Nghệ An, 1980
Tôi như chìm đi trong đống rơm khô, những cọng rơm của làng Vĩnh Phúc trải dài xung quanh. Tôi hít một hơi sâu, thứ hương thơm thoang thoảng và hiểu rằng bà, trong câu chuyện kể cho tôi nghe, gọi là mùi hương cho giấc ngủ.
Bà, mẹ và tôi về đến làng đầu buổi tối. Ông Hải cùng vợ, người con và mấy đứa cháu đang dùng cơm khi chiếc xe trâu đến cửa, họ rất vui mời bà cháu tôi dùng bữa cơm đạm bạc. Ông Hải xới cơm vào bát cho tôi. Tôi xúc động không biết nói gì để cám ơn ông đã cứu bà khỏi Con Quỷ Độc Ác và đám dân làng đang điên lên kia.
Hàn huyên đến khuya, bà kể cho ông nghe chuyến đi đến Nha Trang và cậu
Minh.
“Cho ta xin lỗi,” Giọng ông trĩu nặng nỗi buồn. “Đáng ra ta nên cố gắng nhiều hơn để hai mẹ con có thể gặp nhau đâu đó trong lúc chạy trốn.”
Tôi cắn môi, thời cuộc nhiễu nhương của lịch sử không chỉ làm mọi người chia lìa mà còn làm họ thấy có lỗi vì những việc ngoài vòng kiểm soát của chính họ. “Chú à, chú đã làm hết mình rồi,” bà nói. “Chú đã cứu mạng cả gia đình con, vợ con cháu Minh ngày nào đó sẽ quay về, chúng nó sẽ đến đây để lạy tạ ơn ấy.” Gia đình không có chút tin tức nào về mợ Linh, anh Thiện và chị Nhân, nhưng bà vẫn tin rằng mọi người sống sót qua cuộc hành trình đầy nguy nan trên biển và trở về tìm lại nguồn cội. Tôi không nói cho bà nghe rằng Tâm và tôi đang dùng bức hình để tìm lại những người thân ấy, tôi muốn mình cũng được như bà: không bao giờ từ bỏ hy vọng.
Bà muốn cậu Sáng thay đổi, và cậu đã không làm bà thất vọng. Giờ đây cậu thường xuyên về thăm nhà, rồi cùng với bà và mẹ vào Sài Gòn thăm dì Hạnh. Mùa tết Trung Thu năm ngoái, cậu dạy tôi làm lồng đèn ngôi sao để đi rước.
Tôi ôm chặt chú chim sơn ca, lắng nghe những tiếng hót trong thinh lặng, ước mong bố có mặt ở đây cùng với mọi người đi thăm gia đình Tâm vào ngày mai. Dầu có ở đâu, tôi chắc một điều rằng bố sẽ thương yêu Tâm.
Từ phòng khách tiếng của bà, mẹ và ông Hải vọng sang. “Bác của Tâm có đến thăm con mấy tuần trước chú ạ,” bà nói. “Cậu ấy bảo Tâm muốn xin phép cưới Hương ra giêng năm tới.”
Tim tôi đập thình thịch, cả hai đều còn rất trẻ và chưa xong chuyện học hành nhưng không chờ được nữa. Với Tâm, tôi đã tìm được tình yêu đích thực cho mình.
“Tốt đấy,” tiếng ông Hải.
“Cháu vẫn chưa đồng ý vì còn phải tìm hiểu thêm gia đình của họ nữa ạ,” bà thì thào.
“Có gì phải lo mẹ,” mẹ tôi góp lời. “Nó được vậy, chắc chắn gia đình không có vấn đề gì đâu.”
Giống như mẹ, tôi không một chút hoài nghi. Tôi nóng lòng muốn gặp bố mẹ và cô em gái của Tâm. Nhưng tôi vẫn còn chút lo lắng về người ông của anh. Hy vọng ngày đó, ông ra khỏi phòng để gặp và chấp thuận tôi làm thành viên mới của gia đình.
