Đầu giờ chiều, Anh Sơn và Tiến Thọt gặp Việt và Hòa ở đầu Nhà 1. Anh Sơn rủ:
– Có phim “Đêm thứ 12” ở rạp Đống Đa, hay lắm. Bọn mày có đi mua vé xem không?
Việt nói:
– Hôm qua em Trung Phương có hai vé phim này, rủ tao đi xem. Nhưng tao sợ Hương ghen nên không dám. Mày có thích em này không, tao giới thiệu cho.
Tiến Thọt cười:
– Thằng này có Lệ Dung rồi. Mày giới thiệu cho tao.
Em Trung Phương hơi béo nhưng mà xinh.
– Em mẹ gì, nó lớn hơn mình một tuổi đó. Xinh thì có xinh, nhưng nhìn lẳng lơ quá.
– Lẳng lơ mình có thể dạy được, nhưng xấu thì không chữa được.
Việt mặc cả:
– Tao giới thiệu xong, mày phải chiêu đãi tao một vé xem phim.
Vì nghe nói phim “Đêm thứ 12” hay, người mua vé rất đông, rạp chỉ bán cho mỗi người hai vé, Anh Sơn bảo rủ cả bọn cùng đi để hợp sức chen hàng.
Tới rạp Đống Đa, cả bọn chen như đánh vật, người đẫm hết mồ hôi, cuối cùng cũng mua được 13 vé. Lúc ra bãi xe, Anh Sơn và Tiến Thọt thấy hai thanh niên mặc quần áo bộ đội bạc phếch, đang đánh túi bụi một cậu trai khoảng 13-14 tuổi. Tiến ngứa mắt. Nó rất ghét cảnh người lớn đánh trẻ con, huống hồ đây là hai lớn đánh một bé. Tiến đẩy cái xe đạp vừa lấy ra cho Anh Sơn, đưa tay gạt cú đấm, nói nhỏ nhẹ:
– Anh không nên đánh trẻ con.
Người kia nhìn Tiến Thọt:
– Tránh ra, không phải việc của mày.
Nhìn chiếc huy hiệu thương binh trên chiếc áo bộ đội bạc màu, Anh Sơn giật áo Tiến Thọt, nói nhỏ:
– Thôi, đừng dây vào hội này.
Thời gian này, an ninh trên địa bàn thành phố Hà Nội khá phức tạp. Với khẩu hiệu: “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, mọi việc đều tập trung cho chiến trường. Khi một dòng sông đang cuồn cuộn chảy về phía trước, ít người để ý việc hai bên bờ, bọt bèo, rơm rác đọng lại, thậm chí còn trôi quẩn về sau. Trong sự thiếu trật tự của những ngày mới chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc, khi cả dòng người ồ ạt trở lại Thủ đô, đủ các loại băng, nhóm mọc ra. Mặc dù chẳng phải băng nhóm to tát và có tổ chức, nhưng những nhóm này cũng hùng cứ một phương, theo kiểu chó cậy gần nhà, chủ yếu gây ra những vụ đánh nhau và trấn lột lặt vặt.
