Những Ngọn Núi Biết Hát

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 38 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Đứng Lên Rồi Ngã Xuống

❊ ❊ ❊

Hà Nội, 1973 – 1975

Bom ngừng dội. Tôi ngạc nhiên nhận ra trời xanh thế, dù đang mưa.

Hai bà cháu quỳ trên đống đổ nát của ngôi nhà, chất từng viên gạch vỡ vào chiếc rổ tre. Áo quần, tay chân đều có màu gạch. Kế bên, một hố bom nước mưa đến nửa. Cái hố nhìn tôi chằm chằm bằng một con mắt buồn thảm của nó. Tôi nghĩ đến viên phi công bị bắt ở Vĩnh Phúc, có phải y ném bom vào cái hố đó không? Y ra sao rồi nhỉ, y có con gái như tôi không?

Mấy chiếc rổ tre đầy gạch. Bà tìm chiếc gậy tre rồi gánh đi. Bà cúi xuống xỏ chiếc gậy vào sợi dây cột hai cái rổ. Tôi chớp mắt nhìn bà đứng dậy, loạng choạng nâng hai chiếc rổ lên trên thân hình mảnh khảnh để đi về phía hố bom. Mấy ngón chân trần của bà xoải ra. Tôi bước đến phụ bà vứt xà bần từ rổ vào con mắt làm nước văng lên.

Xung quanh, đàn ông đàn bà con nít quần áo tả tơi, mặt mày như mấy con ma, đang làm công việc như bà cháu tôi, lấp mấy con mắt bằng xà bần do nhà cửa đổ nát.

Mẹ ơi! Hương ơi!” Bỗng có tiếng gọi lớn.

Viên gạch vụn rơi khỏi tay tôi, mẹ, mẹ về lại rồi.

Tôi đứng lên loạng choạng chạy tới đó. Trong ánh chiều tà, mẹ đang đẩy chiếc xe đạp; yên xe sau đang thồ gì đấy. “Mẹ!” tôi reo lên.

Đến gần hơn. Nhìn vào mặt mẹ, chân tôi ngừng lại, ôi! dì Hạnh chứ không phải mẹ.

Dì Hạnh dựng xe tựa vào đống gạch, chạy vội đến. Dì cúi xuống, hai tay ôm lấy tôi. Nước mắt dì ràn rụa trên mặt tôi. “Ồ, Hương, mẹ con chưa về sao?”

Tôi lắc đầu, vùi đầu vào ngực dì tìm hơi ấm của mẹ. Dì là con út thứ năm của bà, nhỏ hơn mẹ tám tuổi. Dì theo về sống ở quê chồng tận tỉnh Thanh Hóa. “Hạnh.” Bà bước tới ôm cả hai dì cháu.

“Con lo đến phát điên.” Dì đưa tay lên xoa mặt và tay bà để chắc chắn tất cả còn nguyên.

“Vớ vẩn con bé này. Không dễ giết con trâu già này đâu.” Bà phá lên cười. Giọng bà cất lên cao làm tôi mỉm cười theo.

Phụ dì đẩy xe, mắt tôi nhìn vào cái túi màu nâu ở yên sau. Đói lắm nhưng không nghĩ dì mang thức ăn đến. Chú Tuấn, chồng dì đã ra chiến trường. Dì dạy tiểu học, một mình lo cả việc đồng áng; khó khăn lắm vì con dì còn nhỏ bố mẹ chồng lại ốm đau.

“Hạnh, Con đạp xe lên đây mất hết bao lâu thế?” bà hỏi “Tầm một ngày một đêm mẹ ạ.”

“Đừng làm vậy nữa con, đường xa mà nguy hiểm lắm.” “Trước mẹ từng đi bộ hơn ba trăm cây số là gì”

Đến gần hố bom, mấy người hàng xóm dừng tay hỏi chuyện dì.

Tôi không nghe họ nói gì vì bận đi phía sau nhìn lưng dì. Dì giống mẹ lắm, mái tóc mượt như nhung dài đến thắt lưng. Ước gì tôi lại được đan tay vào tóc mẹ, hai mẹ con hay gội đầu với nhau dưới bóng cây bàng. Chỉ còn là giấc mơ, cây bàng cũng đâu còn nữa.

“Mấy đứa nhỏ ai trông Hạnh? Thanh, Châu chúng nó khỏe không?” Bà lại hỏi khi đã hết ôm nhau.

“Chúng tự chăm lấy nhau mẹ ạ. Chúng nó cao lắm.”

Mấy bà cháu đến bên đống xà bần nơi trước kia là căn nhà. Dì dựng xe vào gốc cây bàng đã gãy. Bà trồng cây bàng khi xây ngôi nhà này. Cái cây tô điểm cho căn nhà, mùa xuân cây đầy nụ xanh lục, hè cây đầy trái có vị hăng hăng, mùa thu lá chuyển sang màu đỏ như lửa rồi đông là những nhánh cây mềm mại đan vào nhau. Giờ cái gốc bật lên như cánh tay bị cháy đưa vào không khí.

“Ôi nhà, cây của tôi đâu rồi.” Dì lấy tay vuốt ve lớp vỏ cây bị xé toạc ra. “Trong cái rủi có cái may,” bà nói “rồi mình lại xây nhà, trồng cây khác con ạ.” Dì lấy tay áo lau khô mắt. “Thế hai bà cháu ngủ ở đâu?”

Tôi chỉ tay vào chỗ đầy bụi đất, trước kia là sân sau nhà. Bạn của bà cắt mấy nhánh bàng, dùng búa đóng xuống đất như cọc lều, rồi phủ tấm vải nhựa lên trên. Tấm chiếu rách lót làm nền, ba viên gạch nguyên chất lên làm lò, chiếc xô thiếc thành nồi nấu ăn. Tôi đi nhặt mấy nhánh cây khô làm củi.

Dì lắc đầu, mở móc sợi dây thun ràng cái gói đen ở yên sau xe. “Có ít gạo với khoai lang mẹ ạ.”

Phụ dì sắp đồ ra, ý nghĩ về thức ăn làm tôi ứa nước bọt.

“Nhà con đông người quá, Hạnh à,” bà nói “hai bà cháu có tem phiếu mà.”

“Bà ạ, con nghe người ta nói mấy cửa hàng nhà nước bị phá hủy cả, còn thực phẩm gì đâu mà bán.”

“Ừ, nhưng gia đình con lo ăn cho mấy đứa nhỏ, bố mẹ chồng. Lần sau đừng bày vẽ nữa nhé.”

Tôi liếc nhìn. Sáng nào bà cũng dậy trước khi mặt trời mọc, xếp hàng rồng rắn trước cửa hàng quốc doanh. Thường bà chỉ về tay không, hôm nào may mắn bà có được chút bột mì. Hiếm hoi lắm, được cốc gạo, nhưng thường là ẩm mốc và đầy mọt.

Bà mang túi của dì vào lều. Tôi chạy vào trước phủi chiếc chiếu cho ngay ngắn, bỏ chiếc túi xuống bà với tay lấy chai nước đưa cho dì. Dì tu một hơi dài.

Lục túi, dì nheo mắt nhìn tôi. “Nhìn này, dì có đồ cho con đây.”

Một cuốn sách! Dế Mèn Phiêu Lưu Ký của Tô Hoài.

“Cuốn sách yêu thích của dì đấy.” Dì mỉm cười.

“Hay đấy, chí ít không phải ba cái thứ tuyên truyền,” bà nói. Tôi định đọc ngay, nhưng dì lại lôi ra một gói khác đưa cho tôi.

“Bánh quy à dì?” tôi há miệng kinh ngạc, muốn mở gói bánh ra ngay nhưng không dám. Tôi không muốn dì thấy mình đang đói.

“Chú Tuấn mang về đấy.” Dì duỗi chân. “Bánh quy của Nga, cháu tin nổi không?”

“Tuấn về thăm nhà hả con? Nó khỏe không?” Bà hỏi, niềm hy vọng râm ran trong ngực tôi. Có lẽ bố mẹ, mấy cậu sắp theo về.

“Gầy nhom như cây sậy, nhưng có tin vui mẹ ạ. Anh ấy bảo ta đang thương lượng với Mỹ để có hòa bình. Mẹ ạ …trên đường đến đây, con có nghe Hiệp Định Đình Chiến Pa Ri trên ra đi ô.”

“Ừ,” bà nói. “Tốt đấy, nhưng…” “Nhưng sao hả mẹ?”

“Cuộc chiến chỉ thực sự chấm dứt khi người thân nhà ta về đông đủ.”

Tôi nhìn sang chỗ khác, mong ngóng bố mẹ, mấy cậu đè nặng tim tôi. Nỗi sợ quặn thắt trong tôi. Bạn bè tôi hay nhận tin dữ từ chiến trường.

Tin dữ gây ra căm hận. Nhiều nam sinh trường tôi, chưa đến độ tuổi đăng lính, trích vào tay lấy máu viết tâm thư gởi quân đội tình nguyện ra mặt trận. Chỉ mong sao chiến tranh mau kết thúc, trả bố mẹ, các cậu và người quen về lại cho tôi.

“Ồ, Ổi à,” Dì Hạnh cù vào người tôi. “Không chia cho ai sao?” Dì nhìn vào gói bánh trên tay tôi.

Tôi mở gói bánh, mấy chiếc bánh quy xếp thành hàng tăm tắp, mỗi một cái có chạm hình rất đẹp.