“Sao mà ông không thích em được chứ? Ai cũng yêu mến em cả mà.” Tâm nhướng mày khi tôi chia sẻ lo lắng ấy. “Hơn nữa, ông có vấn đề gì thì tự ông mang lấy thôi, với anh ông là người hoàn toàn xa lạ.” Tâm kéo tôi đến gần, ghé miệng sát tai tôi. “Anh yêu em, em sẽ là vợ anh mà.”
Nhắm mắt lại, tôi thấy mình và Tâm đang trên chiếc thuyền tam bản trôi xuôi theo dòng sông. Đến chỗ nước xiết, con thuyền bị lắc mạnh, xoay ngang. Phía trước rất nhiều đá lớn và vũng xoáy. Tôi biết có điều gì bất trắc xảy ra, hai chúng tôi sẽ cùng nhau giải quyết, đến bến bờ bình yên.
TIẾNG GÀ GÁY xuyên qua mấy bức tường bằng đất, làm tôi tỉnh hẳn trước những cơn mơ thoáng qua. Mở mắt, rõ ràng tôi nằm ngủ trên chiếc chiếu, giờ lại nằm trên giường không có gì ngoài hai chiếc gối đã bẹp xuống. Bà và mẹ đã mang tôi vào đây, nhưng mọi người đâu cả rồi?
Vén mùng, bước xuống giường, tôi thay đồ rồi ra ngoài. Sắc đêm đang chuyển dần sang màu xám. Không khí lạnh và trong lành phả vào da tôi.
Sương vẫn còn lãng đãng trong sân trước nhà. Trên mấy nhành cây, mấy chú chim ríu rít nhảy chân sáo.
Mẹ, bà và ông Hải ngồi trên chiếc chiếu trải ngoài hiên, trong tay cầm những tách trà đang bốc khói.
“Cháu sao vậy? Ngủ trên ổ rơm luôn.” Bà hỏi.
“Cháu đi tìm hương thơm cho giấc ngủ.” Tôi cười, tay đỡ tách trà ông Hải đưa sang. Tách trà có vị như không khí trong lành ở vùng quê này vậy. “Hương vị của giấc ngủ à?” Bà cười. “Thế tìm thấy chưa?”
“Tìm ra muỗi trước thì có.” Mẹ đang săm soi mấy vết muỗi đốt trên chân tôi. Mẹ lấy một tách trà khác, thổi cho nguội rồi bôi lên mấy vết đỏ, đỡ ngứa hẳn. Tôi dựa người vào mẹ, thấy mình bé bỏng trở lại đang tìm hơi ấm từ đó.
Mặt trời ló ra khỏi cụm mây, vẽ bầu trời ánh lên sắc hồng, rải những tia nắng nhẹ nhàng xuống sân.
“Mọi thứ ở đây thay đổi quá nhiều,” bà nói. “Không khéo cháu thành người lạ mất rồi chú ạ.”
Mẹ uống hết tách trà nắm tay đỡ bà đứng dậy. Ông Hải và tôi vội mang giày dép vào.
Bước chân tôi nhẹ tênh qua những con đường tôi đã quá quen theo lời kể của bà. Qua ngôi chùa có mái cong vút như mấy ngón tay của người nghệ sỹ múa điêu luyện, tiếng chuông chùa ngân lên tỏa rộng trong không khí mát lạnh. Rồi đến chiếc ao trải dài, mặt nước tĩnh lặng như một tấm lụa. Vòm tre xanh đung đưa, tỏa bóng mát xuống mấy ngôi nhà thấp bên dưới dọc theo đường đi.
Nhiều dân làng lên tiếng chào ông Hải. Một bà lớn tuổi đứng lặng đi trên đường. “Diệu Lan, đấy ư?” bà ta hỏi. Nếp nhăn trên mặt bà ấy như hằn sâu thêm khi bà tôi gật đầu.
Bà ấy đặt chiếc rổ xuống, “Tôi … tôi xin lỗi vì những gì đã xảy ra.”
