Nha Trang, tháng 6 năm 1979
Tôi nắm tay bà khi đi qua con hẻm nhỏ. Lúc ấy, tôi chỉ còn nghe tiếng bước chân vội vàng của bà, những bước chân của hai mươi bốn năm chờ đợi.
Bà, mẹ, cậu Đạt và tôi theo chuyến xe lửa kêu cút kít, lách cách suốt hai ngày ba đêm để đến Nha Trang, một tỉnh phía nam cách Hà Nội hàng trăm cây số. Dì Hạnh đến trước một lúc, đang đứng chờ mọi người trong sân ga. Một năm qua đã biến dì thành người Sài Gòn: tóc nhuộm cắt ngắn đến vai, mặt đánh phấn, môi tô son đỏ tươi. Ở dì toát ra vẻ sang trọng, có trong mơ tôi cũng không dám nghĩ đến.
Tìm số nhà mà tôi đã học thuộc: bảy mươi hai. Có thể là bất cứ căn nhà rách nát nào nằm theo hai bên con đường với hai rãnh nước. Mùi hôi thối xông lên đến ngạt thở trong tiết trời oi bức. Một người phụ nữ đang ngồi trước mấy bậc thềm nhà, tay xát xà phòng vào chiếc chậu đầy áo quần. Bà ấy lên tiếng la mấy đứa con nít đi theo chúng tôi, làm chúng tản ra.
Lố nhố một đám đàn ông ngồi bên rãnh nước, uống rượu. Giọng miền nam đầy lười biếng. Chúng tôi đi ngang, họ ngưng uống đưa mấy đôi mắt buồn ngủ nhìn theo.
Cả nhà tiếp tục đi qua một chiếc nồi đen thui to tướng chiếm gần hết con hẻm, bên dưới là than cháy đỏ rực. Trên cổ bà, mồ hôi đổ ra như tắm, tóc bà muối đã nhiều hơn tiêu. Trên tay bà là bức điện tín có địa chỉ chúng tôi đang tìm. Bức điện đó gia đình nhận được cách đây ba hôm, chỉ có hai dòng chữ làm bà đọc xong té xỉu. Lúc tỉnh lại, bà một mực phải đi ngay.
Mẹ đi trước, vai đeo chiếc ba lô căng phồng những vị thuốc bắc. Bốn năm sau ngày quay về, mẹ vẫn ốm nhách, chỉ sợ gió thổi cũng làm mẹ bay mất. Tìm bố vẫn tiếp tục, những cơn ác mộng vẫn giày vò mẹ. Chí ít, giờ đã nghe được chút tin tức về cậu Minh, nhưng chưa chắc đã là điều tốt đẹp như mọi người mong đợi.
Bà không để tôi giữ tay nữa mà đi nhanh đến căn lều có vách và mái bằng những tấm tôn rỉ sét. Kế bên chiếc cửa lung lay là con số viết nguệch ngoạc bảy mươi hai.
Cả nhà vội theo bà đến gõ cửa gọi cậu Minh.
Không có tiếng trả lời, mấy tấm tôn nổ lách cách dưới sức nóng ghê người. “Cậu ấy đang ở nhà đấy, mọi người cứ vào đi,” bà bán mì ngồi ngay giữa hẻm nói với sang, bầy con nít bâu quanh trông như gà con đang rúc vào gà mẹ.
Cậu Đạt đẩy cửa. Chiếc cửa đổ sang bên như muốn đứt lìa, một khoảng hở lộ ra. Ánh sáng lọt vào, căn phòng không có đồ đạc gì ngoài chiếc giường tre cũ nát. Trên chiếc chiếu là một hình hài như bộ xương.
Người ấy nằm quay lưng về phía mọi người, đầu trọc lóc nhăn nheo. Lớp da vàng ệch dính vào xương trên chiếc lưng trần.
“Minh con ơi!” Bà khóc nấc lên.
Khó khăn lắm người đó mới quay lại được nhìn mọi người. Hai má hóp vào, hai mắt trũng sâu, đôi môi nứt nẻ sưng phồng đau đớn. “Mẹ,” cậu nói, hai tay chìa ra. “Mẹ, mẹ đây rồi.” Bà khụy xuống nức nở trên đôi vai run rẩy của cậu. “Anh, anh ơi,” cậu Đạt ôm lấy cậu Minh.
Mẹ quỳ xuống bên giường. Trong bức điện nói cậu bị bệnh, nhưng đến nỗi này ư? Trông cậu già gấp hai lần số tuổi bốn mươi mốt. Chiếc khăn bên cạnh dính đầy máu.
Nước mắt lăn xuống trên gương mặt hốc hác. “Mẹ, Ngọc, Đạt, Hạnh con nhớ mọi người lắm.” Cậu ngừng lại vì một cơn ho dữ dội như muốn xé nát cơ thể.
Đỡ cậu ngồi lên, mẹ vỗ lưng cho cậu. Cơ thể rung lên không kiểm soát được, máu từ miệng cậu ộc ra.
Bà dùng chiếc khăn tay lau mặt cho cậu. Bà nhẹ nhàng dỗ cậu cho đến khi bớt ho. Cậu Đạt chèn gối xung quanh để cậu Minh ngồi dựa vào, dì Hạnh bước thụt lại. Dì quay mặt đi, nhưng tôi kịp thấy dì nhăn mũi. Tôi không trách dì sao vội quên đi cái mùi vị nghèo nàn, bệnh hoạn; chính tôi quen được là vì hay đến bệnh viện, cơ quan mẹ.
Ánh mắt cậu cám ơn khi tôi đút cho chút nước. Tôi cảm nhận được sợi dây yên lặng nối kết hai cậu cháu. Sợi dây ấy chính là những điệu hát ru mà bà đã ru cậu rồi ru tôi.
“Hương, con gái em đấy,” Mẹ giới thiệu, mắt cậu sáng lên. Miệng cậu mấp máy, nhưng mẹ ra hiệu không nên nói. Giữ tay cậu ngửa lên, mẹ bắt mạch.
Bà dùng chiếc quạt giấy, quạt cho mọi người đỡ nóng. Mới giữa buổi sáng mà không khí như nhớp nháp dính chặt vào da. Mấy tấm tôn kêu lách cách như muốn nổ lên.
“Có người giỏi chăm cho con đây.” Bà nói khi mẹ tôi lục chiếc ba lô. “Ngọc nó là bác sỹ giỏi. Con sớm hồi phục thôi.”
Cậu gật đầu, khóe miệng nhếch lên. Cậu nắm tay bà như không muốn xa nhau nữa.
Mẹ đeo chiếc ống nghe khám phổi cho cậu. Mẹ nhắm mắt lắng nghe như cả cuộc đời mình tùy thuộc vào đó. Mẹ khám cả mắt, mũi, miệng, họng và lưng. Khám xong, mẹ không thể hiện gì trên nét mặt, duy chỉ có mấy ngón tay run run khi gấp chiếc ống nghe bỏ lại vào ba lô.
“Anh phải thấy đau dữ lắm,” mẹ bảo cậu. “Em tiêm cho anh một mũi thuốc giảm đau nhé?”
Cậu nhắm mắt gật đầu đồng ý.
Mẹ lấy cồn đem theo sát trùng tay, rồi chích cho cậu một mũi thuốc vào cánh tay ốm yếu. “Đừng nói gì hết anh. Em sẽ sắc một thang thuốc. Để làm tan đờm trong phổi, nhưng anh phải ăn trước đã.”
Cậu gật rồi lại lắc đầu.
“Chờ cháu chút.” Tôi lục trong chiếc ba lô của mình tìm cây viết và cuốn sổ. “Thuận với Sáng đâu?” cậu viết.
“Đang đến đó con.” Bà nói. “Nè bác sỹ bảo con ăn. Phở ngoài kia thơm quá, mẹ mua cho con một bát nhé?”
“Để con đi cho,” dì Hạnh nói rồi cầm túi bước ra.
Cậu Minh đưa cho cậu Đạt một tờ giấy bạc nhàu nát. “Người bán nước đá dưới con hẻm. Mua một ít đem về uống cho mát nhé?” Cậu viết.
