Những Ngọn Núi Biết Hát

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Nạn Đói Năm Ất Dậu.

❊ ❊ ❊

Nghệ An, 1942 – 1948

Ổi à, cháu có thích bài thơ ngắn này không

Ao xưa

Con ếch nhảy vào

Vang tiếng nước xao

Thấy hay chứ gì? Bà cũng vậy. Bài thơ làm theo thể haiku của nhà thơ nổi tiếng người Nhật tên Matsuo Bashō, sống vào thế kỷ mười sáu. Mấy năm trước bà tìm được mấy bài thơ của ông khi bà đi dạy và quyết định học tiếng Nhật. Bà muốn tìm hiểu xem tại sao lính Nhật lại hành động như vậy trên đất nước này. Qua mấy cuốn sách đã đọc, bà biết người Nhật cũng theo đạo Phật như mình, họ thờ cúng tổ tiên và yêu mến gia đình. Giống chúng ta, họ cũng nấu nướng, nhảy múa và ca hát.

Trước khi đọc mấy cuốn sách đó, bà theo dõi một người Nhật – tên Mắt Đen – vào mùa đông năm 1942. Bà gắng tin rằng y vẫn còn chút nhân tính trong người và để cho ông cố đi qua.

Cháu muốn biết chuyện gì xảy ra với ông cố đúng không? Được rồi, nắm chặt tay bà nhé, ta đi tiếp.

Hắn tiến tới trước, đến bên chiếc xe kéo, lôi mấy bao khoai tây ra vứt trên đường. Bọn lính lấy chân đá vào bao cho sút dây cột rồi chém khoai tây thành từng mảnh. Bà thấy ông cố đứng gần đấy, đang đút miếng ván trở lại vào xe. Bà ngắm nhìn ông – đôi tay rám nắng giữ đầu bà vào cằm ông, đôi mắt đó sáng lên khi thấy bà cười, đôi môi đó kể cho bà không biết bao nhiêu giai thoại, chuyện cổ xưa của làng ta.

Nhiều tên trong toán lính thứ hai nói với nhau bằng thứ ngôn ngữ mà bà không hiểu. Thứ tiếng nghe ngân nga như đang hát. Chắc chắn người nói thứ ngôn ngữ đó không thể tàn bạo với người khác.

Mấy người phụ nữ bị chúng đẩy tới trước. Họ thay nhau trườn vào xe như mấy con chuột chui qua lỗ, lưỡi lê sáng loáng phía sau. Ông cố đứng gần bên giúp họ lên xe, mặt ông nặng trĩu nỗi buồn.

“Nói tao nghe khoai tây này đem cho ai?” Tên Mắt Đen gầm lên, đưa tay về phía ngực ông, đẩy ông ra xa khỏi chiếc xe. “Cho cái đám du kích Việt Minh giết đồng đội của tao chứ gì?”

“Dạ không thưa ngài. Tôi chở lên cho khách hàng ở Hà Nội.”

“À, chở cho bọn Pháp đang xâm lược nước mày chứ gì?” Tên mắt đen cười lên. Hắn quay người như tính bỏ đi. Nhưng bằng một động tác nhanh gọn, hắn xoay người, lưỡi kiếm vung lên thành một đường cong chết người trong không khí. “Đồ phản bội!”

Bà đứng chết trân khi thấy một vòi máu phun ra từ cổ ông. Đầu ông rơi xuống đường lăn lông lốc, mắt ông còn mở to kinh hãi. Ông Công lấy tay bụm miệng bà, hai tay ông cố huơ lên trong không khí rồi thân hình đổ sụp xuống.

Cả thế giới xung quanh bà quay cuồng, bà cố gắng chạy về phía cha, ông Công ôm bà lại, thì thào bọn Nhật sẽ giết hết cả hai anh em.

Bà bất lực đứng nhìn một người lính Nhật nhảy lên phía trước xe kéo để quanh đầu xe lại. Y co chân đá vào mông con trâu. Chiếc xe cán qua cái xác không đầu của bố.

Ôi xin lỗi làm cháu khóc cho ông cố.

Bà không muốn kể cho cháu nghe cái chết của ông cố đâu, nhưng bà cháu ta đã quá quen với chết chóc và bạo lực để biết rằng có một cách duy nhất nói về chiến tranh đó là trung thực. Chỉ có trung thực mới hiểu hết được sự thật.

Để tìm ra được sự thật về người Nhật, bà đọc rất nhiều về họ. Bà hiểu ra rằng, trong Thế Chiến Thứ Hai, quân đội Nhật đã đánh đập, gây thương tích và giết hàng ngàn ngàn người khắp châu Á.

Càng đọc bà càng sợ chiến tranh. Chiến tranh có quyền năng biến những dân tộc đáng yêu và có văn hóa thành ác thú.

Ông cố không may đã gặp một tên trong số những ác thú đó. Ông cố chết đi để bà và ông Công được sống. Ông chết để bảo vệ hai người con.