“Có gì đâu, gặp lại chị là vui rồi,” bà trả lời. “Chuyện gì xảy ra rồi để nó qua luôn đi. Mong chị gặp những chuyện tốt đẹp nhé.”
Chúng tôi nhìn bà ấy lê bước đi, chiếc đòn gánh như ấn xuống đôi vai xương xẩu.
“Mụ ấy là kẻ hô khẩu hiệu, vung nắm đấm lên trời mà,” mẹ nói. “Con làm sao quên được khuôn mặt đê tiện đó chứ.”
“Thôi bỏ qua đi con.” Bà khuyên. “Cứ mang ác cảm trong lòng, mình là người hứng chịu hậu quả trước hết.”
Ông Hải lắc đầu. “Kinh khủng thật đấy, lúc Nạn Đói xảy ra, chính gia đình ông bà chủ đã cưu mang bà ấy. Thế mà lại trở mặt quay lưng.”
Đến đoạn đường bụi đất đầy ổ gà, bà thở hổn hển. “Đường vào nhà ta đây.” “Nhà ta, nhà ta đây,” bà nói nhẹ như hơi thở. Tôi nhìn theo ánh mắt của bà, một hàng rào dày ngăn khuôn viên với bên ngoài.
Đến được cổng trước, tôi đưa mắt nhìn vào nhà, những tưởng sẽ gặp một căn nhà năm gian xung quanh là mảnh vườn tươi tốt. Nhưng không, tim tôi chùng xuống khi chứng kiến cảnh tiêu điều, hoang phế.
“Bảy gia đình đang ở đây.” Ông Hải nói khi đưa chúng tôi qua cổng. Ông lên tiếng gọi, “Có ai ở nhà không?”
Bà, mẹ và tôi vịn nhau đi chầm chậm qua chiếc sân trơn trợt. Ngày trước được lát bằng gạch đỏ, bây giờ mặt sân đầy vũng nước rêu xanh và rác rưởi. Cây nhãn không còn nữa. Cỏ dại và rêu xanh bao phủ hầu hết mọi nơi.
Cũng vào đến nhà! Đâu rồi mấy cánh cửa chạm trổ tinh vi hình hoa lá chim muông; những bức bình phong sơn mài, sẫm màu lấp lánh ánh nắng; mấy con rồng, phụng bằng sứ trên đầu mái nhà cong vút?
Chuyện cửa nhà ọp ẹp cửa chính cửa sổ mất hết; mấy bức tường mục nát dán đầy tranh cổ động kế hoạch hóa gia đình hay bài trừ ma túy; mấy bức tường tạm bợ như xương cá chia nhỏ căn nhà quả không đáng gì.
Mùi hôi thối xộc vào mũi tôi. Miếng vườn quanh nhà chỉ là một vạt đất không cây cối với những hố lớn, ruồi nhặng vo ve.
“Mấy hố xí lộ thiên đấy.” Ông Hải thở dài. “Phân lạc bây giờ mắc mỏ lắm; phân người quý hơn vàng.” Ông đưa tay đuổi ruồi. “Hồi mới đến đây, mấy gia đình tranh chấp chia chác phân bắc. Cuối cùng mỗi gia đình tự đào cho mình một hố xí.”
“Nơi đây trước khác gì trong truyện cổ tích đâu.” Mẹ tôi nắm chặt tay thành nắm đấm. “Đi thôi mẹ, con chịu hết nổi rồi.”
Bà khóc, đi nhanh vào trong nhà. Một bà lão hiện ra, tóc bạc trắng. Bà ấy dọ dẫm dùng gậy đi trên hiên nhà. Đến chỗ năm bậc thềm xuống sân, bà ấy để cây gậy sang bên khum xuống bò bằng hai tay, hai đầu gối như con vật.
“Để tôi đỡ cho bà.” Bà tôi đỡ bà ấy đứng lên.
Đến gần bên, tôi nhìn thấy chiếc trán vồ, răng trước vẩu ra như răng thỏ. Đúng mụ bán thịt, mụ ta truy sát quyết bắt cho được bà tôi. Mụ là một trong những người cố tống gia đình tôi ra khỏi căn nhà của tổ tiên để chiếm lấy.