Tôi mời dì và bà, rồi chậm chậm nhai, để từng miếng bánh nhỏ tan đi ở đầu lưỡi. Nhiều năm sau, chúng bạn hỏi đồ ăn ngọt tôi thích thứ gì nhất, tôi nghĩ ngay đến những chiếc bánh quy này và trả lời: bánh hạnh phúc.

Trong căn chòi, bà và dì như quên đi lo lắng. Hai mẹ con kể cho nhau nghe chuyện ngày trước, rúc rích cười. Quanh đây, những sợi khói tỏa ra từ mấy chỗ ở của hàng xóm, đan vào sắc đỏ của hoàng hôn. Đám bạn tôi lại rượt đuổi nhau trên mấy đường bên cạnh, tiếng cười của chúng quyện với khói bếp bốc lên cao. Bọn nó kêu tôi ra chơi cùng, nhưng tôi lắc đầu. Dì Hạnh đang ở đây, tôi có cảm giác như mẹ đã trở về.

Tối hôm ấy, tôi ngủ giữa hai người phụ nữ, tiếng nói mềm mại của họ dìu tôi vào giấc mơ. Trong đó, mẹ chạy đến với tôi, có cả bố nữa. Nghe tôi gọi, mẹ cúi xuống bồng tôi lên, mẹ có mùi thơm như dì Hạnh. Bố cười ôm cả hai mẹ con, ông nói không bao giờ xa vợ con lần nữa.

Tôi giật mình tỉnh giấc, thấy bà lấy áo của mình đắp thêm cho tôi. Trời lạnh quá; trăng ngoài kia lung linh trong sương. Bà và dì đang dọn dẹp đống đổ nát, miệng đang hát nho nhỏ. Giọng hát của hai người như gió hạ mơn man gương mặt tôi.

Ngày nào bà cũng giục dì về nhà, nhưng dì ở lại giúp bà dọn dẹp. Bà đến trường, dì lụi hụi một mình. Dì tiếp tục cho đến khi chuyển hết gạch đá và dựng được chiếc lán cho hai bà cháu. Nhờ vào lòng hảo tâm của người quen và không quen mà bà cháu bây giờ đã có được nơi ở khá hơn: mấy miếng tôn che trên cọc tre. Không phải ngủ ngoài mưa gió của mùa đông.

Hai bà cháu tạm ổn, dì lau nước mắt dẫn chiếc xe ra con đường đầy bụi. Chuẩn bị cho chuyến đi của dì, bà thức khuya tối hôm trước, nấu chút cơm, vắt thành từng nắm rắc thêm muối đậu. Không biết bà xoay đâu ra chỗ lạc ấy; bây giờ rất hiếm và quý như vàng.

Nhìn dì đạp xe đi, bà thì thầm “cẩn thận nhé con,” như chỉ cho bà và tôi nghe. Bà nhìn lên trời cao như sợ bom sẽ rơi vào những con đường dì đi qua.

Tôi đắm mình vào thế giới của Dế Mèn Phiêu Lưu Ký. Ước sao mình là chú Mèn, có thể rời khỏi tổ để chu du thiên hạ, gặp thiên nhiên rộng lớn, gặp đủ loại người, có được sở thích riêng, gây chuyện và kết bạn. Trong thế giới của chú dế không hề có chiến tranh hành hạ lẫn nhau.

Dì Hạnh đi được một tuần, tôi cùng bà từ trường về nhà, nói chuyện về mấy đứa bạn suốt dọc đường. Bà vẫn không để tôi đi đâu một mình, sau giờ học bà đến đón tôi.

Con hẻm khu phố nhà tôi đầy bùn đất lỗ chỗ gạch vụn. Hai bà cháu nhón chân cố nhảy chuyền lên mấy hòn gạch, tôi bị trượt bà sẽ chụp lấy tay.

“Bà Diệu Lan,” có người gọi tên bà. À, ông Tập ở kế bên nhà đang vẫy tay. “Có hai chú bộ đội đang tìm bà đấy,” ông bảo. “Tôi dẫn đến nhà bà, vì nghĩ bà có nhà.”

Bà cám ơn ông, nắm chặt tay tôi cố đi cho nhanh.

Trước mặt là sân giặt đồ cho cả khu phố, chỗ duy nhất mà hàng xóm có thể hứng nước sạch từ chiếc vòi dơ dáy chảy ri rỉ. Con nít mang thau chậu xếp thành hàng dài. Hai bà cháu đến gần, đám trẻ con đứng bật dậy bỏ cả thau chậu chạy về phía chúng tôi.

Sơn, chạy đua khó ai thắng được nó, kéo áo bà “Bà ơi, mấy chú bộ đội tìm bà đấy. Mấy chú…”

“Mấy chú nói muốn đợi bà đấy ạ.” Bạn tôi, con Thủy nói xen vào. Tiếng nói lao nhao như tổ ong.

“Gượm đã, một đứa nói thôi,” bà bảo chúng. “Nào, mấy chú đâu?”

“Đằng kia, đằng kia!” lại một rừng cánh tay chỉ về phía chiếc lều của bà Như, đối diện với ‘nhà’ chúng tôi.

Tôi loay hoay với đôi dép nhựa. Con Thủy nó kéo tôi chạy nhanh lên. Bà cố đi nhanh hơn nhưng ngã xuống bùn, đứng lên rồi lại ngã. Tôi đến được bên bà, hai chú bộ đội đã đỡ bà dậy. Mọi người giúp bà phủi bùn nhưng bà khoát tay bảo để đó cho bà.

Hai chú cao, ốm mặc quân phục màu xanh đậm. Chú lớn tuổi có nếp nhăn quanh mắt. Chú trẻ nhìn cứ như mấy đứa con trai trường tôi mới bỏ học ra mặt trận.

Dạ, xin chào,” chú lớn tuổi lễ phép chào bà. “Bọn con đến đây để gặp gia đình đồng chí Thuận ạ.”

Nguyễn Hoàng Thuận là người con thứ tư của bà, cậu Thuận của tôi. Bà nắm tay tôi, đưa mấy chú vào nhà. Bọn con nít trong khu phố đi theo xầm xì ồn ào. Chú lớn tuổi phải nhắc đi hứng nước, tụi nó biết ý chú nên lảng ra nơi khác. “Chốc nữa kể tớ nghe với nhé.” Thủy thì thào vào tai tôi trước khi bỏ đi.

Trong lều, tôi mang khăn lau mặt cho bà rồi trải chiếc chiếu ra nền đất, không biết mấy chú có biết bố tôi với mấy cậu không nhỉ?

Bà mời hai chú ngồi. Hai chú cám ơn rồi cởi đôi dép lốp. Tôi nhìn mấy đôi dép mà thán phục độ bền: bố tôi có lần nói dép của mấy chú làm từ lốp xe phế thải. Ngồi xếp bằng trên tấm chiếu, hai chú gỡ mũ đặt trong lòng. Hai chiếc mũ có màu như quân phục, phía trước là ngôi sao vàng sáng chói. Trên đường vào nam bố mẹ và mấy cậu cũng đội mũ như vậy.

Bà cho ít nước vào chậu, bắt lên bếp. Tôi nhóm lửa.

Bà hít một hơi dài trước khi quay sang hai chú, “hai cháu đến chờ lâu không?”

“Dạ không lâu đâu mẹ ạ,” một chú gọi bà là mẹ hệt như mấy cậu. Mấy chú hỏi tôi tên gì, học lớp mấy.

“Dạ cháu tên Hương, mười ba tuổi đang học lớp sáu ạ.”

“Cháu cao so với tuổi đấy,” chú lớn tuổi kêu lên.

Chú trẻ tuổi đặt chiếc ba lô xuống. Chiếc ba lô căng cứng, chắc có thư của cậu Thuận. Bà hay bảo chiến trường không có bưu điện, thi thoảng mới biết tin nếu có đồng đội nào của bố mẹ hay mấy cậu từ trong nam ra mang thư đến nhà hay bỏ thư vào bưu điện đâu đấy.

“Thật tình!” bà bỗng bật cười lớn, “tính nấu trà mời mấy chú mà nhà nào có trà, trước giờ có vậy đâu…” giọng bà đột nhiên run run đầy bối rối, tôi không biết vì sao.

“Không sao đâu mẹ. Chúng con mới uống bên nhà hàng xóm.” Bà lại tìm chai nước. “Xin lỗi, nhà có mỗi một cái tách.”

Quay lại bếp lò, tôi cho thêm mấy nhánh cây nhỏ vào. Ngọn lửa bừng lên, mấy tàn nhỏ bay vào không khí.

Tôi tự nhủ, không để phí củi lửa, lần tìm trong ba lô của dì Hạnh lấy nắm gạo cuối cùng. Cũng đủ cho hai chén cháo loãng. Cho gạo vào xô, tôi nhìn chúng qua màn hơi nước.

Chú lớn tuổi hắng giọng “mẹ ạ, tụi con có nghe bị dội bom nhưng không ngờ đến nông nỗi này.

Mọi người im lặng, tôi châm thêm nước. Bếp lửa sưởi ấm quanh tôi. “Chúng con đến là có tin của đồng chí Nguyễn Hoàng Thuận, con trai mẹ.”

“Thuận nó sao rồi con? Nó vẫn bình yên chứ?” Tay bà nắm chặt gấu áo, mấy ngón tay run run.

Thay cho câu trả lời, hai chú bộ đội quỳ gối lên. Chú trẻ tuổi mở nắp chiếc ba lô rồi dùng hai tay nâng một bộ quân phục lên, trong khi chú kia lấy mấy bức thư ra.