Ông Công và bà đem xác ông cố về nhà. Bà cố phải dựa vào bà khi bà đang quỳ cạnh quan tài, đầu chít khăn trắng. Đàn nhị trong tay ông Công kêu lên ai oán, ông kéo đàn suốt ba ngày đêm của đám tang. Suốt ba ngày đêm, nhà lúc nào cũng đông nghẹt người đến viếng tỏ lòng thương tiếc người quá cố. Lúc đó bà mới biết ông đã giúp đỡ biết bao nhiêu người.

Bà không muốn nói lời chia tay nhưng đến giờ đưa ông đi. Tiếng chiếc đàn nhị đưa cả đoàn người diễu hành đến cánh đồng, nơi an nghỉ cuối cùng của ông. Ông Công cứ kéo đàn mãi đến lúc đất đắp thành gò lớn trên quan tài, nhang tàn, mặt trời đã lặn ở phía chân trời.

Suốt đám tang ông Công không nói một lời, khi về đến nhà, ông đứng trước sân hai tay giơ cao chiếc đàn nhị quá đầu, thét lên một tiếng rồi đập mạnh xuống sân gạch. Cô Tú và bà Trinh gom mấy mảnh vỡ gắn lại với nhau, nhưng ông Công không bao giờ rờ đến chiếc đàn ấy nữa.

Bà tự trách mình có lỗi trong cái chết của bố. Nếu bà không giành điều khiển chiếc xe, cả nhà có thể đi nhanh hơn và không gặp tên Mắt Đen. Ông ngoại cháu không để bà gục ngã vì đau buồn. “Có phải lỗi của em đâu, em chỉ muốn giúp bố thôi mà,” ông nói. “Vả lại, bố không muốn thấy em buồn đâu, bố không muốn em để phí mất sự hy sinh của mình.”

Bà cố như cái cây bị nhổ gốc lên, suốt ngày ngồi trên phản nhìn vào khoảng không. Minh, Ngọc và Đạt không để bà một mình. Chúng nó bao quanh tạo thành nguồn sống cho bà cố, để bà lại bám rễ vào đất. “Bà ơi chơi với chúng cháu nhé,” chúng nó bảo, kéo tay bà cố ra khỏi nhà tham gia mấy trò chơi của trẻ con.

Mọi người trong nhà nhắc nhau không đi đâu ra khỏi làng, phải tránh mấy cuộc giao tranh của Việt Minh với Pháp và Nhật, đang đến hồi căng thẳng. Ai cũng hy vọng rồi đây chiến cuộc ở Đông Dương sẽ kết thúc, nhưng thực tế nó lại đang leo thang. Lan đến cả làng này.

Lần này cuộc chiến mang bộ mặt của nạn đói – Nạn Đói Năm Ất Dậu, năm 1945 – đã cướp đi sinh mạng hai triệu con người. Đấy không phải là con hổ dữ tợn cắn xé mà là con trăn hút dần sinh lực cho đến khi con người không còn gì ngoài da bọc xương.

Khoảng tháng tư năm 1945, bà đã quá yếu không thiết gì đến sống hay chết. Một buổi sáng, bà nghe thấy tiếng cô Trinh “Diệu Lan, Diệu Lan dậy!” Bà chỉ muốn được nằm yên nhưng có tiếng động làm bà mở mắt ra.

Tiếng khóc nhỏ nhỏ của mẹ cháu, mẹ Ngọc lúc đó năm tuổi, đang rúc đầu vào bụng bà. Bên cạnh là cậu Đạt, bốn tuổi đang nằm yên. Cậu Minh kêu, bà quay lại nhìn, gương mặt hốc hác, hai con mắt có vòng đen quanh, hai con mắt vàng ệch thụt sâu vào. Nó chỉ còn là bộ xương bảy tuổi biết đi.

Bà khóc kêu mấy đứa lại.

“Mẹ, con đói quá,” Minh rên rỉ.

Cô Tú đưa lên một bát, khói bốc lên nhưng không có múi đồ ăn.

“Củ chuối, chắc là cái cuối cùng mà bà chủ với cô tìm được đấy.” Cô nói, hai tay gầy trơ xương run rẩy, bà biết cô Tú cũng đói lắm.

Bà bốc một miếng màu đen, thổi cho nguội, đút cho mấy đứa. Chúng ăn xong còn một ít bà và cô Tú chia nhau. Củ chuối nhạt thếch, nhưng mỗi miếng bà đều thấy mang ơn cô Tú.

Cô Tú nằm xuống dỗ mấy đứa ngủ. Bà nhìn quanh xem nhà còn thứ gì, trong phòng ông Công, chiếc chăn cũ gấp ngay ngắn để trên hai chiếc gối đã sờn rách. Trên chiếc tủ nứt nẻ, chiếc đàn nhị chìa ra mảnh vỡ. Bà không biết cuộc sống mọi người có giống như chiếc đàn không: tả tơi và không còn hát được nữa. Phòng khách không có gì ngoài chiếc ghế tạm. Bọn Nhật làm gì với mớ đồ đạc trong nhà nhỉ? Chúng tràn vào làng, gọi mọi người là đám theo Việt Minh, vô cớ đánh đập rồi cướp bóc hết những thứ đồ có giá trị: tiền, nữ trang, đồ đạc, lợn gà và trâu bò. Chúng lấy hết thực phẩm, bắt dân làng nhổ hết lúa và hoa màu để trồng đay và bông vải. Gia đình bà không trả nổi nhân công. Khắp làng mọi người đói đến điên loạn. Mấy cái ao bị tát sạch nước để bắt cá, tôm ốc. Không một con côn trùng nào thoát khỏi tay người. Cây nào ăn được đều bị đào cả để lấy thân, gốc lá và rễ. Trời lại như đang trừng phạt, cơn hạn hán khủng khiếp như phá nát cả vùng, mấy cánh đồng và sông suối khô cạn.