Cậu Đạt đẩy ra. “Từ từ trả cho em cũng được, khi nào về đến Hà Nội mua vé xem bóng đá.”
Cậu Minh mỉm cười gật đầu.
Không biết cậu có gia đình không nhỉ. Tôi nhìn quanh lều, nhưng chỉ có chiếc bàn thờ mang dấu tích của quá khứ, một chiếc kệ gỗ trên bức tường rỉ sét. Một hình người đóng đinh trên thập tự giá. Cậu theo đạo công giáo à?
Tôi theo bà ra cửa sau, đến phần mái lợp tranh, xung quanh là mấy tấm tôn nhà hàng xóm. Một chiếc nồi đất nằm trên sàn, cạnh đó là đống củi. Một cái lu ở trong góc chứa nước lên đến nửa.
“Có nhiều chuyện bà muốn hỏi cậu.” Bà lấy tay che miệng khóc. “Bà không hiểu tại sao cậu không nhắn tin về cho gia đình. Lẽ ra cậu phải cho bà biết mình còn sống chứ. Qua ngần ấy năm … ”
“Cậu có lý do cả bà ạ. Rồi thư thả cậu sẽ kể thôi.”
Múc ít nước từ chiếc lu, tôi và bà rửa mặt. Tôi nhúng khăn vào nước lau mát lưng cho bà. Tôi đau đớn thấy bà gầy nhô xương và mấy cái sẹo do con Quỷ Ác Độc đánh đập.
Bà châm đầy ấm nước mang lên. Tôi thấy mẹ đang ngồi bên cậu, xem xét đống giấy tờ. Bà vào, mẹ vội nhét vội vô ba lô.
“Mẹ lau người cho con nhé?” Bà hỏi. Cậu mỉm cười. Đột ngột, cậu bật ra một tràng ho. Liếc nhìn, tôi thấy ánh mắt đầy lo lắng của mẹ.
Cơn ho dịu đi, cửa trước mở ra, không phải dì Hạnh mà một đứa nhỏ bê vào một bát phở bốc hơi nghi ngút, tôi cám ơn đứa bé rồi quạt cho mau nguội.
Bà lau người cho cậu. Mẹ mở mấy gói thuốc đông y, cân từng vị rồi cho vào chiếc siêu mang theo.
Cậu Đạt mang nước đá về, đặt cạnh cậu Minh rồi lấy cây quạt của tôi phe phẩy để đưa hơi lạnh làm mát căn phòng.
Ra lại sau bếp, tôi nhóm lò. Mẹ đặt chiếc siêu lên bếp. “Cậu sao rồi mẹ?” Tôi cho thêm một que củi vào lò.
Mẹ kéo tôi đến gần thì thào vào tai. “Đừng cho bà biết, cậu đang hấp hối. Giấy tờ lúc nãy mẹ đọc nói cậu bị ung thư. Đã di căn đến phổi và gan. Cậu nhập viện nằm mấy tháng, giờ bác sỹ cho về, vì không làm gì được nữa rồi.”
“Nhưng thuốc của mẹ làm được điều kỳ diệu nào đó thì sao.”
“Muộn quá rồi con. Ung thư đã lan tràn. Kết quả xét nghiệm…” Mẹ cắn môi.
“Mẹ chỉ giảm được đau đớn cho cậu trong mấy ngày cuối cùng này.”
Tim tôi thắt lại khi nghĩ đến bà. Làm sao bà chịu nổi chuyện khủng khiếp này? Tôi nhìn vào bếp lửa. Đời người sao ngắn ngủi mong manh. Thời gian và bệnh tật lấy đi tất cả, giống như ngọn lửa kia đốt cháy hết mấy que củi. Cuộc đời dài hay ngắn không thành vấn đề, điều cốt lõi là chúng ta có thắp lên được ánh sáng cho những người ta hằng yêu thương và có bao nhiêu người chúng ta đến với họ bằng sự đồng cảm.
Tôi lại nghĩ đến Tâm và tình yêu từ nơi anh thắp sáng cuộc đời tôi. Lúc nào tôi buồn vì nhớ đến bố, anh đều làm tôi cười. Ước gì lúc này đây anh ôm tôi thật chặt nói rằng rồi mọi việc sẽ qua đi.
Siêu thuốc sôi ùng ục, mùi thơm tỏa vào không khí, mẹ bớt lửa. Cậu Đạt bước xuống múc nước rửa mặt.
“Hạnh nó quay lại chưa?” Mẹ hỏi, mắt nheo lại vì khói bếp.
“Chưa chị,” cậu thì thào. “Em thấy nó nói chuyện với hàng xóm, chắc đang hỏi chuyện về anh Minh.”
Trên nhà trên, cậu Minh lại là đứa con bé nhỏ của bà. Bà đút cho cậu ăn phở. Cậu nuốt khó khăn, nhăn cả mặt lại nhưng ánh mắt sáng ngời.
Đút cho cậu, bà kể sơ cho cậu nghe chuyến đi bộ từ làng lên đến Hà Nội. Nhà ta giờ đẹp lắm, khi nào cậu khá lên bà sẽ đưa cậu về.
Bà kể đến cậu Đạt, hạnh phúc bên cô Nhung, có đứa con ba tháng bụ bẫm như ông phật Di Lặc. Bà không kể cả nhà rất lo sợ đứa bé bị dị tật. Việc đầu tiên em bé sinh ra là bà đếm ngay ngón tay ngón chân của nó. Nghe bác sỹ bảo nó hoàn toàn khỏe mạnh, bà quỳ xuống lạy tạ ngay trong bệnh viện, cám ơn trời phật đã nghe bà cầu nguyện, cậu mợ đặt tên nó là Thống Nhất, một mơ ước cháy lòng của nhiều người dân nước Việt rằng Bắc, Nam không còn chiến tranh.
Bà kể mẹ tôi có uy tín cả bệnh viện Bạch Mai và Viện Y Học Dân Tộc. Bà không kể đoạn mẹ đưa bà và tôi đến thăm mộ đứa bé, em tôi. Mẹ đã khóc khi tôi và bà đọc kinh cầu cho nó được siêu thoát cõi cực lạc. Rồi đến lượt bà khóc khi đến nghĩa trang Trường Sơn, nơi cậu Thuận và hàng ngàn đồng đội đã nằm lại. Những hàng mộ dài hút mắt đến tận chân trời. Nhiều ngôi mộ chỉ ghi dòng chữ “Chiến Sỹ Vô Danh.” Hôm đó tôi tự hỏi không biết trong đó có xương thịt của bố tôi và tình yêu ông dành cho tôi, một tình yêu không bao giờ tắt ngay cả lúc trái đất này chôn vùi trong băng giá.
Bà kể đến cậu Sáng, đang từng bước lên vị trí trong đảng, rằng bây giờ là cán bộ quan trọng trong Cục Tuyên Huấn Trung Ương. Và dì Hạnh cùng gia đình vào Sài Gòn xây dựng đời sống rất tốt trong ấy.
Cậu Đạt ra mua thêm phở cho mọi người. Tôi ngồi trên chiếu vừa ăn vừa nghe bà kể chuyện. Bà tường thuật đến đoạn tôi đạt được thành tích học tập tốt trong đại học, có cả thơ đăng báo. Bà kể đến Tâm đang trên đường chinh phục mảnh bằng đại học nông nghiệp và là bạn trai tôi ba năm rồi.
“Lúc đầu mẹ gây khó dễ cho nó, nhưng sau nó giành được cảm tình của mẹ.” Bà kể cho cậu Minh. “Chắc chắn con gặp nó là thích ngay. Nó cũng dân miền trung như nhà ta.”
Nghe chuyện tôi cậu vui lắm, có sắc hồng trên mặt cậu. Cậu lại viết nguệch ngoạc vào cuốn sổ.
“Mẹ à?” bà phá lên cười, nói rằng bà đang làm nghề chạy chợ trong khu phố cổ.