Việc xuất hiện các băng nhóm nói trên, suy cho cùng cũng là chuyện tự nhiên của một xã hội mệt mỏi và thiếu thốn vì chiến tranh kéo dài. Chế độ tem phiếu không đủ cung cấp dinh dưỡng, đáp ứng nhu cầu tái tạo năng lượng. Trong lúc chờ ngày chiến thắng sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, người dân có cơm no, áo ấm hơn, những kẻ trộm cắp, cướp giật xuất hiện ngày càng nhiều, phổ biến ở các khu phố cổ, các chợ đầu mối lớn như chợ Đồng Xuân, chợ Bắc Qua, hay những khu nghèo và đông đúc như ngõ chợ Khâm Thiên, bãi Phúc Xá… Các vụ trấn lột ở cổng các trường học diễn ra thường xuyên. Đám học sinh cấp một, cấp hai khi bị trấn lột chỉ biết đứng khóc. Nhưng đám học sinh cấp ba, đang độ trưởng thành, đặc biệt là học sinh ở các khu gia binh lớn như Phố Lý Nam Đế, khu tập thể 1A Phố Hoàng Văn Thụ, 3B Phố Ông Ích Khiêm hay K95 Bãi Phúc Xá… thì đời nào chịu. Bọn này ở tập trung, lại sẵn tố chất của con nhà lính, nên mạnh mẽ, ngang tàng và có tính cộng đồng cao. Các ông bố quân nhân thời đó có ít thời gian ngó ngàng tới con cái. Mọi công việc chăm sóc, dạy dỗ con đều khoán trọn cho vợ. Các bà vợ ngoài việc thức khuya dậy sớm hứng nước, xếp hàng mua gạo, mua dầu, mua cá, mua đậu… bằng hàng xấp tem phiếu, họ còn phải nuôi gà, nuôi lợn, trồng rau, rồi thì nhận đan len, dán hộp, gói kẹo thuê… Tóm lại, làm đủ các việc nhằm tăng thu nhập để bổ sung thêm chút thực phẩm cho hai bữa ăn của gia đình, rồi còn phải chăm sóc ông bà nội ngoại hai bên. Vì vậy, việc giáo dục trẻ con được các bà mẹ tin tưởng giao cho nhà trường, và sau đó là phó mặc cho chính bản thân chúng “tự giáo dục”. Do bản năng tự vệ, lớp thanh, thiếu niên này tự phát hình thành những lực lượng đối địch với các băng nhóm ở Hà Nội lúc đó.
Trong các khu gia binh ngày ấy, thời gian đầu nổi nhất là Phố Lý Nam Đế, mang danh “Biệt khu”, cầm đầu bởi một số học sinh trường thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi, nổi tiếng đẹp trai, ngang tàng và can đảm. Khác với khu tập thể Nam Đồng những ngày mới thành lập, chủ yếu chỉ có sĩ quan cấp úy và cấp tá, mãi tới năm 1974 mới có bảy đại tá được phong thiếu tướng, Phố Lý Nam Đế là nơi tập trung gia đình các tướng lĩnh cao cấp của quân đội, được mệnh danh là “phố nhà binh”. Vì Phố Lý Nam Đế kéo quá dài, việc quy tụ lực lượng về một mối khó hơn các khu tập thể quân đội khác, nên về sau, những khu tập thể lớn như 37B và 16A Phố Lý Nam Đế phát triển thành những nhóm tương đối độc lập.
Kế tiếp đến là khu 3B Phố Ông Ích Khiêm, khu 1A Phố Hoàng Văn Thụ và khu 28A Phố Điện Biên Phủ. Các khu gia binh này không lớn như khu Nam Đồng, nhưng cũng có lớp đàn anh “trường Trỗi” cầm đầu, hơi tí là đánh nhau. Nhờ có bạn bè ở các đơn vị chiến đấu, hoặc người quen làm trong các kho quân dụng, các đàn anh này xin được đủ thứ như dao găm, xanh-tuya-lông, lưỡi lê CKC và AK làm vũ khí, trong đó lưỡi lê AK được thích hơn vì nó dẹt và ngắn, dễ dắt trong người. Nổi tiếng ở thời điểm này có Quốc Bình và Minh Thanh, những người đã phải hầu tòa vì đâm đối thủ, với những câu chuyện được bọn trẻ con các khu tập thể quân đội thêu đi dệt lại khắp nơi, gây nên nỗi ám ảnh cho nhiều băng nhóm trên địa bàn Hà Nội.
Những năm đầu thập kỷ 70, so với các khu gia binh thời đó, khu tập thể Nam Đồng là khu gia binh to nhất, nhưng lại hay bị bắt nạt, do không có thủ lĩnh. Lớp học sinh “trường Trỗi” ở khu Nam Đồng khá lành. Chẳng hiểu sao “Trỗi” các nơi anh hùng hảo hán mà “Trỗi” khu Nam Đồng chẳng có ai để lứa đàn em dựa vào danh tiếng hù dọa thiên hạ. Sau trận đánh Ô Chợ Dừa, cái tên “Quân khu Nam Đồng” mới bắt đầu hình thành, với lực lượng chủ chốt là bọn lớp 8D (Việt, Hoàng, Hòa, Khanh, Ngọc, Minh, Đính…) và 9H (Anh Sơn, Tiến Thọt, Khả Trung, Tân Thời…). Hai nhóm này cùng học trường Đống Đa nên gắn bó, đi đâu cũng có nhau. Nhưng những trận cần đông người thì học sinh các lớp khác trong khu Nam Đồng như Hà Tư, Bích Bọp, Thái Đen, Hưng Sẹo, Tuấn Mím… đều có mặt. “Quân khu Nam Đồng” không có người cầm đầu, tuy trong một chừng mực nhất định, khi cả đám đông cần ra một quyết định tức thời, mọi người đều nhìn vào Anh Sơn. Khu Nam Đồng rộng và đông nên bọn trẻ con chơi theo từng nhóm, nhưng mỗi khi cần, chúng liên kết với nhau rất nhanh. Một trong những nguyên nhân làm khu Nam Đồng ngày càng nổi tiếng vì chúng đoàn kết, luôn bảo vệ nhau và bảo vệ danh tiếng “Quân khu”.