Ông ngoại cháu lại không có nhà, mẹ chồng của bà vừa mới mất vì đói. Bố chồng đang mỗi lúc mỗi yếu thêm nhưng lại không muốn đến ở cùng vì tin rằng linh hồn người vợ còn ở nhà nên phải ở lại lo hương khói. Ông ngoại bảo bà, ông có thể tìm chút gì đó ăn được trên đường đến nhà bố, bà không biết được đó là gì nữa. Ngoài chợ không có thức ăn, ai có thứ gì đâu mà bán.

Mọi người đợi viện trợ từ miền nam, nhưng không có. Nhật và Mỹ đánh nhau nhiều nơi trên thế giới, Mỹ dội bom xuống nước ta nhằm phá hủy đường xá, hải cảng, xe lửa.

Bà phải làm gì đó để cứu mấy đứa con.

Trong vườn không còn cây cối gì, bà cố ngồi xổm trên mảnh đất bạc màu dùng que đào bới. Bà đến gần hỏi “mẹ ơi anh Công, chị Trinh đâu rồi?”

Bà cố ngẩng lên, tóc bà còn lơ thơ vài sợi và đã bạc gần hết. “Chúng nó ra đồng rồi con.”

Bà liên tưởng đến mấy cánh đồng nứt nẻ, hàng trăm người làng đang đói, kéo nhau ra đó tìm kiếm.

“Mẹ đã ăn gì chưa?”

“Ăn chút củ chuối rồi con.”

Nhặt một chiếc que bà ngồi xuống bên cạnh bà cố để đào đất. Cái que cứ bật lên vì đất cứng quá. Chắc còn sót đâu đó chút khoai mì hay khoai lang, trước đây khu vườn này đầy những loại củ mập mạp này.

Sau một lúc không thu được gì, bà cố nói. “Đi tìm thức ăn con à.”

“Ở đâu mẹ?”

“Vào rừng, ở đó có trái cây, côn trùng.” “Xa quá mẹ.”

“Khoảng mười lăm cây số.”

“Hết ba tiếng, con không biết đi nổi không.”

“Diệu Lan này, quanh đây chỗ nào cũng bị đào xới hết rồi. Phải đi xa thôi, còn

nước còn tát. Trong rừng may còn chút hy vọng.” “Mẹ ở nhà, để con đi một mình.”

“Không, cả hai mẹ con cùng đi.” Bà cố nắm lấy vai bà. “Không có thức ăn tụi nhỏ sẽ chết, con biết không hả?”

Vào trong bếp, bà lấy ống tre đổ đầy nước vào, mang lên vai và mang theo một con dao phát. Lấy thêm hai chiếc nón lá một cho bà cố và một cho bà.

Mở cửa sân, bước ra, đóng cửa lại cẩn thận. Mùi hôi thối xông lên tưởng như ngạt thở. Gần đấy là một xác chết nằm úp mặt xuống con đường đầy bụi bặm, đám ruồi nhặng vo ve xung quanh. Xa thêm chút nữa là xác chết một người mẹ đang ôm đứa con. Nhiều xác chết rải rác khắp các ao hồ không còn nước trong làng.

“Bà Trần ơi giúp chúng tôi với!” Tiếng kêu tuyệt vọng vang lên từ đống xác chết. Một người phụ nữ môi chảy máu chìa tay ra, trên ngực là đứa bé nhìn chỉ còn da bọc xương.

“Tôi đâu có đồ ăn đâu,” bà cố cúi xuống, nước mắt chảy dài trên má. “Tôi đói quá,” người phụ nữ ẵm con cố lết lại gần.

“Chỉ có chút nước thôi,” bà đưa ống tre, người đàn bà uống mấy ngụm lớn.

Lúc đút nước cho đứa bé, bà chợt thấy gương mặt mấy đứa con hiện ra. Phải nhanh lên rồi quay lại với chúng nó thôi.

Bà cố ngồi xuống rú lên, vì trước mặt là ông Tiến, người làm công cho gia đình ta nhiều năm qua. Vợ con nằm cạnh gối đầu lên ngực ông chết thê thảm, đau đớn như còn đang thoát ra từ mấy cái miệng há hốc.

Bà phải kéo tay bà cố đứng dậy. Ngổn ngang xác người nằm bên vệ đường, hấp hối, van xin. Một số người cố kéo chân khi hai mẹ con ngập ngừng bước qua, nhưng họ yếu quá nên không giữ được.

Ngoài tiếng rên rỉ, làng hoàn toàn yên lặng. Súc vật chết hết. Mọi thứ úa vàng bạc trắng, cả cảnh vật cũng đang chết theo.

“Mẹ ơi đừng dừng lại nữa,” bà kéo tay mẹ, có một người đàn bà giữ chân bà cố lại.

