Thanh Hóa – Hà Nội, 1955 – 1956
Ổi à, cái ngày bà đứng bên ngoài căn nhà có hàng rào bằng cây dày lá. Bà đợi mẹ con, cậu Sáng ngủ trên tay. Để không gây chú ý, bà ngồi dưới gốc cây bên kia đường đối diện với ngôi nhà đó, ngửa tay xin tiền. Bà là kẻ ăn mày, đang cầu xin hy vọng.
Lâu lắm bà mới thấy mẹ Ngọc xuất hiện, nắm tay một đứa bé gái, hai đứa lom khom chạy đi.
“Chị à, đúng ra mình phải trốn trong nhà chứ?” Đứa bé gái cười khúc khích khi gần chỗ bà.
“Có ai nói vậy đâu.” Ngọc liếc nhìn bà. Nó vừa gội đầu, nước còn chảy ròng ròng từ mái tóc xuống lưng, gương mặt sáng sủa không còn bụi bặm và nước mắt. Trong bộ đồ sạch sẽ Ngọc nhìn xinh đẹp như một bông hoa lài.
“Nhanh lên em, trốn vào sau cái cây này đi.” Ngọc chỉ cái cây sau lưng bà. Đứa bé gái ùa tới, Ngọc đi chậm lại phía sau, hai tay lần vào cạp quần. Thứ gì đó màu trắng sáng lên trong tay nó.
“Mẹ à, con tìm được việc làm rồi.” Nó thả hai vắt cơm ép chặt vào tay bà. “Mẹ đi đi, con không sao đâu. Con sẽ thăm em Thuận lúc nào thuận tiện.”
“Được không con?” Ngọc đã chạy theo cô bé kia rồi.
CÒN LẠI MÌNH CẬU SÁNG, bà tiếp tục cuộc hành trình đến Hà Nội. Bà đã bỏ rơi bốn đứa con trên đường đi, giờ như con bướm rơi mất cánh, như cây không còn lá và cành. Đầu óc bà mụ đi vì thấy có lỗi, nhưng chân vẫn phải tiến lên. Bà tự trừng phạt mình bằng cách đi suốt ngày đêm. Để sống còn bà ăn cả cỏ, cây lúa và bất cứ gì trộm được trên đồng. Cậu Sáng sống qua ngày nhờ sữa mẹ và chút ít đồ ăn bà mớm cho. Trời trở rét nhiều hơn, bà trùm cậu bằng chiếc khăn cô Tú đưa cho; mùi thơm trong đó làm bà ứa nước mắt. Biết là không thể phí một chút sức lực nào cho việc khóc than: bà phải chạy đua với thời gian nếu muốn tìm lại các con.
Hai mẹ con đi nhanh hơn, nhưng chưa được như ý muốn. Quốc lộ là con đường ngắn nhất để đến Hà Nội. Một sáng sớm, bà mon men vào đó xin đi nhờ xe. Thời đó rất ít xe cộ, thỉnh thoảng mới có một chiếc xe trâu hay xe hơi. Đôi người dừng lại nhưng từ chối không giúp. Có rất nhiều trạm kiểm soát dọc theo quốc lộ, không ai dám giúp một người phụ nữ hoàn toàn không có giấy phép đi đường.
Bà quay lại con đường đất song song với quốc lộ. Rồi bà nhớ ra, cháu tin nổi không? Đầu óc mụ mẫm bà quên mất trên người đang mặc chiếc áo rất quý.
Bà vào trong bụi cây, cởi chiếc áo nâu bên ngoài. Lấy chiếc áo lụa, bà nín thở, đầy mồ hôi bụi đất nhưng hãy nguyên vẹn. Ông Công chọn loại hàng đặc biệt mà cũng nhờ chiếc áo bên ngoài che chở.
Bà vùi mặt vào chiếc áo; nụ cười và gương mặt mềm mại của người anh vẫn còn đậm trong trí bà. Chỉ hy vọng ông Hải, tìm được xác cho ông và an táng. Bà tưởng tượng cảnh ông chết mà thấm hết nỗi đau. Chưa bao giờ bà nghĩ đến loạn lạc lại có ngày đổ ập xuống gia đình ta như thế. Nhiều người quen của bà mất người thân, có người cũng vì bạo loạn mà mất mạng, không biết khi nào cái vòng bạo lực mới chấm hết.
Bà tìm con suối giặt áo, ánh mặt trời chiếu sáng trên sớ vải xanh tinh tế, hiện lên vô số chữ Phúc. Một tay cầm chiếc áo, tay kia bế cậu Sáng. Cái khó ló cái khôn. Chiếc áo là chiếc vé đưa hai mẹ con đến Hà Nội.
Cậu Sáng ngoan lắm, cứ bập bẹ chỉ chỏ xung quanh, hoa, bướm, xe hơi, xe trâu đang di chuyển trên quốc lộ như mấy con bọ. Cậu chỉ đến một cái cây bên đường. Hai mẹ con đến gần thì thấy đôi rổ tre, đựng ít ổi, cam ít cau và lá trầu. cạnh bên là chiếc đòn gánh bằng tre. Bà bán hàng đang dựa vào bụi tre dùng nón làm quạt.
“Chào chị.” Bà ngồi xuống bên cạnh, Sáng bò đến mấy rổ trái cây.
“Đừng động vào con.” Bà giữ cậu lại.
“Cho cháu một trái đây.” Người phụ nữ nhặt một quả ổi vàng rộm thử xem có mềm không rồi cho cậu.
“Ổi, ổi” Sáng bập bẹ vỗ tay, cắn mấy chiếc răng sữa vào quả ổi.
“Thằng bé dễ thương ghê.” Bà bán hàng bẹo má cậu. “Chị mới đi chợ về à?” Bà hỏi.
“Vâng mới đi chợ chị ạ…nhưng có ai muốn mua gì đâu. Họ toàn muốn bán những thứ thu hoạch trong vườn nhà.”
“Chị, tôi có cái này, chị muốn xem qua không?” Bà đưa ra chiếc áo. “Đây là lụa của làng Vạn Phúc đấy.” Bà chà nhẹ mình vải lên má bà bán hàng.
“Mềm mại nhỉ.” Bà ấy cười. “Trước giờ tôi chỉ nghe nói chứ chưa thấy bao giờ.”