Bà thích công việc mình đang làm, có nhiều bạn, khách hàng ngày càng đông. Cậu đưa tay lên sờ vào nếp nhăn của bà. Công việc vất vả làm bà già hơn tuổi năm chín nhiều, dù còn đẹp. Tôi gặp rất nhiều người đàn ông đến nhà, nhưng vẻ lạnh nhạt của bà làm họ thất vọng ra về, tôi biết tình yêu của bà dành cho ông ngoại vẫn chưa nguôi. Tôi hóa ra giống bà và mẹ chỉ yêu duy nhất một người. “Giờ mẹ rất vui vì đã tìm được con.” Bà ấp tay vào mặt con trai. Bà nghiêng bát múc hết nước phở vào muỗng. “Giỏi lắm con, ăn hết rồi.”
Cậu Đạt và tôi giục bà ăn. Bà đến ngồi chung trên chiếc chiếu, tôi đến bên giường lấy chiếc quạt. Mẹ từ bếp bước lên bảo cậu Minh cố ngủ một chút. Cậu lắc đầu, cầm bút. “Ngọc, kể cho anh nghe về bố cái Hương đi.”
Mẹ ngồi xuống giường bóp chân cho cậu, kể lại câu chuyện tôi đã nghe không biết bao lần. “Em gặp anh Hoàng lúc mười tám tuổi, trong một dịp tết Trung Thu.”
Đó là một đêm màu nhiệm, bầu trời tô điểm bằng mặt trăng tròn vành vạnh. Quanh hồ Hoàn Kiếm, cuộc rước hàng ngàn chiếc lồng đèn giấy đốt nến, ánh sáng dập dờn như những chiếc vảy rồng theo nhịp tiếng hát và tiếng trống. Mẹ đã quá tuổi chơi lồng đèn, rượt đuổi chúng bạn chạy qua những chiếc đèn sáng hình ngôi sao, con vật, hoa lá. Mấy người bạn chạy mất, mẹ đuổi theo nhanh hơn rồi vấp phải một hòn đá sắc cạnh. Mẹ ngã xuống, chân máu tuôn ra.
Mẹ khóc vì đau đớn, nhưng xung quanh tiếng hát, tiếng trống át tiếng khóc, không ai để ý đến mẹ. Đến lúc không biết làm sao, có một anh chàng tách ra khỏi đám đông. Anh chàng cúi xuống, cởi chiếc áo khoác, xé ra băng chân cho mẹ. Anh chàng đưa mẹ về nhà, trên đường làm mẹ cười quên cả đau. Rồi hai người như hình với bóng cho đến khi anh chàng ấy – bố tôi – đi chiến đấu.
Tôi khoe với cậu chú chim sơn ca. “Bố khắc cho cháu đấy.”
Cậu săm soi một lúc. “Đẹp thật. Bố cháu chiến đấu ở đâu?” Cậu viết.
“Cháu không biết nữa vì chưa bao giờ nhận được thư bố cả.”
“Em thôi không tìm anh Hoàng nữa.” Mẹ nói, “nhưng gần đây có chuyện này đăng trên báo. Một người bộ đội bị thương trong vụ nổ và mất trí nhớ. Hồi đầu năm nay, anh thương binh đó nghe đài, nghe một bài thơ về dòng sông chảy quanh làng. Bài thơ đó đã khơi dậy những xúc cảm mãnh liệt làm anh thương binh nhớ đường về lại quên mình. Gia đình đã bặt tin suốt chín năm, nay thấy con trở về. Anh hình dung được gia đình họ hạnh phúc biết nhường nào không?”
Nghĩ đến những sáng tác mà tôi đã đăng báo, chỉ mong bố đọc được và tìm đường về với mẹ con tôi.
Dì Hạnh đã quay vào lại. Cậu Đạt gặp dì ngay cửa. Dì nói gì đó làm cậu cau mày. Tôi rất muốn biết chuyện gì vậy, nhưng không muốn cậu Minh thấy mọi người thì thầm.
Bà đến bên giường bảo, “ráng ngủ một chút đi con. Mình nói chuyện sau.”
Cậu Minh gật đầu nhưng lại viết thêm vào giấy. “Mẹ, còn bà Tú và cha con ông Hải ra sao ạ?”
“Ông Hải và gia đình bình yên con ạ. Họ đang sốt ruột chờ gặp lại con. Còn bà Tú thân yêu … mẹ rất buồn, con ạ … bà mất khoảng thời gian mẹ trở lại làng. Người ta đồn bà tự vẫn, nhưng mẹ không tin đâu.”
Cậu nắm chặt cây viết. “Mẹ nghĩ có người giết bà sao?”
“Đúng đấy con. Bà đã phản đối đến cùng cái bọn cướp đất cướp nhà của gia đình ta.”
“Cái bọn khốn nạn ấy chết trong hỏa ngục hết đi.” Cây bút run rẩy trong tay cậu.
“Em Thuận sao rồi hả mẹ?”
Nghe đến đây, bà như phát điên lên. Mẹ phải ôm bà lại, tôi kể cho cậu nghe chuyện bom nổ rồi hai chú bộ đội mang tin tức của cậu Thuận đến nhà. “Thuận, ôi em ơi…” Cậu Minh rú lên, tay đấm ngực. Cậu cầm lấy tay bà, nước mắt chảy dài trên má cậu.
“Mẹ, con rất buồn, mẹ đã chịu đựng quá nhiều.”
“Nhưng đời mẹ cũng có nhiều ơn phước.” Bà nói trong tiếng nấc. “Phước lớn nhất là nhận được điện tín của con. Mà làm sao con có được địa chỉ nhà ta? Sao con không liên lạc sớm hơn?”
Cậu Đạt, dì Hạnh ngồi bên tôi rất lo lắng chờ đợi câu trả lời. Cậu Minh viết gì đấy, rồi xóa đi. Cậu lật một trang mới, nắm cây viết trong tay mắt nhắm lại.
Tôi nao núng khi thấy cậu vất cây viết và cuốn sổ xuống giường, cố gắng ngồi lên bò đến bên bà. Cậu cúi lạy, đầu chạm vào chân bà. “Mẹ, xin hãy tha thứ cho đứa con vô dụng này.”
“Minh con.” Bà với đến vai cậu đỡ ngồi dậy. “Nếu có người đáng bị chê trách thì đó chính là mẹ vì không tròn trách nhiệm giữ gia đình ta thành một mối.” “Nhưng con đã không –” một cơn ho xé phổi chặn ngang lời cậu. Cậu ôm lấy ngực, mẹ vỗ lưng cho cậu. Khi cơn ho đã dịu xuống mẹ rót cho cậu ít nước.
Cậu gật đầu cám ơn rồi lật một góc chiếu, bên dưới là một phong bì dày cộm. Cậu cầm hai tay kính cẩn đưa cho bà.
Tôi nghiêng tới trước thoáng đọc được dòng chữ. “Gửi Mẹ Trần Diệu Lan, 173 Phố Khâm Thiên, Hà Nội.” Trên bì thư đề địa chỉ của bà nhưng không có tên người gởi.
Cậu Minh cầm chiếc bút lên. “Con muốn gởi bằng đường bưu điện nhưng sợ lọt vào tay kẻ khác. Thôi cả nhà cùng đọc đi.” Cậu viết.
“Anh uống thuốc trước đã.” Mẹ nói rồi nhìn đồng hồ.
Cậu Đạt sửa gối giúp cậu Minh ngồi thẳng lưng hơn. Bà nhìn chăm chăm phong thư nhưng không mở ra.
Mẹ trở lên, hai tay bưng bát thuốc có nước màu đen. Mùi bốc lên làm tôi nhăn mặt. Mẹ quạt cho thuốc nguội, đưa lên miệng cậu. “Thuốc đắng, nhưng công hiệu đấy anh.”
Cậu hớp một ngụm, rùng mình. Cậu ngửa đầu ra sau, le lưỡi lắc đầu.
“Anh à, phải uống mới được,” cậu Đạt lên tiếng, “chị Ngọc chữa cho em hết ý luôn. Em uống ít nhất là năm mươi thang, giờ thấy em khỏe không?” Cậu gồng lên, bắp tay nổi lộ rõ.
Cậu Minh cười, ho, hít vào một hơi sâu. Lấy tay bịt mũi, cậu uống từng ngụm nhỏ thuốc, cuối cùng cũng hết bát thuốc, cả nhà vỗ tay hoan hô.
“Rồi giờ nghỉ ngơi đi.” Mẹ đỡ cậu nằm xuống. “Ngủ đi anh, khi nào khỏe hơn mình nói chuyện.”