Nếu bà tôi có ghê tởm bà cũng không thể hiện. Bà giữ tay mụ, dẫn xuống hết mấy bậc thang.
“Bà là ai thế?” mụ bán thịt đưa đôi mắt trắng đục nhìn bà, rồi dùng đôi tay quắt queo sờ lên mặt, khịt mũi ngửi cả bà.
“Tôi đến thăm một người quen trong làng.” Bà nói bằng giọng Hà Nội. “Thảo nào thơm thế, không hôi hám như cái đám chuột bọ sống ở đây.”
Mụ nhăn mặt. “Đau thế không biết” mụ đấm đấm vào thắt lưng. “Làm ơn dẫn cho tôi vào nhà xí, gần bên bếp, phải đi cầu cho đủ chỉ tiêu, không thì cái thằng con mất dạy nó dùng roi đánh tôi đấy.”
Bà lại dẫn mụ ta vào nhà xí. Với những gì đã chịu đựng, bà tôi lẽ ra đã đẩy mụ vào hố phân người ấy, nhưng không, bà để mụ ấy ngồi đâu đấy rồi đi ra.
Mọi người chuẩn bị ra đi, tôi nhìn lại người đàn bà tóc bạc, đang ngồi trong hố xí, ruồi nhặng bâu xung quanh. “Trời có mắt,” tôi chép miệng. “Gieo nhân nào gặt quả ấy thôi.”
XE TRÂU ĐẾN, bà chất lên mấy bó hoa, mấy giỏ trái cây, và nhang. Ông Hải lên xe trước, đưa tay kéo mọi người lên. Chào từ biệt gia đình ông, chiếc xe trâu yên lặng quay bước.
Rừng Nam Đàn dang rộng đôi tay ôm lấy tôi khi chiếc xe trâu ngừng lại. Đến bên một bụi cây đang nở hoa, bà hái đưa tôi mấy trái màu tím “sim tím đây cháu ạ.” Tôi cho vào miệng một vị ngọt tan ra.
Càng đi sâu vào rừng, tôi thấy càng thanh thoát. Con đường hẹp dần, bao quanh là những cây cao, lá xào xạc. Phải len qua những chỗ ken dày, đến bên một khoảng rộng mở, bao quanh là bụi cây cùng với những loài hoa dại đủ màu vàng, đỏ, trắng và tím. Có năm nấm mộ ông bà cố, ông ngoại, ông Công và bà Tú. Bà tôi đã đưa tất cả về đây, để mọi người được nằm cạnh nhau.
Bà quỳ xuống, tay chắp trước ngực, cúi lạy đầu chạm đất, rồi cứ giữ như thế trong một lúc lâu. Tôi làm theo, nước mắt chảy ra chan hòa.
Hai mẹ con tôi cùng nhau cắm hoa, chất đầy những đĩa hoa quả phía trước các ngôi mộ.
Ông Hải đốt một bó nhang. Tôi nhận lấy mấy cây nhang, thành kính đưa cao quá đầu. Làn khói bốc lên tận trời cao mang theo lời khấn nguyện của tôi với tổ tiên. Cái chết và những khổ đau mà ông bà phải chịu dạy cho tôi về tình yêu và hy sinh.
“Xin phù hộ cho con tìm lại được bố.” Tôi thì thào. Dầu bố còn sống hay không còn con xin được biết.
CẢ NHÀ ĐẾN ngôi làng gia đình Tâm ở Hà Tĩnh, anh đã đứng bên đường trước nhà chờ sẵn. Anh mặc chiếc áo tôi may, khi theo học lớp nữ công gia chánh. Mặt Tâm sáng lên khi nhìn thấy tôi, tôi biết vì sao mình yêu anh. Qua một năm quen biết, anh đã là chàng thanh niên cao lớn, nhưng mỗi lần nhìn thấy anh lòng tôi đều chùng xuống.