“Đây là món quà quý anh trai tôi tặng.” Bà nghẹn đi, không muốn xa kỷ vật còn lại của người anh, nhưng còn cách nào khác đâu, bà đưa cho người phụ nữ chiếc áo. “Hợp với chị đấy, chị mặc vào thử đi.”
“Không.” Bà ấy đẩy ra, nhìn bà từ đầu đến chân.
“Chị à, tôi không ăn cắp đâu. Anh tôi mua giá rất cao.”
“Thế sao chị lại cho tôi?”
“Chị có muốn đổi đôi quang gánh này không?” Bà ấy nhìn bà chăm chăm.
Bà nhận ánh mắt của bà ấy mà không tránh đi. “Chị à, tôi cần có việc, với đôi gánh này tôi kiếm sống được.” Bà đưa thêm hai xu. “Chỗ tiền với chiếc áo nhé?”
Kéo bà ấy đứng dậy, bà mặc chiếc áo vào.
“Đẹp quá.” Sáng vỗ tay, khen đẹp.
Bà ấy xoay quanh cười tít. Nhìn vào mắt sáng lên của bà bán hàng, bà biết đã thỏa thuận xong.
“A, A VUI VUI.” Cậu Sáng bập bẹ vui vẻ ngồi trong chiếc giỏ tre phía trước đu đưa lên xuống theo nhịp bước chân. Chiếc rổ phía sau cũng đu đưa xuống lên, chứa đến một nửa là ổi và cam.
“Yên nào con” bà bảo cậu. Hai mẹ con lúc đầu đi chậm sau đi nhanh hơn, Sáng ngồi trong rổ, hai tay nắm hai chiếc dây quai rổ như ông Phật. Cậu ngẩng đầu, khúc khích cười nhìn đàn chim bay hình chữ V trên trời xanh.
“Ngoan nào, để mẹ con ta còn về Hà Nội cho nhanh nhé.” Thế là bà có lý do đi trên quốc lộ, với đôi quang gánh bà như đang đi chợ làng kế bên. Hy vọng không ai làm khó dễ gì một người đàn bà bán hàng nghèo khổ, mang cả con theo trong tiết trời mùa đông giá rét.
“Ai mua ổi đây, cam đây?” Bà cất tiếng rao rất lớn, nước cốt trầu chảy ra bên khóe miệng. Bà nhai trầu để che đi hàm răng trắng. Đổi hai xu và chiếc áo lụa, người phụ nữ kia đưa hết cho bà những đồ đựng trong rổ. Mấy trái cam ổi là vốn kinh doanh của bà.
“Ai mua ổi ây, cam ây,” cậu bập bẹ theo bà, thích thú được mẹ gánh đi.
“Tránh đường!” Có tiếng la từ phía sau. Quay lại bà thấy một người đàn ông và mấy người phụ nữ trên chiếc xe trâu.
“Mời anh mời chị mua ổi nhà trồng ạ…ngọt như đường,” bà mời.
“Ai ổi ây, cam ây,” Sáng vỗ tay, giọng như hát lên.
“Ồ, nhìn thằng bé dễ thương chưa,” một người phụ nữ lên tiếng làm cả bọn họ cười ồ lên theo.
Chiếc xe dừng lại, mấy người phụ nữ nhảy xuống đến bên hai mẹ con.
Bà không thấy họ nữa mà bên hai con trâu đang thở phì phò ông cố đang đứng đó cười nhìn bà. Bố ơi!
“Chị, bao nhiêu một quả vậy, chị có nghe không?” Một người kéo tay áo bà.
Bà chớp mắt, hình ảnh ông cố biến mất. Bà quay sang nói chuyện với khách. “Xin lỗi, hai xu một quả ạ.”
“Mắc thế!” Một người nhăn mặt.
“Đi xa lắm mới đến được đây đó chị. Mềm ngọt lắm đấy.”
Bọn họ lắc đầu. Cu Sáng lúc đó là cứu tinh cho mẹ. “Ai mua ổi ây cam ây.” Cậu vỗ tay, hai lúm đồng tiền sâu trên má.
Họ cười ồ.
“Chị lấy cho ba trái cam hai trái ổi đi. Bọn tôi mua là vì thằng bé đấy.” Một người cười khúc khích nói, rồi tháo chiếc kim băng cài trên miệng túi, lôi ra một xâu tiền xu.
“Con bán hàng đấy Sáng!” bà quỳ xuống ôm chặt lấy cậu, tiếng xe trâu đi xa dần. “Hai mẹ con kiếm lời mua được hai bát phở chỉ trong vòng ít phút.”
Đến chiều bà và cậu Sáng bán hết. Số tiền mua đủ đến hai mươi bát phở. TRONG MẤY TUẦN, bà vừa đi vừa cố gắng kiếm tiền. Đến trạm kiểm soát nào trên quốc lộ lính chận lại hỏi, bà lót tay ít tiền và trái cây, cố thuyết phục họ hai mẹ con đang đi chợ làng kế bên. Cậu Sáng đóng góp không nhỏ trong việc làm nũng với mấy người lính gác. Đúng đấy cháu ạ…bà biết cậu thành người cứng nhắc, nhưng cậu vẫn là đứa con cưng ngày ấy đã có công không nhỏ giúp bà.
Để có hàng tiếp tục bán, bà và cậu đến những làng lân cận, ra chợ trước khi mặt trời ló dạng, thế là mua được hàng vừa tươi vừa rẻ. Lúc đấy, răng đã đổi màu vì ăn trầu, da sạm đen vì nắng gió, người ốm đi nhiều, bà biết mấy kẻ đang săn lùng không thể nhận ra bà nữa. Nhưng hiểm nguy vẫn rình rập quanh đây. Càng đến gần Hà Nội giọng miền trung của bà càng khác người.
Bà phải cố giả giọng Bắc chút đỉnh. Buôn bán có tiền, bà mua dép, áo quần ấm, và thêm một chiếc nón lá cho cậu. Ngồi cả ngày ngoài nắng, ngoài mưa nên nó cũng cần một chiếc nón. Nhưng lúc nào cậu cũng ngửa nón ra sau để như dụ dỗ khách mua hàng. Còn chiếc nón rách của bà, bà giữ lại vì đó là do các con kiếm được cho mẹ. Các con đang thúc giục bà, lúc này bà có thêm chút thời gian để suy nghĩ, và tin rằng chỉ có thầy Thịnh mới giúp được mình. Ông cố ngày ấy rất thân với thầy, mỗi lần đi Hà Nội hay đến ở nhà thầy cùng gia đình vợ và hai đứa con.
