổi à, cháu thấy đấy, giờ mẹ đẹp lắm nhưng không ăn thua gì so với hồi còn bé – da mịn như thoa sữa, lông mi dài, môi như cánh hồng. Trong tấm chăn lụa, mẹ Ngọc như bước ra từ chiếc kén trong truyện cổ tích.

“Mẹ nhớ mấy con lắm,” bà thì thào. Vài giờ nữa thôi bà phải xa chúng nó để đi Hà Nội đến mười hai ngày. Bà muốn bồng lên ôm thật chặt. Nhưng bà chỉ kéo chăn đắp cho từng đứa rồi nhẹ nhàng đi ra, cơn mưa đông ngoài kia như đang giội nước xuống mái nhà.

Ánh sáng lập lòe của chiếc đèn đưa bà về lại phòng ngủ, căn phòng trước đó là nhà kho.

“Diệu Lan, em dậy rồi à?” có tiếng gọi nhỏ. Ồ bà làm ông thức giấc rồi.

Bà thổi tắt đèn rồi trườn nhẹ vào giường.

“Mấy giờ em đi?” Cằm ông sát bên mặt bà. Ông kéo tấm chăn ấm đắp cho bà.

“Đầu canh năm mình ạ.” Khoảng ba giờ sáng.

“Giá như anh đi thay em được nhỉ. Phụ nữ không nên ra đường như vậy.” “Đừng vớ vẩn vậy anh.” Bà xua đi ý nghĩ của ông bằng tiếng cười lặng lẽ. “Bố và anh Công chăm sóc cho em mà, với lại em phải tỏ lòng thành kính với thầy Thịnh nữa chứ.”

Đi Hà Nội lần này, bà còn ghé thăm người thầy dạy học cho bà lúc bé. Thầy đang bị bệnh, nhà thầy ở phố Hàng Bạc. Đây là cơ hội cho bà đỡ đần ông cố. Làm ăn lúc này không còn dễ như trước. Thế Chiến Thứ Hai đang lan rộng, quân Nhật xâm lược Việt nam. Chúng cai trị thông qua thực dân Pháp, sưu thêm cao thuế thêm nặng.

“Đường ra Hà Nội xa lắm đấy em,” ông nài nỉ. “Anh kể em nghe rồi đấy, một thầy giáo ở trường anh nghe những chuyện lính Nhật cướp phá làng mạc phía bắc, tấn công thường dân.”

“Ồ chỉ là tin đồn thôi mà anh.”

“Có thể là thật đấy, cuộc chiến điên rồ này làm bọn Nhật có thêm quyền hành.” “Anh lo quá.” Bà kéo tấm chăn đắp lên tay cho ông. “Em nói với anh nhiều lần rồi, bố biết đường đi nước bước hết mà,” bà lại nhắc ông những chuyện đồn đại ở tận biên giới với Trung Quốc đâu có gần chỗ bà sắp đến.

“Hứa là em phải cẩn thận đấy.” Ông nài thêm.

Ông nên quá lo lắng chuyến đi làm gì. Người Nhật, qua làn sóng ra đi ô, nói rằng người châu Á phải biết yêu thương người châu Á, họ đến đây không phải để đánh nhau, họ đến là để giúp Việt Nam giành độc lập. Chính mắt bà nhìn thấy mấy người lính Nhật rất lịch sự. Một nhóm quân Nhật đi qua làng. Nhìn quân phục màu nâu, giày ống sáng bóng, kiếm đung đưa bên mình, thoạt đầu bà rất sợ, nhưng thật tình khi họ gõ cửa hỏi bà cố mượn sân trước làm nơi ăn trưa, họ là những thanh niên nói năng lịch sự. Mấy người lính chơi với trẻ con, đá cầu lông, cười nói không khác gì trai Việt Nam.

Rồi bà ngủ thiếp đi, một lát sau giật mình thức dậy vì mấy tiếng thì thào, tiếng bước chân vội vã và tiếng chân trâu nện vào nền sân gạch. Bà mò mẫm trong bóng tối lấy túi đồ để cạnh cửa buồng rồi lách người ra ngoài.

Dưới hiên, ba ngọn đèn dầu cháy sáng. Ông bà cố, ông Công cùng vợ là bà Trinh và cô Tú đang chất mấy bao khoai lên chiếc xe kéo. Chiếc xe kéo có bánh lớn, khung gỗ, nóc phên che bên trên đan bằng lá cọ.