CẢ NHÀ NGỒI thành vòng tròn trên nền nhà, xa khỏi chiếc giường.
“Nói nhỏ thôi.” Mẹ bảo.
Bì thư vẫn trong tay bà. Dì Hạnh với sang lấy bao thư rồi mở ra, nhiều tờ giấy và một bao thư khác rơi ra.
Một lá thư đề địa chỉ của bà, nhưng tên người gởi là Nguyễn Hoàng Thuận – người cậu đã khuất của tôi.
Bà mở to mắt. “Chữ của Thuận đây mà!”
Mẹ ôm lấy vai bà, còn tôi đầu óc choáng váng.
“Thế quái nào anh Minh có bức thư này nhỉ?” Tiếng dì Hạnh xuyên qua óc tôi. Cậu Đạt đưa mắt nhìn về phía chiếc giường. Cậu Minh nằm quay lưng về phía mọi người, da trên lưng chảy xệ xuống.
Mẹ cầm lấy bức thư cậu Thuận từ tay bà, đọc cho mọi người nghe.
Đông Hà, Quảng Trị, 15/2/1972, Kính thưa mẹ,
Trước thềm xuân Nhâm Tý, con lại nhớ về mẹ. Con nhớ mẹ và anh chị em xiết bao. Ước sao con lại được ngồi bên nồi bánh chưng đang sôi, mùi thơm của nếp lan ra cả nhà.
Mẹ yêu dấu, mẹ khỏe không? Cả Hương, chị Ngọc và em Hạnh nữa? Nhà ta có nhận được tin gì của anh Đạt, em Sáng và anh Hoàng không? Nếu không nhận được cũng đừng lo lắng quá. Anh em gia đình ta đều mạnh mẽ và khéo léo cả. Mọi người lại trở về thôi.
Mẹ à, con nghe nói Hà Nội bị dội bom rất khốc liệt. Mẹ phải cẩn thận và xuống hầm tránh bom đấy, nếu được nên về nông thôn, ở đấy an toàn hơn.
Con chỉ mơ đến ngày được về với mẹ. Trên toàn cõi nước Việt có hàng trăm ngàn bà mẹ đang ngóng chờ con cái từ cuộc chiến trở về. Tối nay con lại thấy những đôi mắt của những người mẹ thắp sáng trên trời cao.
Năm nay mẹ đón tết thế nào? Có mua được nếp và thịt lợn gói bánh chưng không? Trên đường có bán hoa đào không mẹ? Con nhớ quá màu hoa hồng đỏ từ những chiếc giỏ tre trên yên sau xe đạp mấy người bán hàng rong.
Nếu có mặt nơi đây, mẹ cũng sẽ thích không khí tết trong rừng với chúng con. Hôm nay mới ăn tiệc mẹ ạ, với cá suối. Mẹ sẽ được thưởng thức cả rau tàu bay. Mẹ biết trên đường mòn con tìm được gì không? Một nhánh mai vàng. Những nụ hoa nói với con rằng rồi chiến tranh sẽ kết thúc, con lại được đoàn viên, lại là đứa con bé nhỏ của mẹ.
Con nhớ mẹ nhiều lắm.
Con,
Thuận.
Tái bút: một đồng đội của con sắp có chuyến công tác ra bắc, con gởi anh ấy bức thư này. Mẹ bảo cái Hương, chị Ngọc và em Hạnh qua lá thư này là con đã đi được nửa đoạn đường gặp lại mọi người. Mong trùng phùng một ngày không xa.
Nước mắt làm mọi vật quanh tôi mờ ảo. Cậu Thuận rất thích bánh chưng, tết nào cũng năn nỉ bà gói. Cậu đi rồi, bà không bao giờ gói nữa.
“Khổ thân anh. Anh rất thương gia đình và yêu đời,” tiếng dì Hạnh. Dì gập người tới trước như bị ai đấm vào bụng. “Chắc chắn những kẻ như anh ấy đã giết Thuận.” Dì chỉ tay về phía cậu Minh.
“Hạnh!” Cậu Đạt nắm tay dì kéo xuống. Cậu đưa mắt sang nhìn bà, bà đang ấp mặt vào lá thư.
“Anh Minh là lính miền Nam,” dì rít lên. “Hàng xóm cho em hay, thế mới giải thích được tại sao anh ấy có lá thứ này.”
“Đừng kết luận hồ đồ như vậy con.” Bà thẳng vai lên, với tay lấy phong thư lớn hơn có nhiều tờ giấy chưa đọc đưa cho tôi. “Hương, cháu đọc lớn lên. Cứ đọc cho đến hết.”
Thành phố Nha Trang, 16/12/1978 Kính thưa mẹ cùng các em.
Con là Minh đây. Con viết bức thư này sau hơn hai mươi ba năm từ lần cuối cùng gặp nhau. Mẹ tin con đi, con đã viết nhiều lần nhưng rồi lại xé đi. Có rất nhiều việc con muốn kể ra đây nhưng không biết bắt đầu thế nào. Làm sao chỉ đôi dòng chữ có thể mô tả được nỗi nhớ thương của con. Để đến ngày hội ngộ còn sẽ tự mình bộc bạch, nhưng nếu con không gặp gia đình ta thì sao?
Em Thuận, anh có được lá thư của em vào năm 1972, vài tháng sau khi em viết. Cầm lá thư trong tay, anh cất tiếng cười vì gia đình ta sống sót qua phong trào Cải Cách Ruộng Đất, rồi lại khóc vì em phải dấn thân vào cuộc chiến đẫm máu
này. Giờ này em khỏe không? Đạt, Ngọc và Hạnh có tham gia chiến trường?
Có thương tích gì không?
Mẹ à, làm sao mẹ trốn thoát được những tên giết người ấy? Con xin lỗi vì đã không chờ mang mẹ cùng vào nam với con. Nếu ngày ấy vào được trong này, có lẽ bây giờ gia đình ta định cư ở Mỹ không chừng để hưởng tự do. Sao con lại ích kỷ, nhu nhược bỏ chạy mà không chờ mọi người sau khi thoát ra được. Là con trưởng lẽ ra con có trách nhiệm chăm sóc mẹ, nhưng không làm tròn, cho con xin lỗi.
Cả gia đình ạ. Nhiều việc xảy ra từ lúc phân ly đôi ngả. Con nên bắt đầu từ việc xảy đến cho cậu Công và con trong cái ngày khủng khiếp ấy. Nhớ lại còn làm cho đau đớn, nhưng con phải hồi tưởng lại những ký ức đau thương ấy vì chúng không chỉ thay đổi mà giải thích cho cả những hành động sau này của con.
Hôm ấy bình yên như mọi ngày, nhà ta đang gieo mạ, mẹ nhớ không? Sau khi
mẹ về cho em Sáng ăn. Hai cậu cháu đang làm việc, thình lình có tiếng la hét. Cậu Công bảo “Chắc có ai đó bắt trộm.” Cậu vẫn đang khom xuống mấy luống mạ. Tiếng la đến gần hơn, con lau mồ hôi ngẩng đầu lên, thì thấy một đám đàn ông đàn bà xông vào tay cầm gạch đá, dao và gậy gộc.
“Đả đảo địa chủ!” Bọn họ hô vang, vung vũ khí lên trời.
Cậu van lạy nhưng chúng vẫn gô lại. Con đấm đá, bị chúng đè nghiến xuống
trói lại, đánh đập rồi lôi về làng.
Con còn hãi hùng khi gặp mẹ. Mẹ bị xô năm bậc thềm xuống sân trước.
Rồi sợ hãi làm con tê dại khi bị nhét giẻ vào mồm, lôi khỏi nhà diễu quanh làng. Cậu Công và con hứng chịu trận mưa trứng thối, gạch đá, gậy gộc và chửi bới. Máu chảy, hai cậu cháu bị đưa đến con sông trong làng rồi trói lại vào gốc cây to ở đấy.
