Năm lớp Chín trôi qua sôi động, đầy những biến cố và kỷ niệm vui buồn. Việt có nói, về sau nhớ lại tuổi học trò, người ta chỉ nhớ những niềm vui, chứ ít người buồn phiền, hối tiếc vì ngày đó mình nghịch quá, lười học quá. Thế nhưng tại thời điểm bị kỷ luật, bị đình chỉ học tập, bị mời phụ huynh đến gặp nhà trường, bị thi lại, bị đúp hay bị công an nhốt, đứa nào cũng lo buồn cả. Người chứ có phải gỗ đá đâu. Có quên cũng cần thời gian mới quên được.
Trước khi nghỉ tết Nguyên Đán, Giang Cận, Minh, Ngọc bàn với nhau viết một bức thư góp ý cho cô Vân. Trong thư chúng nói, do cô trẻ nên còn thiếu kinh nghiệm, không đi sâu đi sát học sinh, dùng biện pháp hành chính nhiều hơn biện pháp tâm lý, khiến thầy trò xa cách, đối phó với nhau… Tuy ý định góp ý cho cô giáo không xấu, nhưng sau khi bàn bạc, cả ba thống nhất không ký tên. Giang Cận được giao nhiệm vụ đánh máy bức thư. Trước khi gửi, ba thằng còn tham khảo ý kiến mọi người. Giang Cận cho Đỗ xem thư. Đỗ nhận xét: “Nội dung thư mang tính chất xây dựng, nếu ký tên thì thẳng thắn và đúng với ứng xử của người đoàn viên Thanh niên Cộng sản hơn”. Ngọc không đồng ý: “Ông là đoàn viên chứ tôi có phải đoàn viên đâu mà tôi cần ứng xử như đoàn viên”. Đỗ nghĩ một lúc rồi bảo: “Thôi, các bạn không ký cũng được”. Ba thằng lên tận Bưu điện Bờ Hồ gửi cho an toàn, vì gửi ở khu Đống Đa, nhìn dấu bưu điện, cô Vân sẽ nghĩ ra chỉ có mấy thằng Nam Đồng. Thư vừa đút vào thùng thì Minh phát hiện chưa dán tem, nhưng không có cách nào lấy lại.
Một tuần sau, trong giờ sinh hoạt lớp, cô Vân mặt lạnh như tiền, thông báo sáng mùng Một Tết, chồng cô có nhận được một bức thư, không dán tem. Bưu điện lập biên bản phạt chồng cô một hào hai, gấp đôi tiền tem gửi trong nội thành. Ngày đầu năm mới, bị phạt đã tức, mở ra lại là thư nặc danh của học sinh đe dọa, nói xấu cô giáo chủ nhiệm. Cô hỏi ai viết thì dũng cảm đứng dậy? Bọn viết thư dũng cảm có thừa, nhưng chúng đã thống nhất với nhau không hay gì cái trò “hữu dũng vô mưu” nên phớt lờ. Cuối buổi sinh hoạt, cô bất ngờ yêu cầu Giang Cận, Minh, Ngọc nghỉ học, viết tường trình về vụ gửi thư nặc danh, bao giờ viết xong thì đi học. Ba đứa cắp cặp ra khỏi lớp, không hiểu đầu cua tai nheo ra sao? Kiểm lại, chúng nó không thấy sơ suất khâu nào, thế mà cô giáo lại biết. Chúng vẫn không tin trong lớp có nội phản. Nếu có nội phản thì chúng còn nhiều tội tày trời hơn để bọn gián điệp này báo cáo, việc gì phải mách cô chuyện lặt vặt này. Ngọc đoán: “Có khi cô giáo đem thư ra cho công an lấy dấu vân tay, phát hiện ra bọn mình. Tội này so với đánh nhau cũng là tội nhẹ. Cô đã biết chính xác như thế, nhận cho xong”. Giang Cận cười: “Tội bọn mình đã như ly nước đầy. Tội này chỉ đáng một giọt nước, nhưng sẽ là giọt nước tràn ly”. Minh nhún vai: “Kệ nó, bọn mình còn tràn nhiều!”.