“Cho bà ấy miếng nước đi.”

“Mình đâu còn bao nhiêu.”

“Thiệt tình, cứ cho đi!” bà rót chút nước vào miệng người đàn bà, bà ấy gật đầu cám ơn rồi nhắm mắt lại, mặt tựa trên nền đất đã bị ánh nắng nung lên.

Hai mẹ con cố gắng đi mau hơn, qua mấy căn lều đầy tiếng trẻ con thút thít, qua hàng đống xác chết đang thối rữa, những bàn tay chìa ra, giọng thều thào run run. Hai mẹ con cố nén nước mắt bước đi như thể người mù, như thể trái tim đã chai sạn.

Hai mẹ con tựa vào nhau liêu xiêu đến được rừng Nam Đàn. Suy nghĩ về mấy đứa con cho bà thêm sức mạnh. Nhưng càng đi càng yếu. Bà cố mỗi lúc bước mỗi chậm. Nắng như đổ lửa, biến xung quanh bạc trắng mờ nhòa.

Nhưng cứ đi, vừa đi vừa động viên nhau rằng sẽ đến nơi đem được thức ăn về nhà cho bọn trẻ.

Lúc đã kiệt sức, bà dẫn bà cố vào một cái cây lớn trụi lá. Hai mẹ con tháo nón ra, tựa lưng mệt mỏi vào thân cây.

Bà dùng dao đào vào đất. Đất cứng như đá. Chỉ tìm được chút rễ cỏ. Đưa hết cho bà cố, bà cố lau sạch nhai một ít rồi đưa chổ còn lại cho bà. Bà nhai một chút rễ, vị đắng trong miệng, bà đưa mắt xa tận chân trời nơi đó một màu xanh mướt chứa đựng nhiều cứu tinh: cào cào, dế, sim tím và ổi rừng.

“Mẹ đợi con ở đây, con sẽ quay lại chắc có gì đó ăn được.”

Bà cố lắc đầu, “từ lúc bố mất, mẹ không thể đứng phía sau được nữa, nếu có chết mẹ là người hứng chịu đầu tiên.”

“Bố bị vậy, có phải là lỗi do mẹ đâu mà do con đấy! nếu không vì con, đã không chạm trán với bọn giết người. Chính con làm cho xe đi chậm lại.” “Không phải đâu Diệu Lan. Bố không muốn con suy nghĩ vậy đâu, bố thương con hơn cả thân mình nữa đấy.”

“Với bố, mẹ hơn cả cuộc đời này. Thôi đừng tự trách mình mẹ à.”

Bà cố cúi xuống. “Mẹ có vật này cho con xem.” Tay bà cố run run mở chiếc kim cài trên miệng túi.

Bà chớp mắt, cho rằng cơn đói làm bà bị ảo giác. Trong tay bà cố là vật gia bảo nhà Trần – một viên ngọc lớn được viền vàng, cả sợi dây đeo cũng bằng vàng.

“Mẹ giấu được bọn Nhật” bà cố đưa cho bà.

Áp miếng ngọc vào mặt, bà nghe những lời thì thầm của tổ tiên. Từ đời ông sơ truyền lại cho ông cố. Ông cố tự hào cho bà và ông Công xem. Ổi à, bà mê sợi dây chuyền đó lắm nên đặt tên mẹ con là Ngọc đấy.

“Diệu Lan,” bà cố nuốt nước bọt khó khăn, “mẹ hứa với bố sẽ gìn giữ để truyền lại cho hai anh em. Nhưng giờ … nếu có ai chịu đổi lấy thức ăn…”

Bà gật đầu đưa lại sợi dây chuyền, bà cố cẩn thận cho vào túi và cài lại chiếc kim trên miệng.

Hai mẹ con lê tấm thân tàn vào rừng. Trông rất gần nhưng lại quá xa. Bà và mẹ vứt đôi guốc gỗ trên đường đi vì nặng nề, giờ lại bị những chỗ cứng trên đất đâm vào đôi chân trần.

Đến lúc tưởng đã ngã gục, cây lá đu đưa như ôm ấp bà trong vòng tay.

Bà vụt đi nhanh trước mẹ vào con đường quanh co xuyên vào rừng. Nhưng thay vì phát hiện niềm vui, ôi đầy xác chết người lớn con nít. Quanh đấy cây ăn trái bị đốn hoặc nhổ bật gốc lên. Không bóng dáng chim chóc, trái cây, hoa bướm. không một tiếng động trừ tiếng ruồi vo ve.

Bà cố lại kéo tay bà đi sâu hơn vào rừng. Trước bụi gai lớn, bà cố cúi xuống đẩy những nhánh cây nằm sát mặt đất dạt ra hai bên.

Một lỗ nhỏ hiện ra.

“Chỗ này do bố con làm đấy.” Bà cố nở nụ cười hiếm hoi trên môi. Trong mấy năm cuối đời, ông bà cố, hai người, thường cùng nhau đi dạo ở đây, mang về đậu, nấm, gà rừng và lâu lâu cả lợn rừng.

Hai mẹ con bỏ nón lá, nằm sát xuống đất luồn qua chỗ hẹp. Bên kia là một lối đi nhỏ nằm khuất sau cây cối.