Ngoài các băng nhóm nói trên, một lực lượng khác mà tất cả đều ngại, đó là “Hội thương binh”. Khi thấy một thương binh gặp chuyện thì bất cứ ai là thương binh đi ngang qua, đều xông vào bảo vệ. “Hội thương binh” thực chất không phải là một hội, mà chỉ là một số cựu chiến binh, trở về từ chiến trường, có chút tư tưởng công thần, trong khi cơ thể mang thương tật, nên khá nhạy cảm, hễ cảm thấy bị xúc phạm là nổi máu anh hùng. Và bởi các anh đã từng vào sinh ra tử nơi chiến trường, việc đánh nhau với đám lau nhau ở hậu phương là chuyện nhỏ. Dù chỉ có một, hai người, các anh vẫn sẵn sàng xông vào đánh lại cả những nhóm năm, bảy tên. Bình thường thì mấy anh cũng lành, ít khi chủ động gây gổ với ai. Công an cũng ngại mấy anh này nên mỗi khi đến giải tán các đám đánh nhau, luôn chỉ đe nẹt hoặc bắt những kẻ không phải thương binh.
Nghe Anh Sơn nói, Tiến Thọt lùi lại, nhưng vẫn đứng chắn trước mặt đứa bé. Người kia sấn lên, đấm thốc vào mặt Tiến Thọt. Tiến Thọt bị bất ngờ, loạng choạng ngã xuống. Khi Tiến Thọt đứng dậy thì trong tay đã cầm lưỡi lê ba cạnh CKC. Anh này lùi lại, vớ nửa hòn gạch, hét: “A, mày mang lê hả… có giỏi thì xông vào đây!”. Anh đi cùng chạy ra chỗ bà bán bánh giò, giật cái đòn gánh, mồm hét “A, a…” và lao đến.
Nhóm Việt, Hoàng, Minh, Ngọc, Hòa vừa đi tới, thấy vậy đồng loạt rút lưỡi lê, và búa ra đứng chờ. Nhìn đống búa với lưỡi lê loang loáng dưới ánh mặt trời, anh chàng cầm đòn gánh xông gần tới nơi bỗng dưng chựng lại rồi… vứt đòn gánh bỏ chạy. Thấy anh cầm gạch mải tập trung vào Tiến Thọt, Anh Sơn nhanh tay dùng dây xanh-tuya-lông vụt chát chát mấy cái, đánh văng cục gạch ra. Tiến Thọt đang cơn giận lao tới, chân đá tay vụt bằng lưỡi lê CKC. Chắc nó cũng thấy không nên xỉa cái vật ba cạnh sắc nhọn đó giữa chỗ đông người. Anh này vừa bò, vừa chạy, tay vẫn kịp vơ chiếc đòn gánh bạn vứt lúc nãy để làm vũ khí. Tiến đang hăng máu, cùng Anh Sơn lấy xe đuổi theo. Tình cờ, ở quán bia đối diện nhà máy Y Cụ, có một ông công an đang ngồi uống bia hơi. Dân tình chỉ chỏ: “Hai thằng kia đang cầm dao đuổi đánh các anh thương binh”. Ông công an buông ngay cốc bia, rút còi ra thổi “toét, toét!”.