Niềm hy vọng như soi sáng cho bà dấn bước.
Thi thoảng bà cho phép mình được nghỉ ngơi, ngủ một giấc thật sâu, bà cứ vào làng xin chủ nhà, trả tiền để được ở lại qua đêm. Trộm đạo nhiều lắm, nhưng không ít người mở rộng cửa cho vào. Hai mẹ con ngủ trên nền nhà đầy bụi, may mắn lắm thì được ổ rơm. Bây giờ nhớ lại bà còn như nghe thấy mùi rơm khô. Đấy đúng là mùi hương đưa bà vào giấc ngủ.
Trên bước đường lưu lạc ấy, đến đâu bà cũng để ý kiếm cậu Minh nhưng không tăm hơi gì.
Cứ đến cuối ngày bà kiệt sức vì thất vọng. Cho đến giờ, thi thoảng bà vẫn mơ thấy đang bước đi với chiếc đòn gánh trên vai, hai chiếc rổ trĩu nặng, con đường trước mắt kéo dài đến vô định. Thức dậy lưng bà ướt đẫm mồ hôi.
Có một lần trên đường vào làng nọ, bà bật khóc. Xung quanh bà những cây mạ mới trổ mầm xanh mướt. Bà đi giữa lời ru dịu ngọt của mạ non, bà chợt nhận ra mỗi khi con người gây cho bà nỗi đau thì chính thiên nhiên là nơi che chở.
Bà hòa mình vào cảnh vật, cất tiếng hát. Hát cho bà và cả cậu Sáng. Bà hát lớn lên trong không gian tĩnh lặng. Phải hát lên, bà nghiệm ra rằng lúc nào bà còn hát được là bà còn sống.
ĐẾN THÁNG 12 NĂM 1955, hai tháng sau cuộc chạy trốn khỏi làng, bà gánh được cậu Sáng đến với mùa đông Hà Nội. Thành phố đang lất phất mưa. Tất cả bao phủ bằng một màn sương mờ ảo. Bà mua thêm áo ấm mùa đông dày, khăn quàng cổ, nhưng hơi lạnh vẫn làm bà run lên.
Choàng thêm tấm vải cô Tú đưa lúc ra đi trên đầu, bà cảm được hơi ấm của yêu thương. Chỉ mong cuộc chạy trốn này không gây thêm khốn khổ cho cô.
Chiều đang dần tắt nắng, hai mẹ con đến được một con phố hai bên là hai hàng cây cao lớn bên vệ đường. Chỉ có vài ngôi nhà lẻ loi, không một bóng người. Biết hỏi ai đến phố Hàng Bạc nhà thầy Thịnh đây?
Nhìn lên bầu trời đã tối thẫm, bà lấy đồ ủ ấm cho cậu đang ngồi trong chiếc rổ chỉ thò đầu ra ngoài.
“Lửa.” Cậu Sáng bập bẹ chỉ tay đến một góc đường mới hiện ra. Phía sau một cái cây cao, một nhóm người đứng vây quanh đống lửa lớn. Tiếng lửa nổ lách cách trong gió mưa. Chính bà cũng phải là đống lửa đó đương đầu với mọi gian khó.
Bà bước nhanh đến, lên tiếng chào họ. Họ quay mặt lại làm bà chùn bước, toàn đàn ông trông rất hung tợn. Trong mắt là ánh nhìn hau háu.
Bà nắm chặt chiếc dây rổ, chạy đi, mắt bà lướt trên con đường trơn ướt. “Ngồi yên nhé con,” bà bảo cậu. Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa mà.
“Nè làm gì mà bỏ đi vội vậy cô em?” Có tiếng gọi giật lại, tiếp theo là tràng cười cợt nhả.
Mấy gã nhảy ra đường chận bà lại. “Anh hỏi sao bỏ tụi anh mà đi?” Một tên lằng nhằng.
Tên đứng đối diện bà, mắt sâu hoắm, má nhô lên, trên đầu chỉ lưa thưa mấy sợi tóc, mùi rượu phả ra từ bộ áo quần dơ dáy.
Hắn thộp lấy chiếc nón lá bà đang đội, “cho anh xem gương mắt xinh đẹp chút nào.” Chiếc khăn của cô Tú rơi xuống đường.
Bà bước lùi lại, nắm hai sợi dây rổ chặt hơn, thoáng nhìn cậu. Giá nào cũng phải bảo vệ đứa con. “Làm ơn cho tôi đi, chồng và bạn anh ấy đang đợi ở nhà.”
“Ồ, tiếng miền trung nghe dễ thương quá nhể.”
Tên răng vàng ệch ghé mắt nhìn, đôi mắt đỏ ngầu như máu hắn như xiên vào bà.
“Chồng à? Nó đâu? Thằng khốn nào mà may mắn vậy?” Bà đưa tay chỉ về phía trước mà không tránh được run rẩy. Mấy tên phía sau ngửa đầu ra cười lớn.
“Anh giai làm em nó sợ rồi đấy.” Tên có ria mép huých cùi chỏ vào người tên có hàm răng cải mả kia.
“Em nó nói dối, dạy dỗ lại đi.” Tên khác lên tiếng, cả bọn reo lên đồng tình. Sáng khóc lên. Có tên giật chiếc nón của nó. Bà ẵm cậu lên, ôm chặt vào ngực, đu đưa miệng hát nhỏ nhỏ dỗ nó. Nhưng nó quá sợ nên không nín mà thét lên. “Làm ơn đi mà” Nước mắt trào ra, bà van xin. “Mấy anh làm thằng nhỏ sợ quá, cho chúng tôi đi đi.”
“Bảo nó câm mồm đi,” một tên gắt.
Bà chà lưng, áp mặt cậu vào vai, nhưng nó quay mặt đi, khóc lớn hơn.
Chát! Tiếng tát vang lên. Tên răng cải mả tát cậu. “Có im đi không thằng quỷ nhỏ!” Hắn rít lên.
Bà lấy đôi tay không che cho đứa con. “Mày mới đúng là con quỷ, sao lại đi đánh con nít.” Bà gào lên.