Tâm đỡ mọi người xuống xe xong mới đến lượt tôi. Anh bồng tôi xuống, ôm quay vòng vòng. Tim tôi đập mạnh, Tâm thì thào, “Anh nhớ em lắm.”
Tôi phải van xin anh mới đặt tôi xuống. Đám con nít bâu quanh, lấy tay bụm miệng cười khúc khích.
Tâm đưa mọi người đi theo con đường uốn quanh đến nhà. “Bố mẹ nóng lòng muốn gặp em đấy.” Anh nắm chặt tay tôi. Dưới giàn hoa giấy, một người đàn ông và một người phụ nữ đứng chờ khách, lên tiếng chào bà và ông Hải. “Chào bà, chào bác,”
Mẹ của Tâm bước đến đưa tay ôm lấy mẹ tôi.
“Chị đến thăm nhà quý hóa quá. Con gái chị đẹp lắm.” Mẹ Tâm đưa mắt nhìn, làm tôi đỏ hết cả mặt.
“Mời mọi người vào trong ạ,” bố Tâm lên tiếng.
“Cám ơn hai ông bà đã gởi biếu gia đình món quà,” bà nói. “Cuối cùng rồi hai gia đình cũng gặp nhau.”
Nhà Tâm mát mẻ, không khí gần gũi. Bên mấy chiếc cửa sổ đầy ánh nắng là mấy chiếc chậu hoa; trên tường là mấy bức tranh trang nhã.
“Đây là Lành, kẻ chuyên gây sự,” Tâm giới thiệu cô em gái. Tôi mến ngay nụ cười của cô ấy. Lành cài chiếc băng đô màu hồng tôi may gởi cho anh trai đem về tặng. Khổ người cô ấy cỡ tôi, biết thế tôi may chiếc váy.
Trong bếp, mấy nồi thức ăn đang tỏa ra mùi thơm; chảo kêu lên xèo xèo. Mẹ Tâm đã vào lại trong bếp. Tôi xắn tay áo phụ Lành rửa rau. Điều ngạc nhiên, tôi không hề thấy bối rối, khi nói chuyện cùng mẹ và em gái Tâm, cả hai cười vui vẻ làm tôi thoải mái cười theo.
Nấu nướng xong, mọi người sắp cúng ông bà. Đĩa thức ăn đặt trên mâm đồng, điểm thêm bằng hoa hồng đỏ thắm và sen trắng được làm từ cà chua và hành. Tâm mang lên phòng khách, bố anh đang tiếp chuyện và trà cho bà và ông Hải. Tôi và Tâm xếp thức ăn ra chiếc bàn đặt trước bàn thờ. “Hôm nay anh sẽ xin tổ tiên cưới em làm vợ, không chờ đến ra giêng nổi nữa.”
Tôi bấm vào tay anh. “Làm gì mà mất kiên nhẫn vậy.”
Anh bấm lại vào tay tôi. “Lo làm vợ cho tốt đi.”
Cả hai cố nhịn cười, mẹ Tâm đi qua tay dẫn một cụ ông. Ông lão lưng còng xuống, tay chân run rẩy. Ông có vẻ đau đớn lắm.
“Dạ đây là ông ngoại Tâm ạ,” mẹ Tâm giới thiệu với bà, mẹ và ông Hải.
Bà nhìn lên, miệng há ra rồi kêu lên thảng thốt. “Ôi trời đất ơi!” Tôi chưa từng thấy bà thảng thốt đến thế.
Đến lượt ông Hải cũng kêu lên “Ôi trời đất ơi!” Tôi chỉ còn nhớ sau đó bà ngã sóng soài ra sàn nhà.
DÌU BÀ VÀO GIƯỜNG CỦA TÂM, mẹ xoa trán cho bà.
“Dậy đi bà” tôi van vỉ.
Mi mắt bà run run. Chuyện gì thế? Mà sao bà lại khóc?
Toàn thân bà run rẩy. “Không thể như thế được,” bà thút thít.
Tôi nắm lấy tay bà, nhưng ông Hải kéo tôi ra ngoài rồi nói. “Hương, để bà nghỉ một lát đi cháu.”