Ngoài trời mưa, hai con trâu đang nhai cỏ, mấy cái sừng lớn cong vút trên đầu. Vội chạy đến giúp mọi người, bà đụng đầu gối vào thành xe suýt té xuống sân. “Nè coi chừng,” ông Công chụp lấy tay bà.

“Cô có sao không?” bà Trinh hỏi, tay đang ôm bao khoai.

“Dạ còn ngái ngủ,” bà ngượng ngùng đáp lời.

“Có gì đâu Diệu Lan, tối qua cho Đạt bú đến khuya,” Cô Tú đưa bao khoai cho ông cố đang đứng bên cạnh xe.

“Nhân chuyến đi này cai sữa cho cu Đạt luôn.” Bà cố đang cúi xuống bê một bao lên. “Nó mười ba tháng rồi đấy.”

Ý nghĩ cho cậu Đạt bú làm bà nao nao. Ngực bà đang căng sữa. “Nó không muốn cai đâu,” bà buột miệng nói.

“Bố biết nó giống ai đấy,” ông cố cười, “bố bú bà cho đến bốn tuổi. Bà tìm đủ cách cai sữa mà không được. Cho đến một hôm…”

“Rồi sao bố?” ông Công hỏi.

“Bà ăn mấy trái ớt mắt chim hái trong vườn nhà. Trái đỏ rất cay. Sữa cũng cay theo, bố bú xong không bao giờ đến gần nữa.”

Mọi người cười phá lên dưới hiên nhà, hơi đất xông lên ngào ngạt dưới mưa. “Khe khẽ thôi, hàng xóm lại nghĩ cả nhà điên đấy, sáng sớm giờ này mà cười nói um sùm,” cô Tú cố nhịn tiếng cười bật ra giữa hàm răng đen.

“Họ cũng muốn được điên như mình mà,” bà Trinh đang cầm cây chổi lớn quét nhà.

Bà đắc ý lắm.

Mưa chuyển nhẹ hạt. Mấy bao khoai nằm ngay ngắn trong xe, bà và ông Công che thêm mấy tấm phên lá cọ quanh vách xe, bên trong ấm cúng thoải mái. Đường đến Hà Nội mất năm ngày đêm, phải phòng khi gặp thêm mưa gió. Khoai bán cho nhà hàng loại sang phải chất lượng hảo hạng. Ông cố rất khôn ngoan nên cho nhập mấy giống khoai tây từ châu Âu mấy năm trước, ông cũng không ngờ đó là nguồn lợi cho gia đình.

Ông cố và ông Công cho thêm tấm ván phía trên mấy bao khoai, bà và bà Trinh lót tấm lá cọ dày thế là thành sàn xe. Đôi trâu được kéo ra buộc vào ách.

Cô Tú cho vào xe mấy chiếc giỏ mây đầy thức ăn và nước uống. Bà cố nhét vào túi bà chiếc bao thư rồi nói “gởi thầy Thịnh chút tiền thuốc thang nhé con.” Tiếng trống đền làng xuyên qua bóng đêm, vang vọng như những đợt sóng, đến giờ lên đường.

Lúc bà quảy chiếc túi đồ, bỗng có người kéo lại, cháu đoán ra được ai không

Ổi? Ông ngoại cháu đấy.

“Anh cứ ngủ đi.” Bà cười.

“Phải tiễn em đi chứ,” ông thì thào bên tai bà.

Bà cố đang mặc áo mưa cho ông cố, chiếc áo mua tận Hà Nội, bà đội thêm cho ông chiếc nón lá.

“Đi thôi.” Ông cố lên tiếng từ phía trước xe.

Bà cố nắm lấy tay bà, “đi đường cẩn thận nghen con,”

“Cô nấu nhiều cháo cho cu Đạt, nó ăn khỏe thế.” Cô Tú nói.

“Kể chuyện cổ tích cho nghe mới chịu ngủ đấy,” Bà Trinh tiếp lời.

Đôi trâu đủng đỉnh bước đi, bà còn nhoài người ra khỏi xe nói qua làn mưa “con về sẽ kể chuyện Hà Nội cho cả nhà nghe.”

Ra đến đường làng gập ghềnh, mấy bánh xe lội bùn kêu ì ọp. “Ngủ chút đi các con.” Giọng ông cố xuyên qua mấy tấm cót.

“Bố gọi cho con lúc nào muốn đổi chỗ nhé,” rồi ông Công quay sang bà, “hai chị em ngủ đi.”