“À, con hổ cái,” một tên cười. Trong tay y là con dao lấp lánh, vung lên. Mũi dao sượt dưới chiếc khăn quàng cổ chạm vào cổ.
“Đừng có làm ầm lên, liệu hồn,” y gầm gừ, lấy tay bịt miệng bà.
Cậu Sáng run lật bật, bà ôm nó chặt hơn. Chúng lục lọi trong đồ bà, bà nghiến răng chịu đựng. Nếu bà mà nhúc nhích chúng sẽ gây thương tích cho cậu ngay. “Ồ, con chó cái này giàu chứ nhệ.” Chúng cười khùng khục.
“Bỏ hết ra nón mau, đồ ngu này. Tụi mày đâu có giành riêng được.” Một tên sủa.
Tiền giấy, tiền xu bị lôi ra hết khỏi túi. Mấy đồng tiền mồ hôi nước mắt, lao động khó nhọc mà có, để đi tìm lại các con.
“Tiền của tao,” bà thét lên, nhưng chỉ phát ra tiếng ậm ự trong cổ họng.
“Đứng yên xem con đĩ này.” Con dao ấn mạnh thêm vào cổ bà. Cảm giác nhói buốt. “Đứng yên không tao cắt họng bây giờ.”
“Có người đến,” một thằng thì thào. “Nhanh tay lên mấy thằng dốt này.”
Bọn chúng giật đôi quang gánh, chạy đi.
“Cướp, cướp, cứu tôi với!” Bà la lên nhưng chúng đã nhanh chân tẩu thoát trong sương mù. Mất luôn cả chiếc khăn của cô Tú.
Cậu Sáng còn run rẩy, nhưng may không thương tích gì. Bà ôm vào ngực, nó khóc thút thít.
Có tiếng bước chân. Một nhóm phụ nữ chạy vội đến, mỗi người một đôi quang gánh.
“Chị có sao không?”
“Chuyện gì vậy?”
Bà cho tay vào túi nhưng mất sạch cả rồi. “Cướp chúng lấy hết tiền của tôi rồi.” “Biết mà.” Một bà dộng mạnh chiếc đòn gánh xuống mặt đường.
“Hà Nội giờ nguy hiểm lắm, chị à.” Một người nói “Đừng đi lung tung một mình lúc trời tối.”
Bà bế cậu Sáng, thấy như cái cây bị nhổ bật rễ. Bà đã ngu dại không thể tưởng được, tiền buôn bán được bị cướp sạch cả. Không tiền làm gì được ở thành phố này đây?
Một người lột cho cậu củ khoai lang. Nó nín khóc nhai trệu trạo. Tội nghiệp thằng nhỏ, đói rồi.
Có cả đến mười lăm người đứng quanh bà. Mấy miếng vải che trên mấy chiếc thúng, từ đó tỏa ra mùi thơm ngọt của khoai lang, khoai mì và củ từ. “Em bán trái cây,” bà nói với họ. “Bọn chúng lấy cả quang cả gánh rồi.” “Kinh khủng thật đấy! rồi chị định làm gì đây?”
“Em phải vào Phố Cổ, đến phố Hàng Bạc ạ.”
“Xa lắm, mà trời lại tối nữa.”
Sương dày đặc bao quanh, che kín hết mấy con đường. Mưa lất phất bay trong không gian lạnh lẽo.
“Mấy chị ạ, tối nay em phải đến cho được chỗ ấy,” bà năn nỉ. “Chỉ giùm đường được không ạ?”
Hai người bước ra chụm đầu vào nhau, rồi bước đến bên bà.
“Bọn tôi quyết định đổi lộ trình, để đưa chị đến đấy.” “Dạ vậy à?”
“Bán hàng ở khu đó cũng không đến nỗi nào.”
Cháu thấy không, cuộc đời đâu phải chỉ toàn chuyện xấu. Cứ khi nào gặp điều chẳng lành bà lại được người tốt giúp đỡ.
TRỜI TỐI HẲN mới vào đến Phố Cổ, những con đường bé xíu lồng vào nhau như mê lộ, nhà cửa nghiêng nghiêng. Bà nhìn không chớp mắt vào những cụm đèn đường tên cột kim loại. Thật nhộn nhịp, cuộc sống tràn ra tới lề đường. Người ta nấu nướng, rửa chén bát, và uống trà trước nhà, tiếng nói lao xao trong gió.
“Tới phố Hàng Bạc rồi chị ạ. Chúc chị nhiều may mắn nhé.” Một người trong nhóm dúi vào tay bà một gói nhỏ. “Của ít lòng nhiều. Chỉ là ít khoai lang của bọn tôi.”
Có gì đó nghèn nghẹn nơi cổ. Lòng tốt của con người lúc nào cũng làm bà ngạc nhiên.
Sáng đưa bàn tay bé xíu lên vẩy vẩy. “Con cám ơn mấy cô,” bà nói lời cảm tạ thay cho cậu.
“Cám ơn mấy cô,” Sáng nói theo. Mấy người phụ nữ trong nhóm vẫy tay cười khúc khích.
Hít một hơi sâu. Trước mặt là phố Hàng Bạc, hàng trăm cái nhà. Thầy Thịnh sống căn nào nhỉ.
Bà không có địa chỉ nhà thầy. Bố mẹ thầy làm nghề thợ bạc, nên nhà phải có cửa tiệm. Bà đứng khoảng giữa đường, để xác định xem phía nào đèn bảng hiệu nhiều hơn.
“Đẹp quá.” Cậu Sáng chỉ vào những chiếc cửa và cửa sổ sáng choang. Cửa hiệu nối đuôi nhau trên suốt đoạn đường hai mẹ con đi qua. Đồ trang sức bằng vàng và bạc lấp lánh trong tủ kiếng trưng bày. Vài khách hàng đang chọn đồ, cả cơ thể họ như chìm sâu trong cái áo khoác dày cộp.
Bà bước vào một cửa tiệm, người đàn ông đang ngồi bên quầy, gia công chiếc vòng đeo tay. Ông hạ chiếc kính xuống, nhìn bà.
“Chào chú,” bà khoanh tay cúi chào. “Cháu đang tìm người thầy dạy học thuở nhỏ, thầy Thịnh. Chú biết thầy không ạ? Gia đình thầy sống ở phố Hàng Bạc đây ạ.”