Hai cậu cháu ở tư thế quỳ, khát và đau không chịu nổi. Con cựa quậy thoát ra, cậu dựa vào con, cậu không nói được, nhưng qua ánh mắt con đọc thấy nỗi buồn và cả tình yêu cậu dành cho con. Ngay bên cạnh, chúng nó đốt một đống lửa, cười đùa ăn uống và chúc tụng hô khẩu hiệu huyên náo. Chúng thách nhau
xem đứa nào trừng phạt tàn độc nhất với đám địa chủ.
Bàn luận đến hồi hung hăng nhất, chúng cởi trói cho cậu. Chúng bắt cậu hôn chân chúng, cậu không chịu, thế là cơn mưa đấm đá, gọi cậu bằng những ngôn từ tục tĩu nhất. Con chỉ muốn thu nhỏ hình hài lại khi thấy chúng lôi ra một chiếc rọ có nắp thường dùng để nhốt lợn.”
Đọc đến đây, tôi phải ngưng lại. Ngồi đối diện, bà cắn môi mạnh đến nỗi trắng bệch ra. Tôi ước sao những dòng chữ biến mất để không làm bà đau thêm nữa. Ánh mắt bà nhìn tôi ra hiệu đọc tiếp.
“Thú nhận mày là địa chủ độc ác bóc lột nông dân đi!” Một tên thét vào mặt cậu. Cậu lắc đầu, chúng hè nhau đẩy cậu vào chiếc rọ, đóng nắp lại.
Con gào lên khi chiếc rọ bị ném xuống sông. “Thú nhận mày lại địa chủ ác độc đi chúng tao tha cho.” Bọn chúng điên cuồng reo hò, liên tục nhấn chiếc rọ xuống sông rồi lôi lên.
Con cố vùng ra, muốn tự tay mình bóp cổ từng đứa một, nhưng bị dây trói giữ lại. Con khóc hết nước mắt khi thân thể bất động của cậu bị ném xuống bên con. Con cựa quậy, ngẩng cổ lên, cố lấy chân động vào cậu. Nhưng không hề có phản ứng gì. Chỉ một lát sau cậu đã cứng đờ lạnh ngắt.
Chết, cậu – người cha của con – đã chết. Người dạy cho con lòng tốt và siêng
năng đã chết. Cậu bị giết ngay trước mặt mà con không làm gì được cho cậu. Chúng nó vẫn tiếp tục uống rượu, hô khẩu hiệu. Con biết rằng chúng để mình sống để còn giở nhiều trò hành hạ trong những ngày tới trước mắt tất cả dân làng. Lâu lâu có tên đến bên vạch quần đái lên con. Chúng đá, cười khoái trá. Con cắn môi đến bật máu. Trong đời con chưa từng biết căm thù ngay cả khi bố bị giết, lúc đó con đã thấy vị mặn của căm thù trên đầu lưỡi và thề chừng nào còn sống con sẽ trả thù cho cha và cậu.
Đêm muộn, chúng nó say khướt nằm ngủ ngáy vang bên đống lửa. Con cố hết sức nhưng không thoát ra được, thấy vô vọng khi đống lửa dần tàn.
Có tiếng gọi nhỏ, tim con như nhảy ra khỏi lồng ngực. Ông Hải và người con trai đang đứng kế bên. Hai người cởi trói, đưa con ra đến đường. Tất cả tối
đen, không biết mình đang ở đâu.
“Chạy trốn đi, chạy đi Minh. Ở lại đây chúng giết đấy.” Ông thì thào.
“Mẹ và gia đình cháu sao rồi? Cháu không chờ được mọi người sao?” Con hỏi. “Ta sẽ báo lại con trốn được rồi, và cả họ nữa cũng phải trốn đi ngay. Không đi là bị bắt lại đấy.” Tay ông run rẩy trên mặt con. “Chúc con bình an, Minh ạ. Chúng có chỉ tiêu phải xử tử bao nhiêu người. Con trai ta sẽ đưa con đến quốc lộ. Ta chạy đến mẹ con đây.” Tiếng bước chân ông xa dần trong đêm.
Đến quốc lộ, người con trai ông Hải bảo con xin đi nhờ xe, thoát càng nhanh càng tốt.
Sau khi ôm từ biệt, con một mình liêu xiêu đi theo đường lộ. Tiếng la hét, tiếng trống xa xa làm con run rẩy toàn thân từ đầu đến chân. Con tự nhủ mình phải sống, chỉ gần mười tám tuổi con có thể tự chăm lo được. Trong sâu thẳm con lại muốn ở lại tìm mẹ, và các em thân yêu.
Lang thang trên quốc lộ, con gặp một gia đình công giáo cũng đang chạy trốn – ông Cường cùng vợ và hai người con gái. Họ định đi theo quốc lộ và đang chờ chiếc xe trâu. Nhìn thấy mấy vết thương, vết dây trói trên người con, họ tỏ lòng xót thương. Họ chia phần thức ăn, nước uống và cả thuốc men cho con. Họ hỏi chuyện xong, cho con trốn vào bên trong chiếc xe trâu. Họ biết làm thế rất nguy hiểm, nhưng nghĩ rằng thượng đế sắp xếp nhân duyên cho cuộc gặp này và họ có nghĩa vụ phải giúp đỡ con
Quay trở lại làng chỉ để nhìn thấy sợ hãi và chết chóc con đành chấp nhận đề nghị của họ, dùng tấm rơm che lên người. Chất xung quanh mấy bao đồ dùng cá nhân của gia đình, bên trên là một miếng ván. Bắt đầu lên đường, nhìn lại phải bỏ nơi chôn nhau cắt rốn chẳng khác nào con bị ai đó chặt bỏ tay chân khỏi thân mình.
Sau mấy ngày, gia đình ông Cường kéo bỏ tấm ván ra. Con được nhìn thấy ánh sáng mặt trời, nhìn quanh đã đến Hải Phòng, theo lời ông đã cách Hà Nội về phía đông khoảng 120 cây số. Nhìn lại con đường mới đi qua đầy bụi than, trước mặt con là một tương lai vô định.
Ông cho con biết kế hoạch vượt biển để vào nam, con đồng ý tham gia. Vào nam để được tự do, không còn họa cộng sản. Khi nào ổn định con sẽ nhắn tin cho mẹ biết và thu xếp để mẹ vào trong ấy với con. Ý nghĩ ấy làm con phấn chấn hẳn lên.
Ông Cường là thương nhân có tiếng tăm, quen biết nhiều ở Hải Phòng. Một người đưa mọi người về trú ở nhà họ. Đến đêm ông chủ nhà đưa đến địa điểm xuất phát ở một con sông, có ngư phủ cùng thuyền chờ sẵn. Vào lòng thuyền mọi người nằm sát xuống sàn, chủ thuyền dùng lưới che lên rồi cho thuyền ra đi.
Đến hôm sau chủ thuyền bỏ lưới ra. Có con tàu lớn chờ sẵn, rất nhiều thuyền nhỏ dập dềnh bao quanh. Chiếc tàu chứa rất đông người để đưa vào nam.
Gia đình ông Cường đã có vé lên tàu từ trước.
Ông bảo con chờ trong khi ông lên tàu. Một lát sau ông xuất hiện trên boong tàu với người vận đồng phục trắng. Ông thuyết phục người ấy rằng con là người làm công tư cách đạo đức tốt, khỏe mạnh.
Trên tàu con làm việc xúc than cho vào lò. Con làm việc hùng hục, vì có kiệt sức, đến đêm không suy nghĩ gì mới ngủ được. Không còn đường quay lại, không thấy đất liền chỉ có gió nước và mặt trời.
Hơn một tuần sau, tàu cập bến Nha Trang. Con rời tàu, người đen nhẻm vì bụi than, nhưng trong tim một niềm vui bừng sáng. Con làm bạn với Linh, cô con gái lớn của ông Cường. Đôi bên có điểm tương đồng vì phải bỏ lại làng quê, nhưng đầy vẻ hứng khởi cho một tương lai mới – một tương lai không còn bị khủng bố, ít nhất đó là theo suy nghĩ của mọi người.
Chính quyền miền nam khuyến khích người dân bỏ miền bắc. Họ cung cấp đầy đủ từ nơi ăn chốn ở cho đến những chính sách hỗ trợ cho người bắc di cư. Con ở chung với nhóm người cùng quê với ông Cường. Ban ngày con làm công nhân xây dựng, ban đêm tiếp tục đến trường. Con muốn có việc làm đàng hoàng, thu nhập tốt mới mang được mẹ và các em vào đây.