Bà mở to mắt tìm thức ăn. Chỉ có rễ cây và mấy nhánh cây gãy. Có người đến đây trước rồi.

“Đi sâu thêm đi con.” Bà cố lại kéo bà vào con đường rối rắm. Không tìm được gì để ăn, hai mẹ con tiếp tục đi, hai chân bà run rẩy nhưng mẹ cứ kéo về phía trước cứ như mới có thêm sức lực. Cứ đi đến lúc không còn biết đang ở đâu nữa.

“Mẹ nhớ đường trở ra không đấy?” Bà thở phì phò nhìn bụi rậm hai mẹ con mới bò qua.

Bà cố không trả lời, chỉ nhìn bức tường xanh rì phía trước mặt, chằng chịt dây leo đan vào nhau.

“Hồi trước có rẫy bắp ở đây mà…sau đó đấy.” Bà cố ho lên, cố vạch dây leo nhìn qua nhưng dày quá.

“Sao mẹ không nói trước với con?”

“Mẹ không biết mình có nhớ đường hay không.” Bà cố ôm bụng, khom xuống. “Chắc không mọc nữa, hay có người tìm ra trước mình rồi.”

Tôi lắng nghe phía bên kia. Có tiếng chim, vậy là có thức ăn.

Bà cầm lấy ống nước bảo mẹ uống. Chỉ còn một ngụm nước bà nhường cho mẹ. Bà bước đến dùng dao chặt mạnh vào bức tường, con dao bật mạnh ngược lại suýt văng vào mặt.

“Cắt từng sợi thôi con.” Bà cố đang nằm dưới đất bảo.

Bà gật đầu, không biết chừng nào mới cắt được cái lỗ để chui qua. Tay bà sưng rồi phồng rộp lên. Một sợ dây leo phải chặt đến mấy nhát. Cánh tay ê ẩm, bàn tay chảy cả máu. Tự nhủ phải có đồ ăn cho các con, bà lại vung dao, gập người về phía trước, mồ hôi chảy vào làm mắt cay xè.

Bà không biết mất bao lâu, mới mở được cái lỗ nhỏ, nhưng lại nhớ như in: phía sau đó là cả một rẫy bắp.

“Đồ ăn, đồ ăn mẹ ơi.” Vất dao ra một bên, bà chui qua kéo theo cả bà cố.

Hai mẹ con thấy cả cánh đồng. Trên mặt đất khô ran hàng trăm cây vàng ệch, ốm nhom. Nhìn qua mấy chiếc lá, tim bà đập nhanh hơn. Rất nhiều bắp trái. “Của ai thế mẹ?” Bà nhìn quanh.

“Mẹ không biết… bố vô tình tìm ra nơi đây.”

Hai mẹ con bò vào đến giữa đồng. Đói quá không đi được xa, tay chân run rẩy.

Bà nín thở hái một trái ngô, cỡ bắp tay xương xẩu của bà, cứng ngắc. Bà lột vỏ ngoài, chảy cả nước bọt nhìn thấy mấy hạt ngô bóng mượt, trắng muốt đều như răng trẻ con.

Bà đưa vào miệng bà cố. Hai mẹ con chia nhau trái ngô ngọt ngào. Bụng bà sôi lên. Lông tay bà dựng hết lên vì được ăn.

“Nhai cho kỹ con ạ,” tiếng bà cố thì thào. “Bụng trống lâu ngày. Ăn nhiều và nhanh cùng một lúc làm chết người đấy.”

Bà gật đầu, mà không biết làm sao ngưng ăn được.

“Aaa, mấy kẻ trộm!” một giọng nói vang lên, bà rùng mình từ đầu đến chân.

Bắp ngô ăn dở rơi xuống đất.

Nắm lấy vai mẹ, bà nhìn lên thấy một người cao lớn. Một bộ mặt phèn phẹt, đầu hói bóng loáng. Trời! Con quỷ ác độc!

Ổi, cháu nhớ có lần bà nói về con người này không? “Ôi thưa ông, làm ơn…” Giọng bà cố run rẩy.

Con quỷ đưa cái roi lên để trả lời. Cổ, vai của bà đau như bị bỏng. Bà hoảng kinh thấy chiếc roi quất vùn vụt xuống đầu mẹ.

“Xin ông ngừng tay.” Bà lấy tay che cho mẹ. Mưa roi đổ xuống vai bà. “Tha cho chúng tôi ông ơi.” Bà cố cúi đầu xuống đất lạy con quỷ.

Hắn quay sang đánh bà cố, máu văng tung tóe. “Tha rồi để chúng mày ăn cắp ngô của tao sao? Tha rồi để cả đám kéo đến rồi tao chết đói à?”

Hắn đá bà cố lăn ra xa.

“Mẹ!” bà chồm về phía mẹ. Mấy mảng thịt rứt ra từ đầu và cổ mẹ, máu tươm ra khắp mặt. Bà bò đến ôm chân con quỷ. “Cháu xin, đừng đánh mẹ cháu nữa. Chính cháu là người hái ngô, cháu mới là người ăn trộm.”

Chiếc roi lại quất xuống, hất bà ngã ra đất.