“Mẹ…” hai chú đưa cả bộ quân phục và mấy lá thư cho bà. “Không!”

“Đồng chí Nguyễn Hoàng Thuận rất dũng cảm.” Tôi nghe rõ từng lời. Vạn vật xung quanh như xoay tít mờ ảo. Tôi lần đến bên bà. Bà đang khóc, đôi vai rung lên.

“Chúng con rất đau lòng. Đồng chí Thuận bị phục kích, nhưng đã chiến đấu anh dũng.”

Bà cầm lấy bộ quân phục của cậu, vùi mặt vào trong bộ quần áo bà gọi cậu.

Thuận ơi, ơi con ơi. Con về với mẹ đi con ơi!

Tôi ôm lấy bà. Cậu Thuận đã chết. Cậu hay cù cho tôi cười, leo lên cây sấu chọn mấy trái chín nhất hái cho tôi, làm mấy con diều rất đẹp cho tôi thả.

“Mẹ ạ, chúng con hiểu được nỗi đau của mẹ, với tư cách là đồng đội của Thuận, chúng con xin hứa sẽ quét sạch quân thù. Hy sinh của đồng chí không uổng phí.”

Bà lắc đầu như thể không muốn nghe thêm nữa.

“Hai cháu quen thân với Thuận chứ?”

“Chúng con cùng đơn vị. Anh em với nhau cả, Thuận rất tốt với mọi người.”

Bà đưa ngón tay lần theo nét chữ của con trong thư.

“Dạ thêm một lá nữa ạ.” Chú lớn tuổi đưa ra thêm lá thư. “Để gởi cho bạn gái chú ấy, cô Thu.”

Bà ấp lá thư trong tay. Bà khó khăn nuốt vào. “Thuận nó muốn cưới cái Thu. Mẹ đã dành dụm cho ngày vui của chúng nó mà cũng là ngày vui của gia đình.” “Bọn con biết mẹ ạ, Thuận có kể rằng chú ấy nóng lòng chờ đến ngày cưới để nghe mẹ hát.”

“Ngày mai mẹ sẽ đi gặp cái Thu,” bà nói. “Ở lại dùng cơm nhé?”

“Dạ bọn con phải đi,” chú lớn tuổi mỉm cười yếu ớt. “Bọn con có buổi tập huấn, nhưng đồng chí chỉ huy bảo đến đây gặp mẹ trước.”

Bà gật đầu. “Giữ gìn nhé các con… còn có ngày gặp lại gia đình nữa.”

Hai chú bộ đội cúi đầu. Ngoài kia, gió mạnh giật lên trong không trung, vỗ vào mấy tấm tôn trên nóc lều. Trong hẻm, có tiếng gọi mẹ của đứa bé trai xa xa.

Tôi quay lại bếp, lửa chỉ còn âm ỉ chừa lại những mẩu củi cháy dở đang ngún khói. Tôi như không còn nghe thấy, cảm nhận được gì ngoài cái lạnh mùa đông thấm vào da thịt.

Bà và tôi lập bàn thờ cho cậu Thuận. Không có cả một tấm ảnh. Chiếc ba lô và quần áo cậu để trước bát nhang. Bà thức ba đêm đọc kinh cầu nguyện cho cậu được siêu thoát. Tiếng đọc kinh lâm râm, tiếng mõ đều đều và khói nhang lan tỏa cả căn lều.

Tôi giật mình thức giấc vào đêm thứ ba thấy bà đứng trước nhà ngước nhìn bầu trời, tay cầm mấy lá thư của cậu, mấy bức thư ấy tôi đã thuộc lòng. Chỉ cần nhắm mắt lại, những dòng chữ hiện ra dẫn tôi đến với rừng Trường Sơn nơi cậu hành quân dưới những cây cao, xung quanh là những cánh bướm dập dờn, mấy chú khỉ chuyền cành, có cả tiếng cười của cậu lúc bắt cá hái rau tàu bay. Trong thư cậu chỉ có hy vọng, yêu đời và nỗi nhớ nhà. Cậu là người thanh niên luôn tin tưởng vào tương lai phía trước.

Tôi bước đến ôm lấy bà. Trời trong như một tấm gương, tôi có cảm giác cậu đang ở trên cao cùng với tổ tiên dõi theo hai bà cháu.

Mọi người hy vọng chiến tranh đến hồi kết, nhưng vẫn cứ kéo dài. Bà không để tôi thấy bà buồn rầu sợ hãi. Một hôm nhìn thân thể tôi ốm o, bếp núc nguội lạnh, nhà cửa bệ rạc, bà bảo tôi bà muốn nghỉ dạy học, lương hướng gần như không có gì. Thoạt nghe, tôi tưởng mình nhầm, nhưng rồi học sinh bà đến năn nỉ bà đổi ý.

Hôm sau lúc bà đến đón tôi đi học về tôi nài nỉ. “Bà ạ, đừng bỏ dạy!”

“Shh!” bà đưa tay lên môi làm hiệu im lặng, nhìn lom lom mấy thầy cô đang đứng gần bên.

Về đến nhà bà ngồi vào chiếu. “Bây giờ nói chuyện được rồi. Nhưng khẽ thôi.” “Bà không nghỉ dạy được đâu, bà không thấy học sinh quý bà thế nào sao?”

Bà với tay lấy chiếc lược, chải tóc. “À, bà cũng nhớ học sinh lắm chứ. Nhưng không thể chịu nổi cái kiểu tuyên truyền tẩy não nhồi vào đầu óc ngây thơ của chúng nó. Thầy cô là bầy tôi của đảng nữa.”

“Bà tính làm việc gì chứ?”

“Cháu phải giữ bí mật đấy.” Bà nói thầm vào tai tôi. “Bà ra buôn bán ở chợ đen, để trang trải ăn uống và xây lại nhà nữa. Còn phải dành dụm cho bố mẹ con và các cậu đến ngày về nữa chứ. Bà tự do không còn là bầy tôi của ai nữa cả.”

“Bà là con buôn à? Nghe ghê thế…” Mắt tôi mở to, lời bài học đạo đức của thầy cô vang lên tai: “Chế độ xã hội chủ nghĩa vinh danh giai cấp công nông. Chúng ta phải đập tan, loại bỏ tư sản, tiểu thương ra khỏi xã hội. Chúng là những kẻ hút máu nhân dân.”

“Hừ, cháu cũng bị tẩy não rồi đấy.” Bà khịt mũi. “Con buôn có gì xấu chứ? Để rồi xem bà thành con buôn đấy. Bà đã bán đôi hoa tai mua ít hàng chạy chợ.” Tôi rờ tai bà rồi thở mạnh. Vật có giá trị duy nhất của bà dành cho đám cưới của cậu Thuận đã biến mất.

“Bà lấy tiền mua gì ạ?”

“Để bà xem nào.” Bà bấm mấy ngón tay tính toán. “Dép, khăn, pin, xà phòng tắm, lốp xe. Những thứ đang hút hàng ngoài chợ đen.”

“Bà để đâu ạ?” tôi nhìn quanh lều không thấy gì.

“Bà để ở nhà người bạn trong khu phố cổ. Mang đi lung tung bị tịch thu ấy chứ.”

“Không phải là bất hợp pháp sao bà? Cháu nghe chỉ có cửa hàng nhà nước mới được phép bán –”

“Ổi à.” Bà cắt lời hai tay ôm lấy mặt tôi. “Bà chẳng làm gì xấu cả, tin bà đi.” Nhìn vào mắt bà tôi thấy cả sự kiên quyết. Nhưng công việc mới của bà gây cho bà cháu rắc rối thì sao?

“Mình cần thực phẩm, còn người ta cần những thứ bà bán. Hơn nữa, phải chuẩn bị cho tương lai chứ, bố mẹ cháu và mấy cậu quay về. Làm sao sống thế này mãi được.” Tay bà vỗ vỗ chiếc chiếu, giường của hai bà cháu, trông thật thảm hại như đang dính sát vào mặt đất.

“Bà ạ, có chuyện gì xảy ra với bà – ”

“Không có gì đâu, bà sẽ hết sức thận trọng.” Bà hôn lên tóc tôi rồi chỉ chiếc nồi đang treo trên giàn bếp. “Đoán xem bà có gì đó?”

“Gạo hả bà?” bụng tôi sôi lên.

“Ngon lành hơn nhiều.” Bà nháy mắt. “Bà có cả quà cho cháu đấy, mỗi tội không nhớ để đâu rồi.”

Tôi lật đật kéo chiếc chiếu sang bên, không thấy gì. Tìm dưới gối, đến quần áo, chén bát cũng không.

“Cháu tìm kỹ vào,” Bà cười khúc khích.

Cuối cùng tôi cũng tìm ra gói quà, gói cẩn thận giấu dưới đống củi. Ôi, cuốn sách, Cuộc Phiêu Lưu Của Chú Người Gỗ Pinocchio. Ngồi xổm trên chiếu, lật từng trang, cuốn sách đưa tôi đến nước Ý, nơi người thợ điêu khắc phát hiện ra khúc gỗ biết nói tiếng người.

Có mùi thơm bốc lên từ bếp. Tôi đưa mắt nhìn thân hình còm cõi của bà đang cúi xuống bên bếp lửa. Bà luôn khuyến khích tôi đọc để mở mang đầu óc, không như bố mẹ các bạn chỉ bảo con cái tập trung vào sách giáo khoa. Tôi luôn là ưu tiên số một của bà, thế mà tôi hoài nghi cả bà.