Con hay lang thang ra bến cảng ở Nha Trang nhìn những dòng người ra khỏi
tàu thuyền. Hy vọng mẹ cũng vào với con. Con viết nhiều thư lắm nhưng không cách nào gởi đi được. Không hề có dịch vụ bưu điện giữa hai miền. Tất cả những người con quen biết, không ai muốn đặt cuộc đời mình vào thế rủi ro để quay lại ngoài ấy. Chỉ có niềm tin được đoàn tụ vẫn cháy bỏng trong con và giúp con vượt qua những ngày đen tối.
Con và Linh cùng tốt nghiệp trung học. Con cùng cô ấy đi lễ nhà thờ, tìm được bình an trong lời Chúa dạy và cả đức tin nữa. Con làm lễ rửa tội, nguyện suốt đời là một kitô hữu ngoan đạo.
Nhưng theo lời Chúa dạy không phải dễ. Thượng đế dạy rằng nên tha thứ cho những kẻ làm hại ta, nhưng làm sao con có thể tha thứ cho những kẻ giết cha, cậu và xé nát, chia lìa gia đình ta?
Con lao vào học, được vào đại học, tốt nghiệp với mảnh bằng luật chuyên về luật tội phạm, hằng mong giúp được cho những ai bị bất công. Ngày tốt nghiệp, bạn bè cười nói, con lại khóc nghẹn vì không ai để cùng vui với con trong ngày trọng đại này. Nhưng ngày đầu tiên đến sở làm con không khóc mà lại nở được nụ cười vì biết mẹ rất tự hào về con.
Công việc lương rất tốt, con mượn tiền ngân hàng để mua một căn nhà nhỏ. Căn nhà đầu đời của con đấy, mẹ tưởng tượng được không?
Ước gì mẹ có ở đây để dự đám cưới con và Linh. Nhìn cô ấy như một thiên thần. Thiện đứa con ra đời sau một năm ngày cưới, kế đến là đứa con gái, tên Nhân. Chắc chắn mẹ rất mong được gặp hai đứa cháu nội. Mẹ ạ, hai cháu biết rất nhiều về bà vì con thường kể cho chúng nghe về mẹ, con không muốn chúng quên đi cội nguồn của mình.
Chiến tranh mỗi lúc một leo thang. Giao tranh ngay ngoại vi thành phố, đạn pháo có khi rơi gần đây. Ai cũng sống trong phập phồng lo sợ vì cộng sản có thể trà trộn giấu lựu đạn vào trong áo quần.
Chính quyền Mỹ gởi quân đến hỗ trợ, con tin rằng sẽ thắng được Hà Nội. Ngày
đó, việc đầu tiên của con là về làng tìm lại mẹ.
Con muốn cộng sản sụp đổ, nhưng khi lệnh động viên ban ra con lại lo sợ, nhìn
lên Chúa Giêsu cầu nguyện. Con muốn bảo vệ tự do của miền nam nhưng nếu cầm súng ra chiến trường có thể sẽ mất mạng, Linh sẽ một mình nuôi con. Ngoài chiến trường con có nguy cơ phải đánh nhau với chính anh em của con. Cha vợ có đến gặp con. Ông bảo, con khó trốn được lệnh nhập ngũ nhưng ông sẵn sàng bỏ tiền lo lót, hay ít nhất chạy cho con làm lính kiểng. Điều không may, chính quyền miền nam lại có vấn nạn tham nhũng khủng khiếp, thứ gì cũng có thể mua được bằng tiền. Con chán ghét cảnh tham nhũng và không đồng tình.
Đêm đó con tự mình đưa ra quyết định, con còn nhớ những vành khăn trắng trên đầu đi cạnh quan tài bố, những tiếng cười ác độc từ những kẻ giết cậu và cả vị mặn của căm thù con nếm ở đầu môi. Con nhớ cả lời thề trả thù.
Thế là vào năm 1971, con quyết định gia nhập quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Các em à, anh phải là người dám đứng lên vì lý tưởng, nhưng anh biết có thể sẽ chạm trán với các em trên chiến trường. Sau mười sáu năm, gương mặt của các em vẫn còn hiển hiện trong anh rất rõ nét. Nếu đối mặt, các em có bắn anh không? Anh thì không bao giờ. Nhưng nếu một đồng đội của anh đang nhắm vào đầu các em thì sao? Anh giết đồng đội để cứu em mình ư?
Suốt bốn năm tại ngũ, những câu hỏi ấy cứ mãi trong đầu. Anh đã nhiều lần chạm mặt tử thần. Chưa một lần thấy các em, anh thường gặp những người lính bên kia bị chết, nhìn gương mặt họ, lục túi kiểm tra đồ đạc, anh rất sợ gặp phải chuyện không bao giờ muốn.
Nhìn quân thù ngã xuống, anh rất mãn nguyện, nhưng rồi lại thấy chỉ còn lại trống vắng buồn tênh. Anh chợt nhận ra, máu đổ xuống cũng không làm những giọt máu đã mất đi trở lại trong huyết quản được nữa.
Những tưởng sẽ thắng cuộc nhưng rồi chính quyền Mỹ lại rút quân một năm sau khi hứa sẽ cùng nhau chiến đấu. Họ nuốt lời hứa bảo vệ miền nam trước xâm lược của cộng quân. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa suy vi vì sâu mọt tham nhũng. Việt Cộng thu được chiến thắng này đến chiến thắng khác. Chỉ huy trưởng đơn vị của con trốn đi trên chiếc máy bay trực thăng. Một số đồng đội
tuẫn tiết, số còn lại tháo chạy hay đầu hàng.
Ngày thành phố Nha Trang bị tiếp quản, con đã khóc. Lúc đó con đã buông vũ khí trở về. Gia đình đào căn hầm phía sau cho con trốn, nhưng sống trong ấy mấy tuần như loài vật, con bỏ ra. Đài truyền thanh ra rả tuyên truyền chính quyền mới sẽ làm việc trên tinh thần hòa giải. Theo lời hứa họ, lính Việt Nam Cộng Hòa đến trình diện, không một ai sẽ bị trừng phạt. Họ còn cho một số quân nhân chính quyền cũ đến nói chuyện với người nhà của con rằng họ được chính phủ cư xử rất tốt. Người bắc hay người nam gì bây giờ đều là anh em một nhà cả.
Linh và bố vợ đã đưa con đến trình diện. Cả nhà lo con bị bắt, nhưng không, cán bộ chính quyền nói chuyện ôn tồn. Họ bảo con cứ thành thật khai báo những gì con tham gia trong thời chiến, rồi cho về, mỗi tuần chỉ lên trình diện một lần. Cứ như thế trong vòng ba tháng, và đó chỉ là thủ tục hành chính. Đêm đó cả nhà ăn mừng, con quyết định sau ba tháng đó con sẽ đi tìm mẹ.
Nhưng đời quả là khó lường. Tuần sau đó, vừa đến ủy ban để trình diện, con bị đẩy lên một chiếc xe tải nêm chặt người. Xe chở lên trại cải tạo cách Nha Trang mấy tiếng đồng hồ, trên vùng núi cao. Con còn không kịp nói lời chia tay với vợ con.
Trại thực chất là một loại nhà tù khổ sai. Tụi con phải phá rừng, đào đá làm nương trồng lúa. Không thuốc men, ăn uống thiếu thốn, nhiều người đã bỏ mạng. Con tưởng chừng nhiều lần đã không qua khỏi vì chứng sốt rét.
Điều con day dứt nhất là không biết mấy mẹ con Linh sống thế nào khi không có
mặt chồng.
Hai năm trong trại như cả một thế kỷ. Đến lúc được tha, về nhà thấy vợ con sống nheo nhóc. Linh không tìm được việc làm đã phải bán đi nữ trang, quần áo và tủ bàn, giường chiếu trong nhà để hai cháu Thiện và Nhân được đi học. Hai đứa nhỏ bị liệt vào con ngụy quân, đối xử phân biệt rất dã man. Hai năm kế, con không có quyền công dân, không việc làm, không giấy tờ tùy thân, không có quyền đi bầu. Mỗi tuần phải trình diện chính quyền, cứ thế trong nhiều tháng
trời.