Bà nằm xuống chiếc xe theo nhịp xóc đung đưa, bà nằm xuống nhưng không ngủ được, mãi suy nghĩ ông cố lạnh lẽo ngồi ngoài kia.

Lần tìm chiếc áo mưa, nhấc mấy tấm cót lên, bà nhìn thấy bộ lưng chắc nịch hai con trâu đang bước. Một tia sáng lóe lên trước đầu xe, cho thấy xe đang trên con đường rộng hơn.

Bà nắm lấy bàn tay ông cố, bàn tay ấy đang cầm sợi dây thừng hai bên mình con trâu kéo tận đến lỗ mũi bị xỏ, tay kia ông đang giữ chiếc đèn pin mua từ Hà Nội. Ánh sáng từ chiếc đèn rất ổn, bà nhận ra khi ngồi xuống bên cha.

“Bố để con cầm đèn cho.” Bà nói, mấy hạt mưa nhỏ lạnh buốt như vỗ nhẹ lên mặt.

“Con muốn cầm cương không?”

Trong bà bỗng thấy ngạc nhiên, trước giờ bà đâu dám lái xe trâu vì mọi người xem phụ nữ cơ thể không sạch sẽ vì có kinh nguyệt. Có lần bà thấy có người đánh đứa con gái vì leo lên chỗ ngồi của người cầm lái, người cha tin rằng cô gái mang đến xui xẻo có thể xe sẽ bị tai nạn.

“Không khó đâu.” Ông cố đưa cho bà sợi dây. “Kéo mạnh về sau nếu con muốn ngừng xe. Kéo sang trái nếu con muốn rẽ trái, vậy đó. Còn thì cứ để lỏng tay.” Bà giữ chặt dây rồi kéo mạnh về phía sau, lâng lâng có cảm giác là người quan trọng.

“Tốt đấy con gái.” Ông soi đèn trên đường. “Con có thấy cái ổ gà kia không? Cho xe tránh nó đi, vậy vậy, giỏi lắm.”

Ông cúi đến trước lấy chiếc nón lá đội cho bà. “Không, bố đội đi”

“Bị bệnh đấy con, đi vầy ai lo chứ?” Ông cột lại dải lụa cho sát cằm bà.

Bà lái vào con đường mặt đầy vết hằn của bánh xe trước khi nhập vào quốc lộ. Ông cố giải thích rằng đường xá hay gọi là Đường Cái Quan, do vua chúa xây dựng rồi thực dân Pháp nâng cấp để phục vụ cho nhu cầu của thuộc địa. Thi thoảng đến trạm kiểm soát, xe dừng lại để trình giấy phép đi đường. Lính canh xem giấy tờ rất kỹ, khám cả xe vì sợ giấu vũ khí chuyển cho du kích Việt Minh đang nổi lên chống lại chính quyền.

Ông cố biết cách làm việc với họ, bà thấy không sợ hãi gì. Quốc lộ giờ này vắng người qua lại. Đi một lúc lâu mà chỉ có chiếc xe mấy nông dân chất đầy rau cải, con bò kéo xe gầy trơ xương.

“Cứ đi theo con đường này là đến Hà Nội thôi.” Ông ngã lưng ra sau bên cạnh bà.

Xa xa có tiếng gà gáy sáng.

Hừng đông phía chân trời. Mưa đã ngớt, sương mù dày đặc. Những bụi rậm hai bên đường đổ bóng trông như những con vật khổng lồ chực chồm lên.

Xe đang lên dốc, bà căng mắt nhìn qua hàng cây rậm rạp ven đường, qua cả những cánh đồng lúa xanh lục để đến mấy khóm nhà đang tỏa khói trên nóc. Bên trong mẹ và con gái đang nấu bữa ăn sáng cho cả nhà.

Dọc theo quốc lộ không có nhà ở, để mua thức ăn và nước uống phải đánh xe vào đường làng thi thoảng cắt ngang đường đi.

Hai con trâu phe phẩy đuôi đuổi ruồi theo đậu trên mông. Bà buông dây cương, miên man suy nghĩ, về nhà chuyến này, bà phải đưa cả nhà ra khỏi vùng nông thôn thôi.

“Diệu Lan…” ông cố lên tiếng khi bà nhác thấy có ồn ào phía trước. Đến chỗ hàng cây thưa đi, lộ ra mấy ngôi nhà cháy đỏ rực như bó đuốc, khói đen bốc thành cột lên trời. Bà nghe thấy tiếng đàn bà, trẻ con la khóc, đàn ông la hét, có cả tiếng ngoại quốc. Bà kéo mạnh dây cương, hai con trâu dừng lại nghển cổ lắng nghe.