“Thầy Thịnh à?” người thợ bạc nhíu mày, làm cho chiếc trán vốn đã nhiều nếp nhăn thêm sâu.
“Có phải thầy bỏ Hà Nội đến dạy học ở Nghệ An một thời gian phải không?” “Vâng đúng là thầy đó ạ, cháu là học trò của thầy ở Nghệ An ạ.”
“Thầy vốn là bạn học anh tôi đấy.” ông thợ bạc bỏ hẳn chiếc kính ra. “Nhưng thầy mất cách đây mấy năm rồi.”
Nước mắt rơi xuống đến tận ngực áo bà. Thế là không còn cơ hội gặp lại thầy. Lúc rời Nghệ An, thầy để lại cho hai anh em cả nửa số sách. “Hai con có chí học hành lắm, hãy giữ cho nhiệt huyết cháy mãi nhé.” Thầy bảo ông Công và bà.
Bà năn nỉ ông thợ bạc, “Chú à, cháu muốn nói chuyện với người nhà thầy ạ.” “Họ đâu còn ở đây. Vợ và hai con đã vào nam. Họ theo quân đội Pháp.” Nói rồi ông nhìn mặt cậu Sáng.
“Cháu tìm để thăm thôi hay có việc gì?”
“Dạ còn người bà con nào sống quanh đây không ạ?”
“Chú không biết nữa.” Ông hạ giọng. “Không nên có liên hệ gì với người đã vào nam, cháu biết mà. Giờ họ là kẻ thù của nhân dân đấy.” Ông mang kính lên tiếp tục công việc.
Tin mới nghe được như thiêu hủy hết hy vọng, bà nghĩ mình sẽ tan nát. Không có một kế hoạch phụ nào, sao ngu ngốc vậy không biết. Thoảng đâu có tiếng bà cố hiện ra trong tâm trí: “Còn nước còn tát.”
“Chú à, cháu nói chuyện với những người sống trong ngôi nhà ấy được không ạ?” bà hỏi.
“Ừ thử xem. Cách đây bốn căn đấy, cùng bên đường, cửa hàng có cây bàng phía trước.”
Ra đến ngoài đường, gió lạnh thấm vào tận xương. Bà quấn chiếc khăn vào cổ cậu. Dẫu có thể nào bà cũng tiếp tục chiến đấu để tìm lại các con.
Đây rồi, cửa hàng chiếm hết tầng dưới căn nhà thầy Thịnh. Bà đứng ngoài nhìn vào, chói mắt vì ánh đèn sáng rực.
Bên trong một phụ nữ trung niên bên chiếc thang gỗ hiện ra. “Chào chị,” bà ấy lên tiếng chào. “Vào đi, chị muốn mua gì nào? Nhẫn, vòng đeo tay hay dây chuyền ạ?”
Bà bước đến trước bối rối vì chiếc dép đứt và đôi chân phồng rộp trên sàn nhà không một vết dơ. Phía sau quầy người phụ nữ tươi cười. Đồ trang sức bằng vàng ở tai và cổ tay chạm nhau nghe leng keng.
“Dạ thưa bà.” Bà hít một hơi thở, “Tôi là học trò cũ của thầy Thịnh ạ…”
Nụ cười trên mặt bà chủ vụt biến mất, mắt nhìn bà từ đầu đến chân. “Thầy Thịnh chết mấy năm rồi. Kiếm ông ấy làm gì thế?”
“Dạ bà có phải là bà con với thầy không ạ?”
“Không phải việc của cô!”
“Xin lỗi, tôi không có ý nhiều chuyện…Chỉ là tôi muốn thưa chuyện với người nhà thầy thôi ạ.”
“Nói nhanh đi, tôi là cháu đây.” Bà ấy cầm chiếc khăn phủi vào tủ kiếng như muốn đuổi phong long.
“Thưa bà, thầy Thịnh là người dạy tôi. Ông dạy hai anh em tôi năm năm. Thầy và bố tôi là bạn thân. Thầy sống với nhà tôi ở làng Vĩnh Phúc –”
“Rồi sao? Muốn gì nào?” Bà ấy chau mày, rồi đổi ánh mắt sang phía cậu Sáng đang ôm chặt bà, cậu mãi nhìn theo chiếc đồng hồ hình con mèo có chiếc đuôi lắc lư trên tường.
“Dạ tôi muốn xin việc, công việc làm ăn dưới quê bết bát và mất cả nhà rồi ạ. Thầy Thịnh chắc chắn sẽ nới tay giúp đỡ. Thầy như chú tôi vậy.”
“Chú? giúp đỡ?” bà ấy cười khanh khách. “Buồn cười! Làm sao tôi biết được cô thật sự có quen thầy hay không cơ chứ.”
“Chuyện gì thế Châu?” có người đàn ông vừa đi xuống cầu thang hỏi. Hàng lông mày rậm đen và đôi mắt sáng làm bà nhớ đến thầy.
“Chào ông chủ.” Bà cúi đầu chào. “Tôi là học trò cũ của thầy Thịnh ở Nghệ An ạ.”
“Thời buổi bây giờ không tin ai được đâu anh Toàn.” Bà chủ phất phất cái khăn. “Trộm đạo như rươi ấy.”
“Nhưng cô ấy có giọng miền trung.” Ông chủ bước đến gần. “Thầy có kể cho tôi nghe về Nghệ An. Thế chị tên gì?”
“Diệu Lan ạ.” Bà như nín thở nói một hơi. “Anh tôi là Trần Minh Công, bố mẹ tôi là ông Trần Văn Lương bà Lê Thị Mận. Thầy dạy cho hai anh em tôi từ năm 1930 đến năm 1935. Thầy ở cùng với gia đình tôi lúc ấy. Thầy nói, viết được tiếng Hoa và tiếng Pháp. Thầy dạy cả hai anh em tôi chữ Nôm. Tên đầy đủ của thầy là Đinh Văn Thịnh, sinh năm thìn. Thầy chơi đàn nhị rất hay.”
“Vâng, bác tôi đấy, ông là một học giả.” Ông mỉm cười.
Bà nhớ thầy nói rằng tên thầy ghép với tên người em là Thịnh Vượng. “Thầy kể rằng có người em tên Vượng nối nghiệp gia đình làm nghề thợ bạc, thầy mới đi dạy được ạ.”