Tôi bước đến nhìn vào nồi. Ôi có cả thịt bò! Những lát thịt mỏng như tờ giấy đang kêu lên xèo xèo.

“Một điều bà không thích làm con buôn là,” bà nheo mắt vì khói, “không ở nhà thường xuyên với cháu.”

“Cháu tự lo được bà ạ. Bà không nhớ cái đêm bà hoảng hốt ạ? Không cần phải vậy đâu.”

Bà thái thêm hành, tôi dùng mấy ngón tay thay cho đôi đũa bốc mấy miếng thịt bò cho vào miệng. Bỏng cả lưỡi, nước mắt trào ra nhưng cái bao tử mãn nguyện lắm.

Tôi lau miệng để bà khỏi bắt gặp. Bà nêm thêm hành gừng vào nồi thịt, đôi đũa trên tay như đang khiêu vũ, trộn đều mọi thứ.

“Thôi bỏ đi.” Bà nêm thêm chút nước mắm, “Nhưng bà sang nhà cái Thủy, mẹ nó nói không thấy cháu.”

“Cháu đang chơi với nó ở sân sau nhà mà. Bà đừng lo lắng như thế.”

“Ổi à, bà hứa với mẹ chăm sóc cho cháu, bà không thể để chuyện gì xảy ra được.”

“Bà không trông thấy cháu đã lớn, khỏe như thế nào ư?” Tôi kéo bà đứng lên chỉ cho bà thấy tôi cao bằng bà rồi. “Kẻ nào dám bắt, cháu đá cho vào mông chứ lỵ” Tôi đấm vào bụng bà, nhanh như cắt bà nhảy lùi lại đưa tay đỡ. Tôi lại đá vào đùi bà nhanh đưa chân lên chận lại.

“Được rồi, được rồi. Bà không nên quên đã dạy cháu mấy thế Đá – Xỉa – Chém.” Bà cười. “Để bà nấu cho xong, cháy hết bây giờ.”

Công việc mới của bà cho tôi nhiều tự do hơn. Ngày nào bà cũng đi, tôi lại không muốn ngồi nhà. Ở Trường về, tôi hay chơi với cái Thủy, nhảy dây, nằm võng nói chuyện đi đó đi đây khắp cả Hà Nội. Có khi hai đứa lên tận sông Hồng, ngâm chân xuống nước ngồi nghe gió thổi vào tóc.

Rồi bà thành con buôn chuyên nghiệp, phố cổ thành nơi giao dịch cho mấy phi vụ bí mật của bà. Bà không có cửa hàng, mà cũng không mang theo đồ bên mình. Đầu đội nón lá tránh nắng, bà lượn quanh các cửa hàng quốc doanh để tìm khách hàng.

Cả người bán lẫn người mua chỉ thì thào kỳ kèo, mặc cả. Khi đã ngã giá xong, bà đưa khách đến nơi khác để giao hàng và nhận tiền. Mắt trước mắt sau cẩn thận, công an hay quản lý thị trường xuất hiện, tất cả tản ra và kết thúc thương vụ.

Không còn máy bay Mỹ, bà có cơ hội làm ngày làm đêm. Mắt mũi thâm quầng, da sạm đi vì nắng gió, chân bà phồng rộp cả lên. Đổi lại với hiểm nguy phải đối mặt, bà mang về nhà thức ăn, áo quần và sách vở cho tôi. Về đến nhà là bà hát. “Chừng nào bà còn hát được là bà còn sống,” bà nói như vậy khi kể với tôi bà đi bộ ba trăm cây số mang cậu Sáng lên Hà Nội. Lúc ấy cậu chỉ là đứa bé, bây giờ đã là chú bộ đội. Chú chiến đấu nơi đâu? Có còn sống không? Bố mẹ tôi còn sống không?

“Bà à,” một đêm nọ tôi hỏi bà. “Sao lâu rồi mợ Hoa không đến thăm mình nhỉ?” Mợ Hoa là vợ cậu Sáng, sống ở trong khu chung cư gần Nhà Hát Lớn Hà Nội. Bố mẹ mợ là cán bộ đảng cao cấp.

“Chắc phải lâu lắm mới gặp lại đấy.” Bà đang ăn tối sau cả ngày làm việc. Đã gần nửa đêm, bà gắp một đũa rau muống chấm vào chén nước mắm rồi bỏ vào miệng.

“Sao vậy bà? Mợ phải chăm sóc bà khi chú Sáng đi xa chứ?”

“Mợ thuộc giai cấp khác rồi cháu, giai cấp cao hơn nên không phải theo một khuôn phép nào cả.” Bà nhún vai khi đang dùng đũa gắp mấy con tép tôi nấu với khế.

Bà chắt lưỡi sau khi nhai “ngon, cháu thành đầu bếp được rồi đấy.”

“Bà,” tôi khăng khăng “đành là mợ Hoa có chức vụ quan trọng trong đảng nhưng mình vẫn là người một nhà mà bà?”

“Đúng đấy cháu ạ. Nhưng mợ đâu được phép thể hiện sự quan tâm đến mình được. Tiếng đồn mau lắm, mợ biết bà buôn bán chợ đen. Mợ không đến thăm được đâu. Để người khác bắt gặp có liên hệ với bà là rắc rối đấy.”

“Ra vậy nên hàng xóm cũng đâu đến nhà mình nữa, trừ bà Nhân. Cháu không quan tâm nhưng là mợ Hoa thì…”

“Đáng gì đâu cháu, Ổi à. Miễn bà có cháu là được.”

Mấy hôm sau tôi sang nhà Thủy, mang cho nó đĩa bánh cuốn do bà và tôi tráng. Miếng bánh ướt mỏng tang cuốn nhân thịt bằm xào với nấm – món khoái khẩu của nó.

“Nó không có nhà,” mẹ nó nói trước khi tôi kịp vào trong. “Cô à cháu có tí đồ cho nó đây.” Tôi nâng đĩa bánh lên.

“Không dám, chúng tôi ăn rồi.” Mẹ cái Thủy quay đi để tôi đứng một mình ngoài sân. Tôi cố đoán sao mẹ nó dấm dẳng với tôi như vậy, có lẽ tôi quên chào lần gặp trước chăng?

Hôm sau, đến trường Thủy cố tránh mặt tôi.

“Chuyện gì vậy Thủy?” Tôi chạy theo nó trên đường về nhà.

Nó cứ bước đi.

Tôi chận trước mặt hỏi “Tớ làm gì sai à?”

Nó lách sang bên nhưng tôi chộp tay nó lại “Tớ có dành cho cậu ít bánh cuốn.” “Tớ không ăn đồ của cậu đâu.” Nó giật tay ra. “Đừng sang nhà tớ nữa.”

“Bố mẹ cậu không cho mình chơi với nhau nữa vì công việc của bà tớ phải không?”

Nó cúi đầu, khi ngẩng lên nó đọc một câu tục ngữ “Cá không ăn muối cá ươn,

con cãi cha mẹ trăm đường con hư.

Cái Thủy bỏ đi rồi, tôi không biết nó có muốn tôi cãi bà để được chơi với nó không.

Tối hôm đó, tôi lên kế hoạch thuyết phục bà thôi công việc buôn bán ở chợ đen. Lúc về bà lại nở nụ cười hết cỡ. “Một cuốn sách của Mỹ đây,” bà nói rồi mở một gói đồ, cuốn sách cả trăm trang chép tay. “Mắc lắm, nhưng chắc cháu thích đọc đấy. Tiểu thuyết Ngôi Nhà Nhỏ Trong Những Cánh Rừng Đại Ngàn, của Mỹ nổi tiếng lắm.”

“Sao cháu phải đọc mấy thứ từ quốc gia đến dội bom ở đây chứ?” Tôi nhìn sang nhà Thủy chỉ mong nó đổi ý.

“Đâu phải cái gì của Mỹ cũng xấu. Nhiều người dân của họ đang phản đối chiến tranh.” Bà nhặt trang đầu đọc lớn lên. Cuốn sách bắt đầu bằng “ngày xửa ngày xưa,” như truyện cổ tích, rồi mang tôi đến một thế giới bí ẩn của một bé gái người Mỹ tên Laura và ngôi nhà bằng gỗ, bao quanh là rừng sâu núi thẳm có cả chó sói, gấu và nai sống ở đó.

“Ai dịch cuốn sách này vậy bà?” Lần giở mấy trang, chạm vào con đường đưa tôi đến với đất nước mà trước giờ hầu như không biết gì, dù hành động của họ thay đổi cả cuộc đời tôi.

“Một vị giáo sư cháu ạ. Ông ấy đến Nga học văn chương Mỹ, xem người Mỹ nghĩ gì. Ông thực tập thêm tiếng Anh bằng cách dịch cuốn sách này.”

“Đây là chữ viết của ông sao?”

“Gia đình ông ấy chép lại để bán…”

Ngôi Nhà Nhỏ Trong Những Cánh Rừng Đại Ngàn giúp tôi quên Thủy để làm bạn với Laura, rồi cùng ngồi nghe cha cô ấy chơi nhạc kể chuyện. Giống bố tôi, Pa vui tính, thích chế tạo thứ này thứ kia. Ma lại giống mẹ tôi rất đẹp và hay nấu nướng.

Tôi ngưỡng mộ Laura mà ganh tị nữa. Thế giới của tôi đầy những chờ đợi, nhưng cô ấy có đủ cha mẹ, hai chị Mary và Carrie, cả chú chó Jack. Có điểm giống tôi, Laura có những nỗi lo riêng, cô lo sợ mỗi khi cha phải qua cánh rừng sâu đến thị trấn bán lông thú cả đêm không về nhà, sợ cha mẹ sẽ gặp gấu cả hai có thể mất mạng.