Tuần sau, Hòa và Khanh cũng có một vụ hút chết. Trong giờ học Lịch sử, Khanh ném cho Hòa một mảnh giấy viết mấy chữ, thách Hòa đối:
“QUÂN NGÃ RA BÌNH, THÔI SẮC TỆ”.
Hòa vò đầu bứt tai. Muốn đối, trước hết phải hiểu nghĩa câu đối đã. “Thôi sắc tệ” là nhan sắc tàn phai thì rõ rồi. Còn “Quân” là gì, nó không luận ra. Không biết là “Quân vương”, “Quân lính” hay là “Quân sự”? Có điều, không hiểu sao lại “ngã ra bình”? Hòa càng nghĩ càng tắc tị. Nhưng tính Hòa vốn hiếu thắng, thay bằng đầu hàng, nó loay hoay tìm cách tiến công. Tình cờ nhìn thấy thầy Trọng dạy Vật Lý đi qua, Hòa chợt nghĩ ra một vế đối. Nó viết vào mặt sau mảnh giấy, ném cho Khanh:
“THẦY GIÁO TRỌNG NGỒI TRÊN CHÕNG, THÒ CÁI QUAN TRỌNG RA NGOÀI”.
Khanh chẳng cần suy nghĩ, đối lại ngay:
“CÔ GIÁO THƯỜNG NẰM TRÊN GIƯỜNG, ÚP CÁI THƯỜNG THƯỜNG VÀO TRONG”.
Hai thằng khoái chí, truyền tờ giấy có câu đối cho Đính xem. Đính đọc xong cười khúc khích. Cô Uy nghe tiếng cười, bắt nó đứng dậy, hỏi tại sao cười? Đính trả lời: “Thưa cô, em thấy cô giảng thú vị quá nên cười”. Cô Uy cảnh giác, hỏi vặn: “Điều gì tôi giảng làm cậu thú vị?”. “Thưa cô, bất cứ điều gì cô giảng em cũng thú vị”. Chắc đến trời cũng không ngửi được câu nói của Đính nên lùa vào lớp một cơn gió. Tờ câu đối bay xuống đất, cuộn lên phía bục giảng. Cô Uy nhặt lên, nheo mắt đọc to. Tất cả, kể cả cô, đều phì cười. Nhưng rồi cô Uy chợt nghĩ đây là biểu hiện của sự vô lễ, coi thường thầy cô. Vì vậy cô nghiêm mặt, hỏi ai viết? May hai câu đối viết theo kiểu chữ in hoa, nên khó mà tra ra chữ của ai. Hoàng giơ tay: “Thưa cô, em thấy gió thổi tờ giấy đó từ bên ngoài vào”. Đỗ cười ẩn ý, giơ ngón tay cái, nháy nháy mắt với Hòa. Cô Uy nghi ngờ: “Vậy chắc là trời viết”, và đút tờ giấy vào túi.
Hết tiết, cô lên phòng họp Ban giám hiệu. Vừa thấy thầy Trọng, cô rút ngay tờ giấy ra đọc. Các thầy cô xúm vào trêu thầy Trọng và cô Thường, hai giáo viên trẻ chưa lập gia đình, đang được mọi người gán ghép. Tuy cô Uy đã nói rõ là tờ giấy do gió thổi từ hành lang vào, nhưng cuối buổi học, cô Vân vẫn xộc lên lớp, tra hỏi xem ai là thủ phạm. Chúng nó lừa được cô Uy chứ làm sao lừa được cô. Cái trò khỉ này, chẳng chúng nó thì còn ai? Như mọi khi, dù khối đứa biết ai viết, nhưng vẫn ngồi im, mặc cô muốn nói gì thì nói.
Tra khảo chán, không đứa nào nhận, cô quay ra hỏi: “Này, còn cái câu Quân ngã ra bình thôi sắc tệ nghĩa là gì nhỉ? Có cậu nào biết không?”. Chỉ mỗi Khanh biết nghĩa câu đấy, nhưng nếu giải thích cho cô, sợ cô nghi mình là tác giả, nên nó lờ đi.
Tan học, Hòa hỏi Khanh:
– Cái câu tiếng Hán: Quân ngã ra bình, thôi sắc tệ có nghĩa gì?