“Là bố tôi đấy. Chị đúng là Diệu Lan rồi.” Ông chủ vỗ tay reo lên. “Chị lên Hà
Nội hồi nào vậy?”
“Chị này, chị kia,” bà chủ dài giọng. “Không làm từ thiện hết với mọi người biết bác Thịnh đâu.”
Người đàn ông không để ý đến vợ. Ông kéo ghế mời bà ngồi. “Diệu Lan này, bố chị hay lên đây bằng chiếc xe trâu. Rồi từ năm 1942, không thấy bác đến nữa, đúng thế không? Bác Thịnh buồn lắm.”
“Vâng đúng năm 1942…bố tôi trên đường ra Hà Nội dự định ghé thăm thầy nhưng…nhưng bị tai nạn mất rồi. Rồi từ đó lắm chuyện xảy ra cho gia đình. Tôi mất cả bố mẹ và chồng.” Bà không muốn khóc nhưng nước mắt trào ra. “Dạ xin ông thương tình giúp cho việc làm. Tôi có thể dọn dẹp, nấu nướng, giặt giũ hay việc nhà gì cũng được ạ.”
Ông ấy chớp mắt rồi quay sang người vợ. “Châu à, em bận rộn với con cái quá, có thêm người giúp việc cũng tốt mà.”
“Giúp cái gì chứ? Thằng bé đeo áo mẹ không thấy sao? Mướn chị ta chỉ thêm rách việc.”
“Dạ thưa bà, tôi sẽ tìm chỗ gởi con ạ.” Bà chưa biết là ai nhưng sẽ tìm được người. “Tôi việc nhà thứ gì làm cũng được ạ. Tôi rất mát tay với con trẻ.”
“Tôi không tin người lạ được.” Bà ấy nói.
“Diệu Lan à.” Ông ấy lắc đầu. “Để nói chuyện với nhà tôi đã. Trưa mai chị quay lại đi, tôi sẽ cho chị biết.”
“Có gì mà bàn,” bà chủ hừ mũi.
“Anh không nghe Cải Cách Ruộng Đất à? Chị ta là địa chủ bỏ trốn lắm ấy chứ.
Giúp chị ta là chuốc họa vào thân đấy.”
“Thôi đi,” ông chủ gắt lên. “Đừng để mấy thứ nọc độc ấy nhiễm vào đầu óc.” Bà đứng lên nhưng không biết đi đâu. Qua cánh cửa, đêm tối như đang dung chứa những kẻ mới cướp sạch tiền bà. Hy vọng ông chủ sẽ hỏi bà đêm nay ở đâu, bà cố ý ngồi xuống, đặt cậu Sáng vào lòng. Bà mở chiếc khăn trên cổ quàng vào đầu cho cậu. Nếu ngủ ở vỉa hè phải giữ ấm cho cậu.
“Chờ chút,” ông chủ kêu lên. “Cổ chị bị sao thế, Diệu Lan? Đang chảy máu kìa.”
Tay bà sờ lên cổ, ban nãy sợ đám cướp quá nên không thấy đau, bây giờ sờ đến máu lại chảy ra. Mấy ngón tay bà thấy thứ dịch sền sệt. Máu. Chảy nhiều lắm, chiếc khăn quàng che mất, bà chủ lúc đầu không thấy, giờ trông rất rõ. “Êu,” bà chủ nói. “Anh không tin em, giờ thấy chưa anh Toàn? Chỉ mang xúi quẩy đến không à.”
“Đến thầy Văn đi. Tôi đưa chị đi.” Ông chủ bảo bà.
“Không đi đâu hết. Cô Chinh sắp đến lấy đôi hoa tai, mà đã làm xong đâu.”
“Bà chủ nói phải đấy, tự tôi đi cũng được mà.” Bà cúi chào ông chủ.
“Chỉ cách đây vài trăm mét thôi.” Ông chủ thở dài rồi chỉ sang phải. “Chị hỏi hàng xóm quanh đây, họ sẽ chỉ cho chị đến đền Kim Ngân. Thầy là người giữ đền.”
Bà bước ra phía cửa, váng cả đầu. Có tìm được thầy thuốc, liệu ông ấy có chịu chữa khi không có tiền?
Bà lang thang trên phố Hàng Bạc, qua biết bao nhiêu nhà cửa, hàng quán người người vui tươi. Bà chạnh lòng nghĩ đến mấy đứa con. Bà đã sai lầm khi lên đây để trở thành chim không tổ, cây không gốc.
Đến đền, qua lớp cửa gỗ cũ kỹ và khoảng sân rộng bà thấy ông lão tóc dài và râu đến ngực, tất cả đều bạc trắng. Ông đang ngồi xếp bằng trên bậc thềm, bất động, hai mắt nhắm lại, lưng thẳng, tay để trong lòng.
Bà ẵm cậu, ngắm nhìn ông lão. Một lúc lâu, ông hít thở sâu rồi mở mắt ra. Bà bước đến cúi đầu chào. Ông gật đầu chào lại. Cử chỉ khoan thai của ông làm bà nhớ đến những người trong truyện cổ tích hay đem đến điều lành cho những người bất hạnh. Linh tính mách bảo ông chính là thầy Văn.
“Chào bác, con nghe nói bác là thầy thuốc, nhưng con không có tiền ạ.” Nói xong bà cảm thấy xấu hổ, phận mình bé nhỏ như con sâu cái kiến. “Ta giúp gì được cho con?”
Bà quỳ xuống cho ông xem qua vết thương ở cổ.
“Vết thương sâu đấy.” Thầy nhăn mặt rồi mang hộp thuốc ra xử lý vết thương.
“Có người dùng dao chém phải không? Chuyện gì thế?” “Dạ bị cướp ạ, mới ban nãy.”
“Con may mắn không có thương tích gì thêm.” Ông lắc đầu. “Phụ nữ trẻ như con phải biết đôi ba miếng phòng thân vào cái thời loạn lạc này.”
HAI MẸ CON NGỦ đêm trên vỉa hè, trời giá lạnh nhưng thầy Văn làm bà thấy ấm áp. Ông không tính tiền. Bà hỏi ông có biết ai giữ trẻ không, ông chỉ cô Thự một người hàng xóm. Cô ấy là thợ thủ công, chuyên gấp giấy thành hình con vật. Cô đồng ý trông cậu Sáng, đổi lại bà quét dọn nhà và giặt giũ cho cô. Hợp đồng giữa hai bên lẽ đương nhiên phải giữ kín.