Tin đồn rằng người Mỹ thích khống chế những dân tộc khác, rằng họ không có tình cảm như người mình, giờ tôi mới biết họ cũng yêu thương gia đình cũng lao động vất vả mới có cái ăn. Họ cũng thích nhảy múa, nghe nhạc và kể chuyện như chúng ta.

Gần cuối tháng 3 năm 1973, tin quân đội Mỹ sẽ rút khỏi Sài Gòn lan đến Hà Nội. Trong lớp học, thầy cô cho chúng tôi xem những bức hình những tên người nước ngoài cao lớn lên máy bay, chúng tôi vỗ tay hát bài ca chiến thắng. Chiến tranh kết thúc, chúng tôi đánh thắng quân Mỹ xâm lược.

Về đến nhà, bà không chút hào hứng nào. Trong khu phố cổ bà nghe tin đồn cuộc chiến vẫn tiếp diễn. Người Mỹ ra đi, cuộc chiến giờ là giữa người Việt với nhau, người Bắc đánh người Nam.

Lúc nào thấy có chú bộ đội đến nhà hàng xóm, tôi đều sợ đến đờ người. Tôi cố vùi đầu vào học, đọc sách và niệm Phật.

Tôi vẫn gần gũi bà. Sau giờ cơm tối và làm bài, tôi ngủ chút đỉnh rồi thức dậy lúc bà về. Bà rửa ráy, ăn uống tôi ngồi cạnh bên kể bà nghe chuyện ở trường, nghe cả chuyện trong ngày của bà. Bà kể cửa hàng nhà nước không đủ lương thực, người ta tranh cãi giành nhau chỗ xếp hàng. Nhiều người dậy sớm xếp hàng chiếm chỗ rồi bán lại cho người khác, rồi đến cảnh phải lót tay mới mua được miếng thịt ngon hay mớ gạo kèm khuyến mãi giòi bọ. Mọi người xung quanh làm đủ mọi cách để sống còn.

Bà cháu tôi cố gắng dành dụm. Đêm đêm tôi giúp bà đếm những đồng tiền lẻ, những tờ giấy bạc nhàu nát. Tất cả đều đẫm mồ hôi của bà.

Một tối nọ, bà về sớm mang theo cả chiếc xe đạp. Vuốt ve chiếc ghi đông gỉ sét tôi cười vui vẻ. Hàng xóm quanh đây chỉ ông Lượng có xe đạp, ông ấy là cán bộ đảng. Tôi muốn bà mua cho chiếc xe; cái Thủy vì ghen tị mà chết mất. Nó vẫn không nói chuyện với tôi, tôi cũng cố không động đến nó. Bạn của tôi giờ là Laura, chú người gỗ Pinocchio và cả dế Mèn.

Bà cho tôi xem giấy chứng nhận của công an rằng bà là người sở hữu chiếc xe. Trên khung xe là chiếc bảng số bằng kim loại: 3R-3953. Tôi ôm bà nhảy cỡn lên mừng rỡ. Để ăn mừng bà nghỉ làm sớm một hôm rồi cùng tôi ra phố Hàng Gai. Trăng tròn sáng trên cao như theo chân hai bà cháu. Qua chiếc nhà gỗ năm gian. Dưới ánh trăng nó đứng đó cổ kính như trong mơ – những cánh cửa gỗ chạm trổ tinh vi với họa tiết hoa lá chim muông, mấy chú rồng và phượng hoàng bằng sứ vụt bay lên từ đầu hồi. Căn nhà của tổ tiên tôi có còn nguyên qua bom đạn không nhỉ? Lúc nào tôi mới được đến đó để chạm vào những gì còn sót lại thời thơ ấu của bà?

Bà tôi giờ phải di chuyển nhanh hơn, phục vụ nhiều khách hàng hơn. Bà mở rộng mặt hàng sang bán cả áo khoác, áo mưa và ra đi ô. Trong đó có những thứ nhập từ Liên Xô và Trung Quốc.

Ở chợ đen bà nghe ngóng được nhiều tin tức về cuộc chiến. Bà bảo tôi Quân Đội Miền Bắc đang tiến sâu vào nam và giành được nhiều thắng lợi. Tôi vẫn sợ bố mẹ không về, chẳng có tin tức gì cả. Trong mấy cậu chỉ có cậu Đạt gởi được một lá thư, trong đó nói rằng cậu nhớ nhà nhiều lắm, cậu vẫn khỏe và đang tiến vào Sài Gòn. Không biết cô Nhung, bạn gái cậu, cảm giác khó khăn thế nào nữa. Cậu và cô Nhung thương nhau từ thời trung học, cô đang làm kế toán. Cô là một trong mấy người còn lui tới bất kể bà tôi đã thành con buôn. Cô hay đến lắm, bà không có nhà cô tập cho tôi chạy xe đạp. Tôi mong sao cậu Đạt sớm trở về để làm đám cưới với cô ấy.

Mấy tháng qua đi, tôi được mười bốn tuổi, bà làm việc không quản ngày đêm. Một buổi tối, bà kéo tôi lại gần. “Đủ tiền xây nhà gạch loại thường rồi đấy con.” Mắt tôi mở to, căn lều của chúng tôi không chịu nổi cơn gió mạnh. Ngày nóng, bên trong như chảo lò, đến lúc mưa nước dột lung tung.

“Có thể mượn thêm chút đỉnh nhưng bà có thể trả nợ được,” bà nói, “bây giờ lên thiết kế cho ba phòng ngủ nhé.”

“Ở đây á bà?” tôi nhìn quanh căn lều bé xíu.

“Xây ở sân sau ấy chứ. Một phòng cho bố mẹ con, một phòng cho Cậu Đạt và Nhung, một cho con và bà, được đó.” Bà cười với tôi, “con có muốn tự mình vẽ kiểu cho căn nhà không? Đơn giản thôi. Theo con mình cần gì nào?”

“Một hầm tránh bom bà ạ.”

“Ừ, quan trọng đấy. Ngay cửa phòng ngủ nhé?” “Ba cái bà ạ.”

“Ba phòng ba cái, thông minh đấy. Có thêm một phòng khách một phòng ăn làm nơi nói chuyện ăn uống chứ.”

“Một nhà bếp và một phòng giặt nữa ạ.”

“Rồi thêm một chỗ đầy đủ ánh sáng không khí cho cháu học.” “Kế bên cửa sổ phòng ngủ của hai bà cháu ạ.”

Dựa vào đó hai bà cháu tôi thiết kế căn nhà. Tôi vẽ sơ đồ, rồi hàng đêm bà điều chỉnh lại. Cửa sổ phải cao để tránh mấy con mắt tò mò từ bên ngoài. Bản vẽ hoàn tất, bà mang vào khu phố cổ, kiến trúc sư vẽ lại bản hoàn chỉnh dựa vào thiết kế cơ bản đó. Kiến trúc sư thêm vào cả hệ thống điện và đường ống vệ sinh mặc dù hồi ấy điện thi thoảng mới có, nước thì chưa vào đến nhà.

Tôi háo hức chờ đợi. Thủy vẫn sống ở nhà bên, chắc là nó muốn đến xem lắm. Mấy tuần sau, làm về bà cười nói. “Tìm được công nhân xây dựng, và giấy phép mua xi măng cát đá rồi cháu ạ.”

“Phải có giấy phép sao bà?”

“Không có giấy phép, trên đường chở đến bị tịch thu đấy.” Bà nói sát tai tôi, hơi thở của bà cù tôi buồn cười. “Phải xây thật nhanh, hàng xóm họ thắc mắc, có ai hỏi gì cứ nói gặp bà nhé.” Tôi gật đầu.

“Bà cũng đã gặp Ủy Ban Nhân Dân Phường xin phép dọn dẹp để chuẩn bị xây lại.” Bà cho tôi xem một văn thư có đóng mộc đỏ chói. “Cứ như ăn mày. Họ thắc mắc bà lấy đâu ra tiền. Lúc đang bị cật vấn, cậu Trương – bạn cùng lớp với cậu Thuận – bước vào. Trương bảo mấy cán bộ tha cho bà. Cậu Trương nói bà đã cho bốn người con ra chiến trường chống Mỹ cứu nước, bà nên được phép xây lại căn nhà của mình chứ.”

Tôi ngước nhìn bàn thờ, có lẽ linh hồn cậu đã phù hộ cho hai bà cháu.

“Trương nó được lắm đó,” bà thở dài, “nhưng đúng ra bà nên nói là nó nhầm rồi.”

“Ý bà nhầm là sao ạ?”

“Bà có gởi con cái ra chiến trường đâu, Ổi à, bà suýt mất con từ khi chúng còn bé tí. Bà nào có muốn chúng nó xa mình đâu. Không bao giờ!”

Tôi nắm chặt tay bà. Hai bà cháu nhìn ra mấy căn lều của hàng xóm lặng yên trong đêm.

“Trương nó nói riêng với bà, còn chuyện nữa phải lưu ý. Phải làm sao cho hàng xóm bớt ganh tị, bà cháu ta nên làm gì đó cho khu phố.”

“Cho đồ ăn được không bà?”

“Hay đấy, Ổi. Nhưng bà muốn giúp cái gì đó lâu dài hơn. Cháu nghĩ sao nếu cho đào cái giếng và đặt máy bơm nơi vòi nước công cộng?”