Khanh cười:
– Hán đâu mà Hán. “Quân ngã” là “quẫn”. “Quẫn ra bình” là “bĩnh ra quần”, làm gì mà chả thôi sắc…”. Lúc đang học, có thằng nào đánh rắm, thối quá, nên tao mới làm thơ… À, làm câu đối.
Kết thúc năm lớp Chín, số học sinh hạnh kiểm kém của lớp 9D và 10H chiếm năm mươi phần trăm hạnh kiểm kém của toàn trường. Nếu tính trong toàn trường thì 90 phần trăm học sinh bị hạnh kiểm kém năm đó thuộc cả ba khối 8, 9, 10 là học sinh khu tập thể Nam Đồng, với hai tội danh chính: nghịch và đánh nhau. Thầy hiệu trưởng nói trước toàn trường trong buổi tổng kết cuối năm: “Chưa bao giờ trường cấp ba Đống Đa có nhiều học sinh hạnh kiểm kém như năm nay, cao nhất trong bốn khu của Thành phố Hà Nội. Ai hạnh kiểm kém sẽ bị đúp. Tuy nhiên, nhà trường sẽ tạo điều kiện cho các học sinh này cơ hội cuối cùng. Nếu bạn nào trong hè phấn đấu xuất sắc… thí dụ như nhặt được của rơi trả lại, sẽ được xem xét sửa lại hạnh kiểm…”. Thầy ngần ngừ rồi nói thêm: “Nhưng phải là của rơi có giá trị lớn”. Nghe thầy nói, Quốc Tẩm nảy ra sáng kiến hè này tổ chức đi ăn trộm, được bao nhiêu bán lấy tiền để cho bọn hạnh kiểm kém đem nộp, coi như nộp lại của rơi. Những đứa bị hạnh kiểm kém ở lớp 9D là Việt, Hoàng, Giang Cận, Minh, Ngọc, Quốc Tẩm.
Trong đám con trai Nam Đồng ở lớp chỉ có Khanh và Hòa được hạnh kiểm khá. Khanh hạnh kiểm khá còn tạm được, chứ Hòa thì thuộc loại nhà trường để “lọt lưới”. Nó khoái chí:
– Khi nào đi đánh nhau, chúng mày cứ nói với gia đình là đi chơi với tao. Chẳng gì thì về mặt đạo đức, tao cũng xếp trên chúng mày hai bậc.
Hoàng vỗ vai Hòa:
– Mày phấn đấu vào Đoàn luôn đi, để hôm nào bố mẹ không cho đi chơi thì mày sang rủ bọn tao đi họp “cảm tình Đoàn”.
Việt thắc mắc:
– Không hiểu sao tao cứ đánh nhau là bị bắt, còn thằng Hòa không bao giờ bị. Ngay cả vụ nó cầm búa bổ vào thằng “giặc làng”, công an cũng không bắt nó, lại bắt tao.
Hòa cười hì hì:
– Chắc tại kiếp trước tao tu nhân tích đức nhiều hơn mày!
Khanh đề xuất:
– Tao nghĩ hè này bọn mình phải đi học thêm. Chúng nó đều học thêm cả, chỉ mỗi bọn mình không học thôi. Bọn thi lại, phải học để còn lên được lớp. Bọn được lên lớp, cần học tốt hơn để sang năm thi đại học. Chỉ cần tập trung vào mấy môn thi đại học thôi, các môn khác học lớt phớt cũng được.
Ngọc vặn lại:
– Ai bảo mày học Sử lớt phớt cũng được? Tao một phẩy môn Sử, hè này không học Sử để thi lại thì chắc chắn đúp. Tao phải cố gắng để được lên lớp. Chẳng nhẽ học sinh lớp chín lại đến nhà lớp mười mượn vở.
Khanh cười:
– Mượn vở chỉ là món võ nhập môn. Mày phải áp dụng nhiều món võ nữa. Theo tao, có lẽ đã đến giai đoạn viết thư bày tỏ.
Ngọc nhờ Hòa:
– Mày viết thư hộ tao nhé?
Hòa chỉ Việt:
– Mày mượn cái đống thư của thằng Việt, chọn cái nào hợp thì chép. Nó có gần trăm cái thư, đủ các tình huống rồi.