Thấy công an, Tiến Thọt chở Anh Sơn chạy về hướng Ngã Tư Sở. Ông công an vẫy một chiếc xe máy đi cùng chiều đuổi theo. Việt bảo Hoàng: “Phóng theo cản cái xe máy lại cho bọn Tiến Thọt chạy”. Hòa nói: “Mình chỉ có xe đạp, lại đi sau, sao đuổi kịp xe máy?”. Việt nói: “Cứ đuổi theo xem thế nào!”.
Xe Tiến Thọt chạy đến Ngã Tư Sở thì đâm phải một phụ nữ qua đường. Xe đổ và bị tuột xích. Chiếc xe máy đuổi tới gần, tiếng còi vẫn liên tục “toét toét”. Hai anh công an giao thông trực ở ngã tư chạy ra phối hợp. Anh Sơn giằng lấy xe từ tay Tiến Thọt, nói nhỏ: “Trong người Tiến có dao, chạy trước đi”. Tiến Thọt ngần ngừ rồi băng qua đường, chạy như bay về phía đường Tàu Bay, ngoặt vào một ngõ nhỏ. Chẳng ai biết tại sao lại gọi nó là Tiến “Thọt”, vì chân nó dài và thẳng tắp. Tiếng còi “toét, toét” vẫn đuổi theo. Tiến Thọt chạy vào một căn nhà lụp xụp. Cả nhà đang chuẩn bị ăn cơm, thấy Tiến Thọt, ông bố hỏi: “Ơ, cái anh kia, xông vào nhà người ta ăn cướp hay sao thế này?”. Tiến Thọt rút lưỡi lê trong bụng ra: “Ai bảo tôi ăn cướp hả? Tôi đánh nhau bị người ta đuổi. Lê đây này”. Ông già dẫn Tiến Thọt vào gian nhà trong ngồi. Lát sau, một cô bé chừng 15 tuổi vào bảo Tiến: “Người ta đi hết rồi, anh về đi”. Tiến Thọt nhổm dậy, toan đi ra, nhưng cô bé giữ lại, ra hiệu cho Tiến Thọt đi cửa sau. Tiến Thọt lội ruộng, tắt đường Kim Liên về khu Nam Đồng.
Nhưng Anh Sơn bị bắt.
Buổi chiều hôm đó mua được mười ba vé xem phim thì Anh Sơn giữ tám, Tiến giữ hai, Việt, Hoàng và Ngọc mỗi đứa cầm một cái. Tiến nhường hai vé cho Hà Tư vì nó đã hẹn hò với Hoàng Yến. Biết Anh Sơn bị nhốt ở Đồn 41 phố Khâm Thiên, và bác nó là thiếu tá Công an khu Đống Đa sẽ xuống để can thiệp, Hòa nảy ra sáng kiến lên đồn xin lại số vé Anh Sơn đang cầm. Hòa gặp trực ban, vừa trình bày, lập tức bị giữ lại để điều tra. Trước sau Hòa vẫn một mực: “Nhà cháu cạnh nhà Anh Sơn. Chiều cháu bận học ở nhà nên gửi tiền nhờ nó mua vé hộ”. Hòa bị giữ tới 11 giờ đêm. Khi được thả, đã thấy Minh chờ sẵn, thông báo: “Việt, Hoàng và Ngọc bị bắt rồi. Mấy tay thương binh dẫn công an mật tới phục ở cổng khu, sau đó theo ba thằng tới tận rạp Đống Đa. Họ vào ngồi ngay sau bọn Việt, nghe hết những gì ba thằng nói về những chuyện xảy ra lúc chiều. Mấy ông công an chờ chiếu hết cuốn hai mới lấy khóa số 8 ra còng tay ba đứa. Tức nhất là có một bọn đứng bên ngoài, thấy ba thằng bị đưa ra khỏi rạp, nhảy vào đánh hôi. Quân mình bị còng nên đành chịu trận, bị đánh đau lắm”. Hòa nghĩ bụng: “May mà mình không đòi được vé. Nếu đòi được, chắc lúc này cũng bị nhốt trong nhà giam rồi. Chẳng biết bọn Việt tối nay có dắt dao theo không, nếu có lại thêm nặng tội”.
Minh bảo: “Thằng nhỏ hồi chiều bị hai ông thương binh đánh vì ăn cắp, thành ra bọn mình bị kết tội bao che cho bọn ăn cắp, dùng hung khí đâm các anh thương binh. Đúng là làm phúc phải tội!”.