Bố vợ con tự tay xây dựng cả một hệ thống doanh nghiệp rất mạnh ở Nha Trang, sau chiến tranh ông gần như mất trắng. Lúc con ở tù, nhà cửa, tài sản và doanh nghiệp của ông đều bị quốc hữu hóa. Ông và vợ phải đi vùng kinh tế mới ở Lâm Đồng. Điều kiện sống ở vùng rừng núi thật khắc nghiệt, nhưng tối nào cũng phải ca hát ca ngợi chế độ mới. Một đêm, ông cùng vợ trốn khỏi lều, trốn về nhà cũ ở Nha Trang, đào lấy vàng còn cất giữ sau vườn. Sau đó, trong vòng mấy tháng, ông bà bí mật mua tàu vượt biển sang Mỹ.
Chuyến đi nhiều nguy hiểm. “Nhưng bố thà chết chứ không thể sống một đời thế này,” ông bảo con. Vợ con và hai đứa nhỏ quyết định đi theo. Cả nhà năn nỉ con đi theo, nhưng đầu óc con bây giờ hướng về miền bắc. Con đã mất mẹ một lần nên không thể để xảy ra lần nữa.
Nhìn vợ con ra đi, là điều khó khăn nhất trong đời con.
Còn lại một mình, con mướn xe xích lô, đón khách ở góc đường. Con chờ đến lúc nối lại liên lạc với mẹ. Con tin rằng mọi chuyện sẽ sớm thay đổi, rồi con có thể quay về làng xưa tìm mẹ. Không may, cư xử của chính quyền với những người như con vẫn rất khó khăn. Nếu con viết thư hay trở về gặp mẹ, con sẽ gây hại cho cả nhà.
Con ngóng chờ tin Linh và hai đứa Thiện, Nhân và bố vợ nhưng chỉ nghe được những chuyện rùng rợn. Chuyện kể cướp biển, hãm hiếp, giết người, hay tàu trôi dạt trên biển không thức ăn, không nước uống và xăng dầu, có thể bị lật do bão tố. Con chỉ biết cầu nguyện.
Rồi đổ bệnh, con cố tin rằng không có gì nghiêm trọng, tất cả chỉ vì con quá lo mà ra. Dần dần ho ra máu, không gượng dậy nổi, con phải bán nhà để chữa chạy.
Giờ con trong chiếc lều xiêu vẹo này, hy vọng khỏe trở lại, ước sao gặp mẹ để
nói cho mẹ biết con nhớ mong mẹ biết bao nhiêu.
Lý do vậy đó, con không thể liên lạc với mẹ sớm hơn. Sẽ còn một câu hỏi nữa, mẹ rất muốn có câu trả lời: Tại sao con lại có bức thư của em Thuận?
Thật là một điều kỳ diệu.
Đó là năm 1972, sau cuộc không kích. Đơn vị của con tiến vào rừng tìm chỗ ẩn nấp của địch quân. Gần bên hố bom, con thấy một xác người lính trên đồng phục và nón có ngôi sao của cộng sản. Con lần tìm trong ba lô, ngoài những vật dụng thông thường còn có một số thư tay.
Đúng ra con phải nộp mấy lá thư đó cho chỉ huy đơn vị nhưng lại không cưỡng nổi tò mò xem qua địa chỉ trên đó. Địa chỉ đủ loại: làng, xã, huyện, thành phố, gởi cho ông bà, cha mẹ anh chị em. Con đọc nhanh qua và tim mình chợt như thắt lại. “Gửi Mẹ Trần Diệu Lan, 173 Phố Khâm Thiên, Hà Nội,” lá thư gởi cho mẹ và người gởi là Nguyễn Hoàng Thuận em của con. Thế là con giấu lá thư, đến khi còn một mình, mở ra con đọc như nuốt từng chữ. Nước mắt trào ra. Suốt những năm sau, lá thư luôn nằm trong ngực áo của con. Chính bức thư cho niềm tin rằng nhà ta sẽ được đoàn tụ.
Con đã mong muốn gặp được mẹ trong hoàn cảnh sống tốt hơn, có công việc, xung quanh là vợ và mấy đứa nhỏ. Nhưng một lần nữa, số phận lại biến con thành một kẻ thất bại, đầy bệnh tật. Con không có gì tặng mẹ ngoài nỗi buồn đau.
Mẹ và các em Ngọc, Đạt, Thuận, Hạnh và Sáng, nếu mọi người gặp được trước lúc con chết hãy thu hết can đảm nhìn hình hài đáng thương này mang bên trong ngọn lửa vẫn cháy mạnh mẽ. Ngọn lửa đó cho nhà ta, cho tổ tiên và cho cả ngôi làng của mình nữa. Ngọn lửa đó cháy lên để xin một lời tha thứ. Tha thứ cho con và anh đã không có mặt trong lúc khó khăn nhất, cả lời xin lỗi vì con đã tham gia cuộc chiến. Không phải để huynh đệ tương tàn mà để đấu tranh cho quyền được tự do.
Mãi mãi và mãi mãi. Con Minh.
Tôi đặt lá thư xuống, như kiệt sức. Không thể tin được, cậu Minh vẫn vào quân đội dù có cơ hội tránh nhập ngũ. Mặt khác, cậu chịu nhiều oan ức nên căm ghét chiến tranh giống như cậu Đạt.
Bà đứng lên, lảo đảo như chiếc bóng đến bên giường.
“Có lẽ anh ấy nói dối,” dì Hạnh nhìn cậu Minh đang khóc trong tay bà. “Anh ấy đã giết anh Thuận. Thế nên mới có lá thư và không dám liên lạc với mẹ.” “Thuận nó bảo gởi lá thư theo một người đồng đội sắp ra bắc,” cậu Đạt lên tiếng. “Hoàn toàn phù hợp với những gì anh Minh viết. Anh biết mà, anh
Minh không bao giờ nói dối cả.”
Mắt mẹ tôi sưng lên đầy nước mắt. “Nhưng anh ấy đã chiến đấu cùng với lũ đế quốc Mỹ khát máu và những con quái vật ấy…”
“Chị à, chiến tranh là vậy,” cậu Đạt nói tiếp. “Chị không nhớ chính người lính miền nam đã cứu chị đó thôi? Và người lính trên chiếc trực thăng đã không bắn em sao? không phải ai phía bên kia chiến tuyến đều xấu cả.”
Mẹ cúi đầu, cắn môi.
“Chị Ngọc và Hạnh đừng quên anh Minh cư xử rất tuyệt vời với anh chị em ta, chính anh là người bảo vệ trước mấy tên chuyên bắt nạt. Còn nhớ cái tên chuyên ném đá trên đường mình đến trường không? Anh Minh đối đầu với hắn ngay.”
“Anh còn đóng bè chở mấy anh em trong ao làng.” Tiếng mẹ thì thào. “Có lần chị muốn hái một chùm hoa gạo trên cao, anh đã leo lên hái. Nhánh cây bị gãy, ngã xuống rất đau, thế mà chị chạy lại thấy anh cười nói rằng được xoa mông. Anh đưa cho chị cành hoa còn nguyên vẹn.” Mẹ cười phá lên.
“Anh Minh là thế đấy, đừng để những chuyện không đâu thay đổi cách nhìn đi.” Cậu Đạt kết luận.
“Chuyện hồi bé có nghĩa gì chứ.” Dì Hạnh lắc đầu. “Nếu anh ấy không tự tay giết anh Thuận, thì đồng đội anh ấy làm thôi.” Dì đưa mắt nhìn đồng hồ đeo tay. “Em không ở lại được nữa đâu. Nửa giờ nữa có chuyến tàu vào Sài Gòn.” “Nhưng em mới ra mà,” mẹ và cậu Đạt đồng thanh kêu lên.
“Em không thể chịu đựng thêm gánh nặng của gia đình này thêm một phút giây nào nữa.” Dì nói. “Nhiều năm qua em cố gắng hết mình sống cho mọi người.