Sau giờ ăn trưa một lát bà quay lại hiệu kim hoàn, trông rộng hơn, sáng hơn tối qua. Ông chủ đang ở sau quầy.
“Chào ông chủ,” bà lên tiếng.
“Chị cứ gọi tôi là Toàn là được rồi.” Ông liếc nhìn ra phía cửa rồi hạ giọng. “Vợ tôi đồng ý mướn chị, nhưng đừng để cho người gặp nhiều. Không có việc gì cần thì đừng ra ngoài. Ai hỏi cứ bảo em họ tôi đến thăm ít hôm. Có dấu hiệu gì không hay…”
“Dạ tôi sẽ tự động ra đi thôi.”
Chiều hôm ấy, dưới sự giám sát của bà Châu, bà lau chùi nhà cửa, giặt mấy chậu đồ, nấu cơm chiều và tắm cho mấy đứa nhỏ mới đi học về. Bà cố giữ nét mặt vui vẻ, nhưng bà đau đớn đến từng tế bào của cơ thể. Ở đây bà chăm con người khác trong khi vứt bỏ con mình.
Bà làm việc mười hai tiếng một ngày, chỉ được nghỉ nửa ngày Chủ Nhật. Bà chủ mướn bà chỉ vì ý ông chồng nhưng xem ra hả hê khi dùng bà như nô lệ. Lương hướng quá thấp, chẳng còn gì sau khi đã mua chút thức ăn cho hai mẹ con, trả tiền mướn nhà cho cô Thự.
Làm sao bà mua được nhà, đem các con về Hà Nội.
Bà để ý tìm việc khác lương bổng khá hơn, nhưng người thất nghiệp đầy đường chịu làm công với giá rẻ mạt. Bà cố gắng làm vừa lòng chủ, nhưng bà Châu lúc nào cũng phàn nàn. Bà muốn hỏi ông Toàn giúp đỡ nhưng không dám. Tin tức về trừng trị địa chủ đến đầy Hà Nội. Mỗi làng mỗi thôn đều có chỉ tiêu phải đấu tố, tra tấn và xử tử bao nhiêu địa chủ giàu có. Thậm chí nhiều nông dân có miếng đất bé tí cũng bị giết và tịch thu hết tài sản.
Không biết ông Toàn biết không. Ông không hề hỏi bà một câu nào. Bà nghĩ rằng ông sợ sự thật. Bà không trách ông ấy.
Ngày qua ngày, bà vẫn cặm cụi việc nhà, hát gây cười cho mấy đứa con nhà chủ, mà lòng đau nhức. Đêm đến bà chỉ nằm đấy chứ không ngủ. Bà nghĩ về mấy đứa con Minh, Ngọc, Đạt, Thuận và Hạnh, cầu nguyện cho chúng an lành, sống sót. Sợ không tìm gặp lại được, nên bà vẽ ra giấy địa điểm lúc bà bỏ chúng lại, học thuộc lòng và tối nào cũng kể cho cậu Sáng nghe. Nếu có chuyện gì xảy ra cho bà nó còn tìm lại được anh chị.
Lúc nào rảnh bà đều tranh thủ lang thang khắp Hà Nội tìm cậu Minh. Nhiều lần bà chạy đến theo một người lạ vì nhìn giống cậu từ phía sau. Tìm kiếm chỉ làm bà thêm buồn. Nếu cậu không có ở Hà Nội, làm sao bà tìm được cậu chứ?
“Bình tĩnh rồi số phận của thí chủ sẽ có đổi thay. Hãy kiên nhẫn,” bà nhớ lời sư Hiền dặn. Ngôi sao chiếu mệnh của bà đã dịch chuyển, không bao lâu bà sẽ tìm được cách.
Trở lại đền Kim Ngân cám ơn thầy Văn, bà mới biết thầy có mở một lớp tự vệ miễn phí.
Bà hoàn toàn không thích bạo lực, nhưng đời đã bao lần dạy cho bà phải có nội lực và kỹ năng tự vệ, không chỉ cho mình mà còn cho cả những người xung quanh.
Thế là chiều Chủ Nhật nào hai mẹ con đi bộ đến đền, cậu tập đi. Vào đến sân đền, mùi hoa đại thoang thoảng, bà tập trung cả tinh thần vào việc học. Cậu Sáng vui lắm với mấy đứa nhỏ con của học viên lúc trên hè lúc dưới gốc cây đại.
Hóa ra may mắn lắm bà mới được tham gia lớp học. Đã thắng nhiều cuộc thi đấu về võ thuật, thầy Văn sáng chế ra phương pháp tự vệ có tên là Đá-Xỉa-Chặt.
Ý tưởng chính là khi một người cố đấm và đả thương ta, ta phải lùi lại dùng cánh tay khóa cú đấm, lấy hết sức đá vào hạ bộ hắn. Khi hắn cúi xuống vì đau đớn, ta nắm tóc hắn lên gối vào mặt, rồi dùng tay chặt mạnh như trời giáng vào cổ.
Đây, để bà chỉ cho. Đúng rồi, đá như thế nhưng mạnh hơn. Mạnh và thẳng. Dùng phần trước của lòng bàn chân. Đừng có cười, làm lại nào. Tốt! Bây giờ bà đang cúi người đau đớn, cháu làm gì hả? đúng, đúng, nắm tóc bà kéo xuống và chặt vào cổ. Thế, thế. Ừ đúng nhưng phải có lực. Để từ từ bà sẽ dạy cháu cho đàng hoàng nhé?
Thầy dạy cả lớp tăng sức mạnh cho cơ bắp. Dùng cánh tay chặt vào thân cây. Thiền để tăng khả năng tập trung và bình tĩnh trong trường hợp khẩn cấp. Cả lớp học cách suy nghĩ và hành động cho nhanh.
Thầy dạy cả cách đối phó nếu kẻ tấn công có vũ khí. Thầy hướng dẫn cướp lấy vũ khí và cho chúng đo ván. Mỗi học viên phải luyện tập chuyên cần, mồ hôi nhễ nhại cơ bắp đau nhức. Đến lúc thấy bà đã đạt được trình độ cần thiết thầy cho mấy học viên nam tấn công bà bằng dao thật và súng giả.