Tôi đứng dựa tường rùng mình, nhìn mẹ ra sức an ủi bà. Ông Hải đi đi lại lại.
“Ông à có chuyện gì thế?” tôi hỏi.
“Hương à, ông không chắc lắm…” ông lắc đầu.
“Chuyện gì vậy? ông nói cho cháu biết đi.” Tôi giữ chặt tay ông lại.
“Ông rất tiếc.”
“Vì chuyện gì vậy ông?”
Ông Hải nhìn tôi, mắt mở lớn, hai bên khóe miệng nhếch lên. Ông giữ lấy vai tôi một lúc lâu rồi kéo lại gần thì thào. “Thì…ông của Tâm…ông của Tâm là Con Quỷ Ác Độc đấy.”
“Không! Ông nhầm rồi đấy.” Tôi đẩy ông ra.
“Ông cũng muốn mình nhầm. Nhưng ông làm việc cho hắn nên ông biết mà.” Tôi chạy lao ra khỏi phòng, qua Tâm, bố mẹ anh và cả Con Quỷ Ác Độc. Cứ như thế tôi vút đi dưới những tán cây đầy hoa đến đường làng. “Hương…Hương…” Tâm đuổi theo sau, tiếng kêu trên cả gió, tôi cố chạy nhanh hơn. Tôi không thể quay lại, không thể yêu Tâm nữa vì anh là máu thịt kẻ thù ghê gớm nhất của bà tôi.
HÔM SAU cả nhà về lại Hà Nội sớm hơn dự định nhiều. Chiếc xe đò chật cứng người nhưng sao trong tôi trống rỗng. Mẹ an ủi, nhưng không làm vơi nỗi buồn nặng nề chiếm lấy tim tôi.
Tâm biết về con quỷ ác độc mà giấu tôi hay sao? Anh dối tôi phải không?
Về đến nhà, tôi đặt chú chim lên bàn thờ rồi quỳ xuống lạy, trán chạm đất. Tôi cầu nguyện cho hương hồn bố về với gia đình. Tôi chấp nhận tất cả rằng bố không còn nữa, rằng người tôi tha thiết yêu có thể đã bị chia xa đầy bất ngờ. Tâm đến tìm gặp, nhưng tôi tránh mặt. Anh theo tôi từ trường về đến nhà. Tôi mặc kệ, không thèm nói gì. Lúc anh nói anh ngờ ngệch không để ý đến quá khứ của ông mình rồi xin lỗi, tôi chỉ im lặng.
Dù cố gắng thế nào, tôi không thể ngưng lẩm nhẩm tên Tâm lúc anh không có bên cạnh. Tôi quay quắt nhớ lúc còn nói cười, lúc lục đục. Nhưng tôi sợ rằng nếu làm lành với anh đồng nghĩa với việc phản bội bà.
Hè, thu qua đi rồi đông đến. Tâm vẫn dầm trong giá rét đạp xe bên tôi. Anh cứ nói như thể không có gì thay đổi. Anh kể về kết quả nghiên cứu giống lúa mình đang làm. Nông dân trong tỉnh đang canh tác giống mới do anh phát triển. Ước gì tôi kể được cho anh nghe về sáng tác mới của mình, không anh những bài thơ tôi chỉ đầy im lặng trong tối tăm.
Một hôm trời mưa lạnh, Tâm không chờ tôi ngoài cửa lớp. Tôi lảng vảng quanh đó vì nghĩ rằng anh đến trễ, nụ cười anh sáng lên trong mưa, giọng nói anh sẽ sưởi ấm tôi. Chờ mãi đến tối, nhưng anh không đến. Đường về nhà như dài vô tận, như không sắc màu.
Thời gian ngừng trôi. Tôi nghe thấy tim mình thổn thức. Một tiếng động dù khẽ khàng cũng làm tôi giật mình. Đâu đâu cũng đầy hình bóng Tâm nhưng khi tôi với đến tất cả đều tan biến vào hư không.