Khi bà tỉnh dậy, mặt trời đang lặn, ráng chiều dày đỏ tắm cả người. Bà thử nhúc nhích nhưng tay chân bị cột. Bà bị trói vào gốc cây lớn.

“Mẹ ơi!” bà gọi đưa mắt tìm mẹ, cách đó khoảng mấy thân người một đống lẫn trong bụi đất. Mớ tóc dài của bà cố che lấy gương mặt. Máu phủ hết cả đầu và quanh miệng.

“Mẹ ơi!”

Bà cố không cử động, không nhấc đầu lên, không cả giật mình. Bà nhích đến nhưng bị dây trói ghì lại.

Bà bồng bềnh từ đêm lạnh đến sáng chói chang nóng hổi. Bà lại gọi mẹ nhưng không có tiếng trả lời. Bà khóc cho đến khi xung quanh thành một màu đen kịt. Cơn đau nhói lan khắp cơ thể, bà mở mắt thấy đang bị kéo vào rừng. Một người ốm như que củi nắm hai cổ chân bà lôi đi. Ông ấy thở phì phò, bụng nhô lên kỳ lạ.

“Có ai cứu tôi!” Bà kêu lên.

Người đàn ông buông chân bà ra. “Im nào, nếu cô muốn sống, Diệu Lan ạ.”

Tim bà muốn nhảy ra khỏi lồng ngực nghe có người gọi tên. Ông ấy cúi xuống thấp hơn, trái bầu khô đựng nước đung đưa phía trước ngực. Bấy giờ bà mới nhìn rõ: một gương mặt hốc hác phong sương.

“Ông là ai?” Bà nhích ra xa.

“Chạy đi cô Diệu Lan.” Ông tháo chiếc bầu đựng nước đưa cho bà. “Phải trốn khỏi đây trước khi con quỷ tìm được cô.”

“Thế còn mẹ cháu…” bà quay đầu nhìn lại quãng đường sau lưng “Giúp mẹ cháu với.”

“Xin lỗi…Bà Trần … không còn nữa.” “Ồ không!”

“Khẽ nào. Bọn nó nghe thấy. Cô không đi ngay sẽ bị bắt đấy.”

Bà gượng đứng lên. “Chỉ chỗ mẹ nằm cho cháu đi, mẹ không thể chết được.” “Diệu Lan, nghe tôi nói này.” Người đàn ông nắm lấy vai bà. “Cô phải tin tôi. Tôi làm việc cho con quỷ, nhưng tôi chịu ơn bố mẹ cô rất nhiều. Vợ tôi lúc sinh con suýt mất mạng, chính ông bà đã tìm thầy cứu chữa. Nếu bà chủ còn sống, nhất quyết tôi không để bà lại chỗ đó.”

Lời lẽ ông ấy quá chân thành, in dấu vào bà còn sâu mấy vết roi kia. Tên quỷ ác độc đã giết bà cố. Máu phải trả bằng máu.

“Tên tôi là Hải. Anh Công của cô biết tôi.” Người đàn ông cho bà uống chút nước. “Xin lỗi vì đến quá muộn. Tôi sẽ tìm nơi an nghỉ cho bà chủ, tôi hứa đấy.” Ông lấy gì đó ra từ túi áo. Mấy bắp ngô, thảo nào bụng ông phồng lên bất thường. Ông cho chỗ ngô đó vào túi bà, bà chợt nhớ ra điều làm bà đau đớn đến phát khóc.

“Gì thế cô?”

“Chú này…mẹ cháu có chiếc dây chuyền vàng mặt ngọc để trong túi. Nếu cháu đem ra đổi cho con quỷ …”

“Cô nghĩ có thể cứu mạng bà chủ được sao?” Ông Hải lắc đầu. “Cô nghĩ vậy có nghĩa là cô không hiểu gì về hắn cả. Hắn còn ác độc hơn cả quỷ dữ đấy. Hắn có cho cô cơ hội nào suy nghĩ không?” Ông Hải chỉ tay vào con đường phía phải của bà. “Theo đường này cô về đến nhà, nhanh lên.”

Bà loạng choạng bước đi, ông Hải biến mất sau lùm cây. Bà nhắc mình không bao giờ quên tên ông ấy. Hải là đại dương đúng với con người có tấm lòng bao dung.

Không biết làm sao bà tìm được đường ra khỏi khu rừng và đi mất bao lâu mới về đến nhà, nhưng chắc chắn một điều chính ông Hải là người cứu mẹ Ngọc và mấy cậu đấy Ổi ạ. Mấy bắp ngô giúp mọi người cầm hơi được hai tuần, cho đến khi một vị linh mục công giáo tốt bụng đem thực phẩm đến cho dân làng. Sau đó, Việt Minh giúp dân làng tấn công quân Nhật và Pháp giành lấy kho thóc.

Nhưng cứu giúp đến muộn màng. Nạn Đói khủng khiếp gây chết cho quá nửa làng Vĩnh Phúc. Nhiều gia đình chết sạch không còn một ai.

Nạn Đói đó cướp đi của bà phần lớn trong cuộc đời: mẹ mất, mà chị dâu cũng bỏ mạng.