Bà cố hay nói, “Trong cái rủi có cái may.” Đúng như vậy. Bọn cướp, lấy hết tiền nhưng chính thương tích ấy giúp bà gặp thầy Văn và thầy giúp bà thay đổi số phận.
CHUYỆN XẢY RA khoảng cuối tháng 2 năm 1956, sau gần ba tháng ở Hà Nội. Bà đang dọn dẹp nhà cho ông bà chủ vào giờ cơm trưa, đường đang vắng. Bước ra của hàng để lau sàn, bà gặp một gã đàn ông to lớn, quay lưng về phía bà, một tay hắn đang giữ lấy bà Châu tay kia cầm con dao kề vào cổ bà ấy.
“Cho hết vàng bạc vào túi, nhanh lên! Kêu lên một tiếng tao cắt cổ.”
Phía sau quầy, ông chủ mặt mày không còn giọt máu.
“Bỏ cho đầy túi, nhanh tay lên.” Hắn ấn mạnh dao vào cổ bà chủ, bà ấy kêu lên nhưng hắn lấy tay bụm miệng lại. “Muốn chết hả con đĩ này?”
Chiếc túi màu nâu để trên quầy, ông Toàn bắt đầu cho đồ trang sức vào.
Rón rén như mèo, bà đến bên tên cướp. Mấy ngón tay bà biến thành vuốt sắc bén kéo mạnh cổ tay tên cướp khỏi cổ bà chủ, vặn thật mạnh. Những giờ luyện tập cho bà sức mạnh ghê gớm. Con dao rơi xuống sàn.
Tên cướp vừa quay lại bà dùng ngón tay móc vào mắt, hắn rú lên buông bà chủ ra. Bà ấy chạy về phía ông Toàn. Tên cướp lấy hai tay che mặt, bà tung cú đá vào hạ bộ, nắm tóc kéo đến rồi chặt một cú sấm sét vào gáy. Hắn ngã sóng soài ra đất.
Bà Châu vẫn còn chưa hoàn hồn khi bà giữ ngược tay hắn ra sau, dùng gối ấn hắn xuống đất. Bà thét lên bảo ông Toàn đi lấy dây. Máu chảy ra từ mặt hắn. May cho hắn, bà chưa dùng hết sức nếu không hắn mất cả mắt.
Hàng xóm kêu công an, họ giải hắn đi. Ông bà chủ đóng cửa hết ngày hôm đó.
Sáng hôm sau, khi bà đi làm trở lại, bà chủ kêu vào buồng. “Chị đóng cửa lại đi,” bà ấy bảo. “Chị học võ ở đâu vậy?” “Dạ thầy Văn, người giữ đền đó ạ.”
“Tôi biết rồi.” Bà ấy nói, nhìn lom lom vào mặt bà. “Chị giỏi võ đấy, Diệu Lan. Không thể nói trước được người có khiếu như chị làm được những gì. Nếu chị hạ tên lớn con dễ như thế, thì sao chị không đem ra khống chế tôi chứ? Nếu có ý định trong đầu, chị sẽ tấn công tôi thôi.”
Bà quá đỗi kinh ngạc. “Nhưng…tôi cứu bà chủ, bà không bị mất của.”
“Vâng, nhưng ai mà biết được chi rắp tâm lấy cho mình thì sao? Chồng tôi là người thành đạt. Trở thành món béo bở cho các bà. Đặc biệt là những bà nghèo hèn không tiền bạc.”
“Không có đâu bà chủ.” Bà giữ giọng điềm tĩnh nhưng đang giận sôi gan. “Cô cho tôi là con ngu sao? Cái cách ông ấy nhìn cô, trách ông ấy sao được chứ? Nhìn cô đi: mắt to, da mịn màng, chân dài, ngực nở. Tôi thấy cả kiểu cô bẹo hình bẹo dạng với ông ấy.”
“Bà buồn cười thật đấy!”
“Ừ đương nhiên rồi. Cô Diệu Lan bé nhỏ ngây thơ, không làm đau đến một con ruồi. Tôi thấy cách ông ấy nhìn cô. Cô biết ‘nuôi ong tay áo’ chứ? Cô phải đi thôi.”
“Bà đuổi việc tôi à?”
“Để tôi tự tay chăm lấy gia đình mình. Đây kỳ lương cuối cùng đây. Cầm lấy rồi đừng quay lại nữa, nếu không đời cô khốn khổ với tôi đấy.”
Bà ta ném chiếc túi nhỏ trên giường, bà cúi xuống nhặt lên. Chỉ vài xu thế làm sao bây giờ?
Ông Toàn xuống cầu thang tiếp khách đến mua hàng, bà đi bước qua mà không nói một lời, vì không muốn gặp rắc rối thêm với bà vợ. Con sư tử Hà Đông, một người đàn bà ghen tuông vô cớ.
Về đến nhà trọ, bà ngồi bên cậu Sáng trên chiếc chiếu. Bà làm sao đây khi không có việc? Làm sao mang các con về đây?
Sáng cười khúc khích, bò đến chiếc túi vải bà vứt trên giường không để ý đến.
Lúc nó kéo mở ra, nhiều đồng tiền lấp lánh rơi ra theo. Bà lượm lên thở mạnh.
Ông Giáp người thợ bạc nhìn bà chăm chú, mặt ông đầy vẻ nghi ngờ khi bà đưa ông mấy đồng tiền vàng. “Cô lấy đâu ra mấy thứ này?”
“Người nhà của Thầy Thịnh cho cháu đấy chú ạ. Có phải đồ thật không chú?” Ông nheo mắt nhìn bà, kêu bà vợ lên trông cửa hàng, bảo bà chờ bên ngoài rồi cầm chiếc túi đi ra. Không biết ông ấy đi đâu nhưng nhìn bộ dạng giận dữ bà không dám hỏi thêm.
Đứng bên lề đường, ruột gan bà lửa đốt. Nếu mấy đồng tiền đó bằng vàng và bạc, số phận bà đã thay đổi. Nhưng bà Châu muốn hại bà thì sao? Bà nhìn quanh không thấy bóng dáng ông Giáp đâu. Đang giờ cao điểm, người qua lại rất đông.
Sáng lấy tay sờ mặt bà bập bẹ. “Mẹ, mẹ,”