Tôi nhảy lên, ý tưởng của bà quá tuyệt. “Xếp hàng chờ hứng nước thật mệt.

Cháu cá là hàng xóm sẽ vui lắm.”

“Không chắc đâu. Bà phải thuyết phục họ đấy.”

Mấy tuần sau, bà về nhà sớm bà ăn vội bữa cơm tối. Tôi hoan hô khi nghe bà nói tôi có thể theo bà đến cuộc họp tổ dân phố hàng tuần.

Ủy Ban Nhân Dân thường dùng căn biệt thự theo kiểu Pháp rất đẹp có hành lang rất rộng và mấy khung cửa gỗ lớn làm trụ sở. Bị bom san bằng, trụ sở bây giờ chỉ là hình khối vôi vữa. “Xây lại theo kiểu Liên Xô,” bà bảo tôi.

Hàng xóm vào căn phòng ngột ngạt ngồi theo hàng ghế. Tôi nhìn bà, vẻ điềm tĩnh của bà làm tôi yên dạ. Bà trông vui lắm dù vẻ ngoài cháy nắng, gầy trơ xương. Bà rất tự tin. Mái tóc dài của bà bới cao, kẹp sau đầu để lộ mấy vết sẹo. “Cám ơn bà con đã đến tham gia buổi họp,” ông Phong, chủ tịch ủy ban, hắng giọng, cả phòng im lặng. “Hôm nay có nhiều việc cần thảo luận, nhưng trước hết có người đưa ra đề nghị.”

Tiếng xì xào lại nổi lên khi thấy bà tôi bước lên trước.

“Xin chân thành cám ơn những đối đãi nồng hậu mà mọi người dành cho gia đình tôi trong mấy năm qua.” Bà đưa mắt nhìn khắp phòng. “Lúc cả gia đình đến đây chúng tôi chỉ là dân quê, quý bà con đã mở rộng vòng tay đón nhận, xem như xóm giềng.”

Mấy người hàng xóm im lặng trở lại, vẻ chân thành trong lời nói của bà làm họ lưu ý.

“Ai trong khu phố đều biết,” bà tiếp tục, “nguồn cung cấp nước cho mọi người là chuyện khó khăn. Hàng ngày phải xếp hàng không biết bao nhiêu tiếng để hứng nước, thế mà vẫn thiếu. Thiết nghĩ nên có một nguồn khác, tôi đã yêu cầu một kỹ thuật viên đến khảo sát, thu mẫu đất ngầm, đặc biệt là gần chỗ giặt giũ của bà con.” Bà phát tờ giấy cho mọi người. “Tờ giấy quý vị đang cầm trên tay là kết quả khảo sát nước ngầm, cho thấy nếu nước lấy ở độ sâu hơn năm mươi mét tính từ mặt đất, chất lượng nước tốt có thể sử dụng được.” Bà dừng một lát để mọi người xem thông tin của tờ giấy. Lại có tiếng bàn tán, nhưng lần này họ gật đầu.

“Với kết quả này,” Bà nói tiếp, “tôi muốn đề nghị thay vì phụ thuộc vào nước máy, nên chăng chúng ta làm một giếng khoan và máy bơm để lấy nước ngầm.” “Nghe hay đấy, nhưng tốn tiền lắm,” một người nói lớn.

“Ăn còn không đủ, lấy đâu ra tiền làm chuyện này chứ?” Một người nói thêm. Bà đưa tay lên “như một nghĩa cử trả ơn đã được cưu mang, tôi xin đài thọ toàn bộ chi phí.”

Phòng họp ồn hẳn lên, thoạt đầu mắt họ lấp lánh niềm vui nhưng khi nói chuyện với nhau ánh mắt lại mờ đi. Họ lắc đầu.

“Sao dùng tiền của con buôn được cơ chứ!” Ông Tân, một người cao niên trong xóm đứng bật dậy. “Bọn tư sản, con buôn là những kẻ ăn bám làm kiệt quệ nền kinh tế chúng ta.”

“Tiền của mụ ấy bẩn thỉu lắm.” Bà Quỳnh, một phụ nữ trung niên, chỉ tay vào mặt bà tôi.

“Mụ ấy ném tiền dễ quá mà, có làm lụng gì vất vả đâu.” Tiếng người khác.

Tôi giận sôi lên vì chế nhạo tập trung vào bà. Bản thân tôi rất hiểu công việc của bà, nhãn quan của tôi được mở ra nhờ vào tinh thần khởi nghiệp, siêng năng và kiên quyết ấy.

Tôi phải là dế Mèn dũng cảm đứng lên vì niềm tin của mình. Tôi bật dậy. “Xin cho con được nói, con tên là Hương, cháu của bà Diệu Lan. Bố mẹ cháu đã tham gia chiến đấu ngoài chiến trường, bà đã chăm sóc cháu. Sống với bà, cháu biết bà đang làm gì.” Tôi thấy bà mỉm cười. “Bà cháu làm việc vất vả hơn bất cứ ai mà cháu từng biết, bà không có thời gian để ngủ. Cứ nhìn vào đôi chân phồng rộp của bà là biết ngay bà không bóc lột bất cứ ai. Từng xu bà muốn tặng cho khu phố đều do làm lụng khó nhọc mà có ạ.”

Nước mắt lăn tròn trên gương mặt bà. Bầu không khí im lặng bao trùm phòng họp.

“Trẻ con không biết nói dối đâu.” Bà Nhân đứng lên. Bà là người duy nhất ở đây cư xử tốt với bà cháu tôi. “Thôi bỏ mấy cái chuyện tuyên truyền đi. Hãy nghĩ đến lợi ích cho gia đình quý vị: con trẻ có thêm thời gian chơi đùa, quý vị có thêm thời gian nghỉ ngơi, không ai phải dậy từ bốn giờ sáng xếp hàng hứng nước, cũng không phải lời ra tiếng vào vì ai đó hứng nhiều hơn.”

Lại xì xào bàn tán.

“Được rồi, được rồi.” ông Phong đưa tay lên ra hiệu mọi người giữ im lặng. “Bỏ phiếu kín nhé. Giấy bút đây, cái hộp trên bàn đằng kia. Nếu đồng ý quý vị ghi đồng ý, nếu không thì ghi là không rồi cho vào hộp. Quyết định cuối cùng là của số đa số.”

Lúc bỏ phiếu, bà quay sang tôi nói. “Từ giờ bà không gọi cháu là Ổi nữa. Thiếu nữ rồi đấy, tên Hương nhé.”

Tôi cười rạng rỡ. “Con thích tên đó mà bà, nhưng Hương nghe cũng hay.”

Tôi bóp vai bà khi ông Phong công bố kết quả. “Tối nay, trong bốn mươi người có ba mươi sáu người đồng ý với đề nghị của bà Lan.” Rồi ông quay sang phía bà “thay mặt bà con trong khu phố, xin cám ơn bà.”

Vài ngày sau, một nhóm thợ đến khoan giếng đặt máy bơm, ngay cả con nít cũng lấy được nước cho đầy xô. Thay vì phải chờ lấy nước ở cái vòi dơ dáy chảy nhỏ giọt, trẻ con có thể tắm rửa trước nhà, tạt nước vào nhau tạo ra sắc cầu vồng, cười đùa vui vẻ.

Vật liệu xây dựng bắt đầu chuyển đến nhà tôi. Bà Nhân đến vào một tối đã muộn, tay mang theo cuốn sách chiêm tinh. Bà và bà Nhân ngồi bên chiếc đèn dầu, xem xét mấy cái biểu đồ khó hiểu, so sánh ngày sinh tháng đẻ của hai bà cháu.

“Vậy ngày sửu, giờ thìn là động thổ,” bà Nhân nói, bà tôi gật đầu.

Bà ở nhà giám sát việc xây cất. Hàng ngày từ trường về, tôi phải rẽ đám đông hiếu kỳ đứng bên ngoài mới vào nhà được.

Nhóm thợ và bà làm việc không kể ngày đêm. Hơn hai tháng, ngôi nhà mới hoàn tất đứng lấp lánh trong nắng. Bà chỉ đủ tiền xây một tầng thôi, nhưng đủ các phòng mà hai bà cháu phác thảo trong bản vẽ.

Bà mỉm cười thấy tôi lăng xăng đi hết từ phòng này sang phòng kia. Sáng sủa lắm, tôi rất thích góc học tập của mình. Phòng khách, phòng ngủ mở ra hướng nhà bếp. Khung cửa ra vào làm bằng gỗ chắc chắn, qua cánh cửa sổ là một khoảng trời.

Tôi tiếp tục ngủ chung với bà, mấy phòng khác đều để trống, để dành cho bố mẹ và mấy cậu lúc trở về.

Bà mua một cây bàng con, tôi trồng ở phần sân nhỏ phía trước đúng vị trí của cây bị bom lật gốc. Mỗi ngày tôi đều tưới nước xem nó lớn. Tôi nao nức chờ ngày mẹ về, dưới bóng cây hai mẹ con lại gội đầu cho nhau.

Có mái nhà yên ổn, bà chỉ làm việc muộn sau khi tắt nắng mỗi tuần một buổi. Hai bà cháu dành thời gian cho việc tập thiền, và ôn bài võ tự vệ Đá-Xỉa-Chặt. “Tĩnh tâm và xây dựng nội lực,” bà bảo tôi.