Quay sang ông cố, mặt ông như đông lại vì sợ hãi.

“Lính Nhật, lính Nhật,” ông thì thào, mắt mở to không chớp.

Cánh đàn ông chạy ra về hướng quốc lộ, tránh sức nóng, trên tay chúng lưỡi lê giương lên.

“Quay lui! Quay lui!” ông chụp sợi dây cương trong tay bà.

Chiếc xe nhanh chóng quay đầu.

Một bóng đen lớn đang trườn theo mặt đường, lưỡi lê sáng lên như mắt cọp. Kẹp giữa hai đám quân Nhật, không biết chạy đâu, xung quanh không làng mạc gì. Bà không nhìn rõ mặt bọn lính nhưng biết chúng đang tiến nhanh về phía trước, bước chân rung rinh cả mặt đường.

“Công, dậy con!” ông cố nhảy vào trong xe, lay anh bà dậy.

“Gì thế bố?” ông Công nhổm dậy.

“Nhanh lên, dẫn em chạy vào núp bên vệ đường. Chọn chỗ cây rậm. Có gì đi nữa cũng không được chạy ra cho đến khi nghe lệnh bố.” Ông cố quay sang bà nói. “Chạy đi con.”

Bà nhảy xuống, bị ngã lăn trên con đường tung tóe bùn đất, chiếc nón lá bên cạnh bị đạp bẹp dúm kêu lên như hàng trăm con gián bị giẫm lên. Cúi xuống, ông Công lôi bà chạy về phía mương sâu hai bên đường rồi núp vào một bụi rậm. Bà sút mất chiếc dép trong mương. Gai nhọn đâm sâu vào chân trần, cào cả vào bắp chân, bà bặm môi không bật ra tiếng kêu.

Nín thở, quan sát qua kẽ lá bà thấy ông cố quay xe lại đi tiếp về phía Hà Nội.

Theo sau ông Công bà trườn từ bụi cây này sang bụi khác. Hai anh em cúi thấp xuống cứ nương theo tiếng xe trâu đi tới.

Tiếng bước chân trâu nhỏ lại. Từ chỗ núp, bà thấy toán lính Nhật tập trung trên đường lộ chận đầu xe ông lại, nhóm thứ hai bao lấy phía sau. Ông bước đến nhóm lính trước đầu xe.

Có tiếng quát bằng tiếng Việt giọng lơ lớ “dừng lại! Xe chở gì?” y nhìn rất giống người địa phương trừ cái quần nhét vào giày ống. Chắc bị ai đó đấm vào mặt, con mắt y sưng phồng đen thui. Y mang cả lưỡi lê và súng trường.

“Dạ thưa ngài, khoai tây ạ, tôi mang ra Hà Nội bán.” Ông cố lấy giọng điềm đạm, lịch sự trả lời.

“Bố mẹ chúng mày không dạy cách cư xử à?” Tên mắt đen thét lên. “Lũ Việt Nam chúng mày nói chuyện với chúng tao phải khom người xuống. Cúi xuống, cúi thấp nữa vào!”

Ông Công giữ chặt bà “đừng gây ra tiếng động nhé, chúng bắn chết đó.” Ông lấy cả tay che miệng bà.

Ông cố bước xuống khỏi xe, khum người trước bọn lính Nhật.

Mắt bà liếc thấy nhóm lính thứ hai đến bên chiếc xe. Chúng túm tóc mấy phụ nữ kéo theo áo quần tả tơi lộ cả khoảng ngực trắng xanh và phần đùi. Máu chảy ra giữa hai chân.

“Chỉ cho bọn tao thấy mày chở gì trong xe.” Tên mắt đen búng tay.

Ông cố mở cửa sau chiếc xe, nhấc tấm ván lên. Tên mắt đen và đồng bọn khám xét hồi lâu.

“Thưa ngài số khoai này tôi chở lên cho khách hàng ở Hà Nội ạ.”

“Cái đám khách hàng đó chết đi!” tên mắt đen nâng khẩu súng trường và nhắm vào bên trong xe. Một loạt súng nổ chói tai vang lên. Mấy củ khoai nhảy tung lên như cá bị đập đầu. Bọn lính cạnh bên ngửa đầu cười lên man rợ. Có vị máu trên đầu lưỡi, bà đã cắn rách môi.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Nguyễn Phan Quế Mai

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.