Ổi à, bà thường nghĩ chính mình làm chủ lấy số phần, nhưng bà ngộ ra thêm, trong thời chiến, người dân thường chỉ là những chiếc lá không hơn không kém, sẽ rơi rụng mất đi, cả hàng ngàn hay hàng triệu sinh mạng chỉ trong một trận bão.

Mấy tháng sau cái chết của bà cố, hễ chợp mắt bà lại thấy mẹ gục xuống trên mặt đất nứt nẻ. Bà rú lên rồi thức giấc, thấy hối tiếc vì không cứu được mẹ. Bà đã hai mươi lăm tuổi chứng kiến cảnh cả cha lẫn mẹ bị giết.

Sau Nạn Đói, ông Hải đến thăm. Bà quỳ xuống trước ông để tỏ lòng biết ơn. Ông đưa ông Công, ông ngoại cháu, cô Tú và bà đến thăm mộ bà cố. Ông Hải chọn nơi an nghỉ cho bà cố là góc rừng Nam Đàn, ở đó có hoa dại nở bốn mùa. Ông Hải thuật lại với bà, ông đã lần tìm trong túi và cả xung quanh mà không thấy sợi dây chuyền. Ông giúp mọi người theo lại đường đi của bà cố và bà trước khi vào rẫy ngô. Tìm kiếm khắp dưới bụi rậm, trong lá vẫn vô vọng. Nhiều người đến đó mang xác người đi chôn, chắc có người tìm thấy rồi lấy luôn.

Cháu à, ước gì bà giữ được sợi dây chuyền đó cho cháu. Của gia bảo họ Trần nhà ta đấy.

Để cám ơn ông Hải, gia đình ta tặng ông mảnh đất. Ông một mực khước từ, nhưng gia đình mong ông nhận cho. Nếu có ai đó trong làng gia đình có thể tin tưởng thì đó chính là người đã cứu tử mà không hề sợ hiểm nguy đến bản thân. Năm tháng qua đi, gia đình lại gầy dựng lại công việc. Ông Hải là người quản lý nhân công của nhà ta.

Bà biết ông là người tiết nghĩa, nhưng không thể ngờ một ngày nọ ông lại là người cứu mạng.

Thể nào cháu cũng muốn biết chuyện gì xảy ra cho con quỷ ác độc. Bà từ rẫy ngô về đến nhà, ông Công cùng ông ngoại cháu mài dao cho bén. Hai người tìm thấy con quỷ đang say khướt ở nhà một mình, y còn lên tiếng thách thức hai người giết y đi. Hắn nói bà cố chết là vì đói, và hắn không hề biết gì sợi dây chuyền. Hai ông đã có thể hành hung hắn nhưng bỏ về. Mình không thể là hắn được, cháu thấy đấy. Dù sao, sau Nạn Đói con Quỷ ác độc không còn hại ai được nữa. Hắn luôn say bét nhè nói cười lảm nhảm. Có lẽ những oan hồn người bị hại theo ám hắn. Gieo gió gặt bão thôi.

Năm 1946, một năm sau ngày bà cố mất, con quỷ biến mất. Tin đồn rằng y cùng người vợ và đứa con gái rời khỏi làng, đến đâu đó ở vùng trung du. Bà không quan tâm hắn đi đâu, mà chỉ vui mừng. Nhiều năm sau khi theo đạo Phật, bà biết mình nên tha thứ lỗi lầm của người khác. Nhưng riêng tên quỷ đó thì không thể, Ổi ạ. Bà thậm chí không muốn thở chung bầu không khí với hắn.

Rồi mọi người lại làm việc cần mẫn, ông Công và bà áp dụng những điều được bố mẹ dạy trước đây. Vụ mùa nào cũng bội thu. Gia đình tiết kiệm, đầu tư, chôn cả những lu thức ăn khô sau vườn, như thế gia đình không bao giờ bị đói nữa. Công việc làm ăn phát đạt lắm. Trâu bò đầy chuồng, lúa ngô đầy đồng.

Tình yêu giữa bà và ông ngoại cháu lại đơm hoa kết trái. Năm đinh hợi, 1947, bà sinh cậu Thuận, năm sau đến dì Hạnh – năm mậu tí, 1948. Hai mươi tám tuổi bà đã năm con, nhưng còn tính sinh thêm.

Bà còn nhớ rõ mùa hè lúc sinh dì Hạnh, trời nóng ẩm. Bên ngoài râm ran tiếng ve kêu, theo phong tục nằm ổ, bà phải ở trên giường suốt một tháng, bên dưới lúc nào cũng có lò than nóng rực. Than cháy đỏ để đuổi ma quỷ, nhưng nóng không chịu nổi. Cả người bà hôi hám ngứa ngáy; bà không được tắm, không được gội đầu.

Nằm ổ được ba tuần bà như phát điên. Một buổi sáng, sau khi cho dì Hạnh bú và dỗ ngủ, bà choàng khăn quanh cổ rồi lén ra khỏi phòng. Không khí trong lành tràn vào hai lá phổi, bà bước dọc theo hành lang, qua phòng ông Công rồi đến phòng ăn có mấy thứ đồ dùng mới lấp lánh. Bà ngước nhìn ông bà cố trên bàn thờ sau bát nhang

“Giỏi ghê!” tiếng một đứa nhỏ vọng vào, kèm theo tiếng tạch tạch đều đặn từ chiếc cầu lông đang đá. Ngọc, Minh và Đạt đang đếm, “Một trăm bảy mươi mốt.”