Bà làm việc vất vả hơn trước. Dần dần và kín đáo bà khuân về đồ dùng trong nhà: bàn học, ghế, kệ sách, và một chiếc phản gỗ trong phòng khách, ba chiếc giường tre và bộ bàn ăn. Tất cả đều cũ kỹ và lung lay nhưng quý lắm. Tôi đặt chiếc kệ sách gần góc học tập chất lên những câu chuyện đã mang tôi đến những vùng xa lạ.

“Con muốn làm việc không?” Một đêm hè, hai bà cháu trải chiếu ngồi dưới gốc cây bàng, bà hỏi. Trong nhà oi bức quá, hàng xóm ra đứng đầy hẻm, tay cầm quạt giấy quạt phành phạch.

Tôi im lặng không trả lời vì sợ bà bảo tôi theo bà làm con buôn.

Tay phe phẩy chiếc quạt bà tiếp. “Có người bạn của bà kiếm được bộn tiền nhờ nuôi gà nuôi lợn trong căn hộ đấy. Nhà mình rộng hơn nhà bà ấy nhiều.”

“Nuôi lợn, gà ở nhà mình à bà?”

“Sao lại không? Gà trong phòng giặt và lợn dưới phản. Bà tin là được đó. Kinh nghiệm làm nông của bà có đất dụng võ đấy.”

Chuẩn bị đón mấy con lợn con gà, bà mở thêm một chiếc cửa sổ trên tường của phòng giặt để có thêm ánh sáng và không khí. Bà tự tay đóng thêm mấy chiếc kệ tre nhiều tầng. “Để cho gà có chỗ đẻ trứng,” bà giải thích.

Hai bà cháu mua mười chú gà mới nở, nhốt trong chiếc lồng tre chúng líp chíp trên quãng đường về nhà. Người bán lợn giao vào tối hôm đó. Thấy chúng, tôi có tên ngay trong đầu. Con trắng với mấy đốm đen, Đốm Đen, con đen có mõm rất dễ thương, Mõm Hồng. Gà bị nhốt vào phòng giặt nhưng hai chú lợn được tự do đi lại trong phòng khách và phòng ăn.

Tôi không còn để tâm đến chuyện cái Thủy không nói chuyện với mình nữa. Mấy con vật thành bạn thân, gà hát cho tôi nghe mỗi khi được nâng niu và cho ăn. Đốm Đen, Mõm Hồng dụi cái miệng ẩm ướt vào chân tôi rồi ngủ trên tay khi tôi bế lên.

Tôi vẫn nhớ bố mẹ da diết. Mẹ ra đi bao năm, ngóng trông hàng ngày, tôi thấy như tan biến vào vòng tay, vào suối tóc, vào bộ ngực mềm mại ấy. Tôi nghe được tiếng hát của hai mẹ con dưới gốc cây bàng.

Tôi nhớ tiếng hát của mẹ tràn ngập căn phòng, mẹ rất vui khi nhảy múa, nhớ cả cách mẹ nắm tay tôi xoay quanh làm chiếc áo của tôi tung lên. Lúc buồn tôi tự nhủ phải mạnh mẽ lên. Mẹ không bao giờ khóc hay sợ hãi. Có lần một con rắn chui vào gầm giường, trong khi tôi chỉ biết đứng hét lên, mẹ cúi xuống nắm đuôi lôi ra, vứt ra ngoài cửa sổ.

Đầu năm 1975, tin đồn lan nhanh rằng chiến tranh kết thúc, tôi lại tưởng tượng mẹ và tôi lao đi theo những con đường Hà Nội trên chiếc xe của bà ngoại. Hai mẹ con sẽ la lớn hết cỡ khi xe đi mùa hè với những chùm hoa phượng đỏ rực, những cánh bằng lăng tím ngắt nở dọc vệ đường còn đầy hố bom. Cuối cùng là dừng lại bên Hồ Gươm, thưởng thức cốc kem lạnh đến tê buốt trên phố Tràng Tiền.

Trong những giấc mơ đó, mẹ luôn trở về cùng với bố. Bố cao lớn đẹp trai, có khi ông chạy đến với tôi trên hai chân, có khi ông vất vả trên một chân kèm theo cây nạng. Đôi lúc ông ôm tôi bằng hai cánh tay mạnh mẽ, lúc lại không có cái tay nào mà chỉ là hai chiếc mỏm cụt bên hai vai. Nhưng lúc nào ông cũng cười khi gọi tên tôi: “Hương đây rồi, con gái bố.”

Đến cuối tháng 3 năm 1975, thành phố bị một trận bão trái mùa. Trời sầm sập đổ nước, biến cả đường hẻm thành con sông loằng ngoằng nước đen ngòm.

Hai bà cháu ngồi trên phản đếm tiền bà thu được hàng ngày. Một tiếng động lạ nơi cửa ra vào lớn hơn cả tiếng mưa.

“Gì thế hở bà?” Tôi hỏi.

Tiếng động lại vang lên. Không rõ lắm nhưng tôi nhận ra có tiếng nói. Bà vứt tiền sang một bên chạy vội về phía cửa.

Tôi cũng nhảy xuống trúng ngay mỏm của Đốm Đen làm nó ré lên.

“Đang đến đây,” bà mở cửa, trong ánh sáng lờ mờ của chiếc đèn dầu, một hình hài gầy guộc, tóc bết lại với nhau, áo quần đung đưa như mớ giẻ rách tả tơi.

Gió thốc vào thổi tắt chiếc đèn.

“Bà ơi,” tôi gọi bà. Hình hài đó ắt hẳn là con ma do bão tố lôi lên từ dưới mộ. Những con ma tôi vẫn đọc trong truyện đói lắm; chúng sẵn sàng bắt hồn người cho vào bụng.

Bà nói gì đó. Gió hú lớn hơn, mấy con ma nói lảm nhảm. Tôi nhảy vội lên phản, cả người đờ ra như khúc gỗ. Tôi mở miệng gọi bà vào nhà nhưng sao cứ tắt trong cổ họng.

Tôi nghe tiếng đóng cửa, tiếng rên rỉ, tiếng bước chân rồi bà gọi “Hương, mẹ cháu về rồi đây, mang đèn ra con.”

Mẹ tôi? Thực hay mơ? Tôi lần mò trong bóng tối tìm hộp diêm. Tôi bật một que diêm, đốm lửa lóe lên rồi tắt ngấm. Tôi thử thêm que nữa, không chịu cháy. Lần thứ ba tôi cầm cả ba que một lần đánh vào cạnh hộp, giữ ngọn lửa trong tay, tôi quay lại.

Người phụ nữ đứng đó gục đầu vào vai bà, hai mắt nhắm lại, mặt đỏ sưng phồng, tóc sát vào trong da đầu như bị dán keo.

“Hương, mẹ về rồi nè con!” bà thổn thức.

Lửa que diêm cháy đến tay, tôi vất xuống sàn mà không hề thấy đau, vì mãi đau khổ nhìn vào gương mặt người phụ nữ, mẹ tôi.

“Mẹ.” lần tìm trong bóng tối tôi đến gần. Hai má tôi nóng hổi trên ngực mẹ, hai tay tôi bám chặt vào hình hài gầy trơ xương. “Mẹ, mẹ ơi.”

Mấy ngón tay mẹ run run dò tìm mắt mũi miệng trên mặt tôi.

“Hương, ôi con…”

Những giọt nước mắt tôi giấu vào trong nay tuôn ra. Tôi khóc cho những năm tháng hai mẹ con xa nhau, cho cái chết của cậu Thuận, cho cái chết của mấy đứa bạn học, cho chính tôi và cho cái oan nghiệt tôi không còn đứa bạn thân nào.

Bà thắp lại đèn, đẩy mớ tiền trên phản sang một bên. Tôi đỡ mẹ nằm xuống, lấy khăn lau khô, mẹ run rẩy trong tay tôi.

Bà thay đồ cho mẹ, tôi hôn lên trán mẹ. Cơn sốt như đang nung đỏ da, làm mẹ rên rỉ.

“Về được nhà ít lâu, sẽ bình phục thôi mẹ ạ.” Tôi đưa khăn xuống đến chân, lau mấy vệt bùn lộ ra mấy vết bầm hằn trên da thịt. “Làm sao mẹ về được? Lâu nay mẹ ở đâu?” Tôi muốn hỏi về bố nhưng lại sợ nghe câu trả lời.

Mẹ mở mắt ra “Hương, bố con có về không?”

Tim tôi như ngừng đập. Ánh đèn như ngưng lay động. “Mẹ không tìm được bố sao? Mẹ không gặp bố à?”

Nước mắt ứa ra, mẹ lắc đầu. Tôi đứng lên đi về phòng bà dành cho bố mẹ, áp mặt vào cửa sổ. Mẹ làm tôi tin rằng bà sẽ tìm được bố mang về cho tôi, rằng mẹ sẽ làm được bất cứ điều gì mình muốn.

“Mẹ xin lỗi, Hương à.” Tiếng mẹ khẽ như đang thì thầm.

Chiếc cửa truyền hơi lạnh vào trán, tôi chỉ muốn đập vỡ ra cho hả. “Chiến tranh kết thúc, rồi Hoàng nó sẽ về thôi,”có tiếng ngoại. “Thế mẹ có nhận được lá thư nào của anh ấy không?” Mẹ hỏi bà “Không con à, có cách nào cho nó gởi cơ chứ.”

“Còn mấy anh em của con sao rồi mẹ?”

“Bình yên thôi con, nay mai chúng nó về ấy chứ.” Tôi quay sang thấy bà đỡ mẹ dậy cho uống nước. Tôi lại nhìn sang bàn thờ cậu Thuận, may mà bóng tối che đậy sự thật trong lời nói của bà.