Nhưng có ai quan tâm em thế nào. Nếu anh Minh tuyệt vậy bảo anh ấy bảo vệ giùm mấy đứa con em ở trường khỏi mấy đứa chuyên bắt nạt đi. Mấy đứa con em bị gọi là Bắc Kỳ ngu. Chúng còn bảo con em ‘bố mẹ tụi bây xâm chiếm miền nam giành hết phần của cha mẹ tụi tao’.”
“Chị xin lỗi,” mẹ nói. “Sao không bao giờ em kể cho gia đình nghe?”
“Chị lúc nào cũng chìm đắm trong chuyện của mình. Mà chị giúp gì được chứ? Ai cũng nghĩ em sống sung sướng lắm, cuộc đời có bao giờ tròn trịa đâu chứ. Chị có biết vì lý lịch của em mà chồng em phải chứng minh lòng trung thành với đảng hết lần này qua lần khác? Lúc nào anh ấy cũng bị người ta xét nét. Nếu biết có ông anh vợ là ngụy, sự thể còn thế nào nữa?”
“Hạnh,” cậu Đạt lên tiếng. “Anh hiểu tâm trạng của em, nhưng một giọt máu đào hơn ao nước lã em ạ. Anh Minh là ruột thịt, lại đang hấp hối.”
Vai dì rũ xuống. “Lúc nãy em nói với anh rồi đó, anh Tuấn bảo nếu anh Minh là ngụy quân phải bỏ đi ngay, em đã hứa rồi và không thể sai lời được.”
NẰM TRÊN CHIẾU, tôi ôm lưng bà. Bà khóc mãi cho đến lúc kiệt sức. Tôi vùi đầu vào áo bà. Cơ thể của bà rung lên làm cổ họng tôi khô cháy. Bà cố gắng để gia đình được đoàn tụ, giờ lại tan vỡ lần nữa.
Giờ này, dì đã lên xe lửa. Dì có khóc như mọi người khóc khi dì bỏ đi không? Nhiều năm qua luôn mơ có cuộc sống như dì, nhưng tôi hiểu ra tình cảnh của dì: luôn giằng xé giữa gia đình và trung thành với chồng.
Ngực cậu Minh hơi thở đều đặn lên xuống. Lúc dì chào ra đi, không biết cậu nghĩ gì nhỉ? Tôi cứ đoán cậu sẽ năn nỉ dì ở lại, nhưng không, cậu chỉ nắm tay mỉm cười cám ơn. Chắc cậu đoán ra được lý do nhưng không hỏi.
Lúc đầu tôi rất sợ cậu là lính Việt Nam Cộng Hòa nhưng lá thư làm tôi choáng váng. Tôi cứ tự hỏi cậu có đối mặt với bố, có phải là người gài mìn để nổ đứt hai chân cậu Đạt không.
Ước gì có Tâm ở đây, nói với em mọi chuyện sẽ qua đi. Nếu em tựa vào vai anh, dầu chỉ một giây, em cũng không run rẩy thế này.
Tâm luôn có mặt bên tôi. Anh luôn là người đầu tiên đọc bài thơ tôi đăng báo. Anh thuyết phục tôi học tiếng Anh. Dưới ngọn đèn dầu, hai đứa tôi dịch trang cuối cùng cuốn Ngôi Nhà Nhỏ Trong Những Cánh Rừng Đại Ngàn. Qua cả cuốn sách tôi lại nghe bố của Laura hát lên; ông cũng giống bố tôi.
“Tâm” tôi gọi tên anh rồi giật mình thức giấc. Bà và cậu Minh vẫn còn ngủ say.
Chiều đã muộn, không khí xung quanh vẫn oi ả.
Mẹ và cậu Đạt đi đâu mới về. Ra phía sau nhà, hai người chỉ cho tôi thấy mớ thức ăn mới mua về. Mẹ mở một túi thuốc tây. Thì ra hai chị em đến bệnh viện thuyết phục bác sỹ cho cậu nhập viện trở lại, nhưng không có giường trống.
Cậu Minh thức dậy, nôn ra máu. Mẹ tôi khám và cho cậu uống thuốc. Bà đút cháo cho cậu. Đến lúc uống thuốc bắc, cậu lại bịt mũi ráng nuốt vào. Bà bên cạnh ầu ơ hát ru.
“À à ơi, làng tôi có lũy tre xanh, có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng. À à
ơi ”
Bà cũng hát ru tôi như thế.
Cậu Đạt ngồi xuống bên giường. “Anh có muốn em làm gì không?”
Cậu Minh sờ chiếc chân gỗ, môi mấp máy. “Anh xin lỗi.”
“Em cũng xin lỗi, đáng ra em nên chạy theo cậu Công và anh. Có thể em đã cứu được anh lúc một mình bên bờ sông.”
Cậu Minh lắc đầu, cầm lấy tay cậu Đạt để lên đầu mình.
Hôm sau, cậu Minh rất tỉnh táo. Cậu nói nhiều lắm, không hề có một từ nào buồn thảm, chỉ toàn chuyện vui thời thơ ấu, con của mẹ, anh của các em và cả những ký ức vui tươi gia đình cậu trong nam. Cậu xin mọi người ngồi bên kể cho cậu nghe chuyện phía bắc.
Cậu cho mọi người xem hình hai đứa con, tôi đã khóc. Trong ảnh, cậu quàng tay ôm mợ Linh đang cười, tay kia ôm hai người anh chị họ Thiện Nhân của tôi. Cậu đã cố gắng cả đời mình giữ gìn những điều thiện nhân trong đời. Hy vọng gia đình nhỏ mang mơ ước của cậu vượt qua bên kia đại dương và gieo vào mảnh vườn trong ngôi nhà mới.
Cậu Minh trở mệt, linh mục đến cậu nguyện. “Con bà đã mang thánh giá của đức Kitô trong suốt cuộc đời. Giờ đây cậu ấy đã trút bỏ những gánh nặng ấy để về nước ngài.” Vị linh mục nói với bà.
Sáng hôm say, tiếng khóc của bà đánh thức tôi dậy. Cậu Minh nằm đó lặng yên, thân thể bất động.
Cậu Đạt, mẹ và tôi quỳ xuống bên giường, chắp tay lên trước ngực. Bà nhắm mắt niệm Phật đều đều theo tiếng mõ. “Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát.” Mọi người niệm theo.
Có tiếng động làm tôi giật mình quay ra. Tấm tôn sột soạt khi cánh cửa trước hé mở. Một luồng sáng lọt vào, tôi nheo mắt nhìn thấy một bóng người cao ốm.
Tôi đứng bật lên. “Cậu Sáng, cậu đến rồi!”
Bà đưa tay ôm lấy cậu.
“Mẹ ơi, cho con xin lỗi,” cậu Sáng nói, nhưng bà kéo cậu đến bên giường.
Tôi nhìn ra đường, hy vọng gặp dì Hạnh nhưng trong tầm mắt tôi chỉ là khoảng không vô vọng.
Đứng kế bên cậu Sáng, lần đầu tiên tôi mới để ý thấy tóc bạc của cậu. Tôi không biết sợi nào hóa bạc vì mất đứa con gái, sợi nào không còn đen do hôn nhân bị đổ vỡ, sợi nào phai màu do sợ hãi con quỷ có tên Màu Da Cam. Trước giờ tôi nào có lưu tâm, nhưng nay tôi lại thắc mắc. Giờ đã đến lúc tôi nên quan tâm đến con sóng ngầm trong đời sống của dì Hạnh, những con sóng ngầm đó có thể cuốn dì ra khỏi tầm tay của gia đình.
Cậu Minh mất đi, tôi mang cuốn sổ về lại nhà. Ngồi trên sàn nhà, tôi viết cho người cậu bị số phận đánh cắp, cậu như chiếc lá bị cắt lìa cành, trong giờ phút cuối cuộc đời cố gắng để về cội. Tôi viết cho bà, người luôn mong mỏi ngọn lửa chiến tranh tắt đi, chỉ vì những hòn than nóng của nó âm ỉ đốt cháy trên da thịt bà. Tôi viết cho các cậu, cho dì và cả bố mẹ tôi, là những người bất lực đứng nhìn cuộc chiến huynh đệ tương tàn, cuộc chiến đó cứ xảy ra dù họ có chết hay còn sống.