SÁU NGÀY QUA ĐI. Tôi lủi thủi một mình đạp xe đi về. Mùa đông rét mướt chưa từng thấy. Rét hơn cả tháng mười một năm nào lúc hai bà cháu trong chiếc hố tránh bom, nước lên tận thắt lưng. Khi ấy tôi sợ chết, giờ đây tôi lại sợ phải sống một mình không người yêu không cả bạn bè thân thiết.
Đạp xe chầm chậm qua khu phố yên tĩnh, quanh đây những căn nhà gạch thay thế cho những căn lều ọp ẹp năm xưa. Cây bàng trước nhà đã cao lắm.
Đẩy chiếc xe vào nhà, tôi thấy bà đang ngồi bên chiếc bàn ăn, hai tay chụm lại trước mặt. Bà đang chìm đắm trong suy tư đến độ không biết tôi mới bước vào. Ngồi xuống bên cạnh, tôi hỏi. “Bà ơi, bà khỏe chứ ạ?”
“Tâm và bố mẹ nó … mới đến gặp bà.”
Bà mở tay ra. Một chiếc dây chuyền tuyệt đẹp.
Cầm chiếc dây chuyền vàng lên, viên ngọc lấp lánh trong tay tôi. Câu chuyện bà kể lại hiện về. “Bà cố để sợi dây chuyền trong túi áo,” tôi nói. “Con Quỷ Ác Độc đã lục lấy của gia bảo nhà mình.”
Bà gật đầu. “Hắn lấy cắp rồi giữ trong ngần ấy năm, trước lúc chết mới kể lại sự thật cho người con gái. Mẹ của Tâm đã tìm thấy và trả lại cho gia đình ta.”
“Con quỷ chết rồi sao bà? Mà hồi nào?”
“Tuần trước cháu ạ. Ừ … hắn chết rồi. Hắn chết mà không làm gì để chuộc lỗi. Hắn gây đau khổ cho mọi người. Không chỉ cho nhà ta mà hắn còn đánh đập con gái rất dã man. Dân làng nhiều người nghĩ, người con gái không thể nào sống được qua những trận đòn ấy.”
Tôi nghĩ về mẹ Tâm về nụ cười và lời lẽ nhẹ nhàng của bà. Bà ấy đúng là một đóa sen trong ao bùn.
Bà tôi lắc đầu. “Bà không thể tin được khi mẹ Tâm trao lại cho bà. Cô ấy có thể giữ làm của riêng nhưng kể rằng giao lại kỷ vật này là chuyện quan trọng. Và xem đấy như một lời tạ tội cho những gì cha mình đã gây ra. Bà bảo không phải là lỗi của cô ấy. Cô ấy cũng chỉ là nạn nhân như chúng ta thôi.”
Bà nắm tay tôi. “Hương à, theo bà, Tâm không hề làm gì trong những chuyện xảy ra. Trước đây bà vẫn cho rằng dòng giống truyền từ đời này qua đời khác nhưng thật ra đều có thể thay đổi. Không nên trách cứ con cháu những gì do cha ông phạm phải.” Bà cười nói tiếp. “Tâm là đứa tốt đấy. Nó sẽ mang đến hạnh phúc cho cháu. Hôm nay nó nói với bà, với nó cháu là tất cả và sẽ không bao giờ chịu thua cuộc.”
“Tâm nói vậy sao bà?”
“Ừ, trước mặt bố mẹ, nó nói vậy là cả tấm lòng. Bà hiểu thật không dễ dàng gì cho cháu. Bà biết tình yêu đích thực là gì, một khi tìm được ta phải giữ gìn. Ý bà là: nếu cháu muốn nối lại với nó, thì cháu có sự chúc phúc của bà.”
Một tia sáng lấp lánh trong mắt bà. Mấy nếp nhăn trên mặt bà như mờ bớt đi, những nét buồn như tan biến hết. Nhìn bà bình an, yên lành như Đức Phật.
Tôi đỡ bà đứng lên rồi vòng tay ôm lấy bà.