Giúp bà thay đồ cho mẹ, tôi thấy xương sườn nhô ra, mấy vết bầm không chỉ ở chân mà in dấu cả trên lưng, ngực và đùi. Chuyện gì xảy ra với mẹ thế nhỉ?

Bà đem ra một xô nước ấm và chiếc khăn. Tôi lau mặt và tay, mẹ nằm mắt nhắm chặt, cơ thể rung lên. Tôi quay mặt đi vì không muốn nhìn hay tội nghiệp cho mẹ, người mẹ mạnh mẽ quyết đoán của tôi mất đâu rồi? Mẹ không hề hỏi đến hai bà cháu, làm thế nào sống sót được qua những trận dội bom.

“Thôi để mẹ nghỉ đi,” Bà thì thào, kéo chiếc chăn che lên ngực mẹ. Bà xuống bếp nấu ăn, tôi bỏ ra bên gốc bàng. Mưa đã ngớt, trên bầu trời là mảnh trăng khuyết, nhắm mắt lại tôi thấy mình là đứa bé mẹ đang chải tóc, tiếng hát của mẹ như hơi gió thổi vào tai tôi.

Bà bước ra ôm chặt lấy tôi trong cánh tay mạnh mẽ như rễ cây. “Bà buồn lắm thấy mẹ cháu như vậy. Hai bà cháu mình phải là chỗ dựa cho mẹ thôi.”

“Trước đây mẹ là chỗ dựa của cháu đấy.”

“Bà biết mà, nhưng giờ cháu là người lớn rồi…mẹ đang cần đến cháu.”

Nhìn lên ánh trăng, tôi cố gắng để ánh sáng dịu dàng tỏa ra từ đó giúp tôi bình tâm. Có lẽ tôi không đúng khi bực mình mẹ. Chí ít mẹ đã đi tìm để mang bố về. Lúc đó bà đã bảo đó là chuyện không tưởng.

“Đừng cho mẹ biết chuyện cậu Thuận nhé,” bà tiếp lời, “đến tối mẹ đi ngủ, bà sẽ mang đồ của cậu Thuận vào phòng mình.”

Tôi gật đầu, vùi đầu vào tóc bà. Nhiều năm sau, nhìn suốt quãng đường đời, tôi mới hiểu nỗi sợ trong bà, không biết mai kia chuyện gì xảy ra cho các con, dẫu vậy bà phải tỏ ra mạnh mẽ, làm chỗ dựa cho con cái tổn thương từ việc đối diện với chiến trận.

Đêm đó, tôi ngồi thức canh sau khi mẹ được bà bón cho bát phở. Tôi nghĩ nếu mình không nhìn cho kỹ, mẹ lại biến mất và tin rằng nếu biết mình nhớ mẹ biết nhường nào mẹ lại là người mẹ trước kia của tôi thôi.

Là đứa con gái mười lăm tuổi đầu, tôi đâu thể hình dung hết được chiến tranh đã nuốt chửng mẹ vào chiếc bao tử của nó, rồi nhào trộn và phun ra thành một kẻ khác thường. Tôi không thể hiểu được tại sao lúc ngủ mẹ lại la hét về chuyện đạn dược, bắn giết, chạy trốn và chết chóc. Những ngôn từ tôi không cắt nghĩa được và cả chuyện sao mẹ nhắc đến bố bằng giọng rất buồn.

Mấy hôm sau, nhiều người hàng xóm sang thăm. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy mẹ không ra khỏi giường, thậm chí không ngồi dậy mà chỉ gật hay lắc đầu khi có ai hỏi gì, gương mặt trống rỗng buồn bã. Bạn mẹ từ bệnh viện Bạch Mai đến cũng được tiếp đón như vậy. Sau một lúc họ thì thào chắc mẹ mệt cần nghỉ ngơi.

Tôi biết không chỉ có vậy. Thi thoảng chỉ có tôi với mẹ, đôi vai run run, mẹ như đang khóc nhưng lại bất động không phát ra một âm thanh nào. Đến đêm lúc mẹ ngủ, cơ thể rung lên bần bật vì những cơn ác mộng.

Sợ mẹ gây thương tích trong lúc ngủ, tôi chuyển vào cùng phòng. Mẹ không muốn tôi ngủ chung giường, tôi đành lót chiếc chiếu dưới sàn nhà, thường tôi là đứa dễ ngủ, nay sao khó quá.

Một đêm khuya, tôi nghe mẹ thì thào những câu rời rạc về một đứa bé. Tóc sau gáy tôi dựng hết cả lên, mẹ nói mẹ giết nó. Tôi bịt chặt tai, mẹ không thể là kẻ giết người được, chắc lúc đỡ đẻ đứa bé bị chết.

Sáng hôm sau tôi hỏi bà những lời tôi nghe thấy, bà kéo tôi lại gần. “Mẹ cháu là bác sỹ mà, tai nạn nghề nghiệp thôi, đừng để tâm quá nhiều làm gì cháu ạ.”

Hai bà cháu cố nấu nướng những món ăn mẹ thích may ra mẹ bình thường trở lại. Nhưng mẹ ăn trệu trạo như đang nhai sạn. Mẹ nói mình mệt khi bà cháu muốn nói chuyện, mẹ quay đi khi tôi bước vào phòng. Mẹ về lại nhà mà hồn vía còn đâu đâu như thể còn lạc mất trong chiến tranh, như thể tôi không phải là con gái của mẹ.

Tôi đưa cho mẹ xem bức thư tôi mới viết cho bố mẹ, mẹ chỉ để cạnh gối không buồn mở ra, nói gì đến đọc.

Bà lại đi làm, tôi phải ở nhà trông mẹ. Có sẵn đồ khô để tôi nấu ăn, nhưng bà thường mua thêm thịt cá và rau quả vào sáng sớm.

Ngày qua ngày lặng lẽ, không tiếng cười không nói chuyện như tôi đã chờ đợi. “Đưa mẹ đi dạo đi con, nó sẽ thấy thoải mái hơn đấy.” Bà bảo tôi.

Nhưng mỗi lần nghe tôi nói đến mẹ đều lắc đầu. “Để mẹ ngủ.” Rồi quay mặt đi. Một buổi chiều, mặt trời như chiếu hết ánh nắng chói chang, tôi cầm chiếc lược nhích dần về phía mẹ, không biết mẹ có đẩy tôi ra không nhỉ.

Nhưng lúc tôi chạm vào, gỡ những mớ tóc rối, và kể mấy cuốn sách tôi đọc, mấy đứa bạn vẫn còn ở trong mấy cái lán đối diện với nhà mình. Nhìn mắt là biết chúng nó đang đói, mũi hít lấy hít để mùi nấu nướng từ trong bếp nhà tôi bốc lên, nhưng vẫn từ chối thức ăn tôi mang ra cho, nói rằng bố mẹ chúng không cho phép nhận bất cứ thứ gì của gia đình tôi.

Tôi gỡ hết tóc rối, mẹ không còn run lên nhưng vẫn quay lưng về phía tôi. Tôi cố dằn cơn bực mình, bước vào bếp nhóm lửa. Thay vì nấu cơm tôi lại nướng mấy quả bồ kết. Mùi thơm gợi nhớ lúc hai mẹ con vui vẻ gội đầu với nhau dưới gốc cây bàng già.

Quả bồ kết cháy xèo xèo, tỏa mùi thơm khắp nhà. Qua khóe mắt, tôi thấy mẹ quay lại, mẹ nhìn theo tay tôi khi tôi châm nước vào nồi, đập mấy quả đã nướng thả vào. Mẹ cũng nhìn theo khi tôi bẻ mấy nhánh cây khô cho thêm vào lò, giữ cho nồi nước không sôi tràn ra ngoài.

“Cám ơn con,” tiếng thì thầm của mẹ làm tôi giật cả mình. Quay lại tôi thấy mẹ đứng ngay sau lưng, ánh lửa trong lò như đang nhảy múa trong mắt mẹ.

“Con nấu để mẹ gội đầu đấy,”

Mẹ gật đầu, “mẹ tự làm được, con ra ngoài chơi đi.”

Tôi không muốn, nhưng ánh mắt mẹ bảo tôi đi đi. Đứng dưới gốc bàng tôi có cảm giác như bị ruồng bỏ. Rón rén đến bên cửa ra vào, tôi ghé mắt nhìn vào. Mẹ đang kéo lê một xô nước vào nhà bếp, trông nặng lắm, tôi biết cả nửa xô nước lạnh. Mẹ mở nắp nồi bồ kết đổ vào xô, hơi nước bốc lên xung quanh, mẹ đang trộn nước gội đầu, dùng cùi chỏ thử xem nước đủ ấm không.

Mẹ lại là chính mình lúc ngồi trong dòng ánh sáng, đầu nghiêng về phía trước, Mẹ múc nước bồ kết dội lên tóc. Một dòng sông ánh sáng hòa lẫn vào một dòng sông màu đen chảy xuống.

Tôi như bị thôi miên, rồi lại giật cả người khi mẹ đột nhiên thổn thức, hai tay ôm lấy vai rồi cuộn tròn run rẩy trên nền nhà.

Mấy móng tay cấu chặt vào lòng bàn tay, tôi không quan tâm chiến tranh là gì. Tôi chỉ muốn nó trả bố mẹ, mấy cậu về với tôi, gia đình lại đoàn tụ như xưa.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Nguyễn Phan Quế Mai

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.