Ai đá được nhiều lần vậy mà không bị rơi xuống đất? bà đứng lạy trước bàn thờ rồi bước ra sân. Đám con nít đang đứng thành vòng tròn.

Minh mặc chiếc quần ngắn, không có áo, mồ hôi loang loáng trên da. Nó đang đứng trụ một chân, chân kia đá cầu. Ông Công tìm mấy chiếc lông gà, cắm vào miếng cao su để làm cầu, con của bà đã thành con của ông.

Chiếc cầu rơi xuống Minh lại vui vẻ dùng chân đá lên. Chiếc cầu lông lên xuống nhịp nhàng.

“Con giỏi quá,” bà nói. Mấy đứa con quay lại. Minh không đá nữa, chúng ùa lại bên bà.

“Mẹ, mẹ,” chúng lao nhao và ôm chặt lấy.

Bà khom xuống lau mồ hôi trên mấy gương mặt. “Vào trong mát chơi mấy con.” Bà dẫn cả vào dưới bóng cây nhãn. “Sao mẹ lại ra đây?” Ngọc nhìn bà hồi lâu. “Bà Tú bảo mẹ ở trong phòng mà.”

Bà không nín được cười. Ổi à, độ tuổi như cháu mẹ Ngọc bé hạt tiêu.

“Mẹ xin phép bà rồi,” bà vội đi qua cái sân đến bên phòng Cô Tú.

“Cô Tú ơi,” bà lên tiếng gọi. Cô Tú đang ngồi trên chiếc chiếu, tay đang bế cậu Thuận.

“Cháu làm gì mà ra ngoài này?” cô Tú cau mày hỏi. “Mẹ.” Cậu Thuận bập bẹ nghển cổ về phía bà.

“Mẹ đây, mẹ đây.” Bà nói rồi đến bên cậu. Mới một tuổi, Thuận nhìn rất dễ thương chỉ có một chỏm tóc trái đào mà ông ngoại cắt.

“Sao cháu ra khỏi phòng làm gì, trúng gió độc bệnh đấy.”

“Cô ơi ba tuần rồi. “ Bà cù mũi vào cổ cậu Thuận làm nó cười rúc rích.

Cô Tú đến bên chiếc hòm gỗ, nơi chứa trái cây chín hái từ vườn nhà. Thị nhỏ xíu vàng ươm, thơm ngào ngạt; đu đủ chín đỏ trong chiếc giỏ gai, và trái na mọng thịt nở loe ra như những cánh hoa.

Cô Tú lấy một quả chuối chín vàng đem lại chiếu, Thuận bò khỏi tay bà chui vào lòng cô Tú. Cô lột vỏ, cu Thuận hai tay chộp lấy cho vào miệng.

“Thơm quá,” bà nhìn cô Tú đầy vẻ xin xỏ.

“Cháu không ăn được trái cây tươi đâu. Đi vào phòng đi.” Cô đứng lên. “Cô sẽ mang cho cháu thố gà ác tiềm thuốc bắc.”

Trời, gà ác thuốc bắc nữa sao? Người ta tin rằng món này để lấy lại sức. Mới đầu ăn còn thấy ngon, nhưng ngải cứu riết hết chịu nổi, bà rùng cả mình.

Bà không phản đối, nhìn cô đi ra khỏi phòng. Không giống như con trẻ, cô Tú không bao giờ hồi phục sau nạn đói nữa. Tóc rụng gần hết. Nếu không phải là cô Tú không biết tình hình gia đình ta còn bi đát cỡ nào nữa.

Cô quay lại với chiếc áo dài tay, bắt bà mặc vào, kéo xuống che tận ngón tay. Khăn quàng quấn quanh cổ, tai và đầu cho bà, còn bắt xoay quanh để bảo đảm không có chỗ da nào hở ra, để mấy con ma không nhòm ngó được. Xong đâu đấy, cô đẩy nhẹ bà ra khỏi phòng.

Bước qua ven khu vườn, bà trông thấy mấy chiếc lưng cúi xuống. Ông ngoại cháu và ông Công đang nói chuyện trong lúc làm việc trên mấy thửa mạ. Sắp đến mùa cấy, mảnh vườn biến thành nơi gieo mạ.

Mấy đứa nhỏ vây quanh, Minh hỏi “Mẹ muốn ăn ổi xanh không?”

“Ừ, cho mẹ đi.” Nước bọt ứa ra đầy miệng, phải giấu không để cô Tú trông thấy.

Bọn trẻ men theo nhà bếp, đến chỗ hàng rào phía sau chui qua một cái lỗ bí mật vào trong khu đất mà ông bà cố cho cô Tú cất nhà, nhưng cô lại trồng cây ăn trái.

Bà như chìm vào khoảng sân trước. Mới giữa buổi sáng, mặt trời như cầu lửa phía xa. Một chiếc xe bò ngang qua cổng trước, xóm làng sống gần gũi, bà thở một hơi sâu đầy sức sống vào hai lá phổi.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Nguyễn Phan Quế Mai

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.