Vừa bước vào phòng giam, Hoàng lập tức bị đánh dằn mặt và bắt nằm cạnh chỗ đi vệ sinh. Phòng giam chứa được khoảng 100 phạm nhân, chia làm 4 dãy, hai bên hai dãy cao, ở giữa là hai dãy thấp, góc cuối bên phải có một phòng vệ sinh, vô cùng bẩn. Nằm đây, mỗi đêm Hoàng phải dậy hàng chục lần. Đứa nào đi vệ sinh Hoàng cũng phải cuộn chiếu, tránh đường, nếu không sẽ bị tụi nó dẫm lên chiếu, thối hoắc. Vì thân cô thế cô nên Hoàng cắn răng chịu.
Tình cờ, sau khi hoàn thành lấy khẩu cung vụ đánh nhau ở trường Xã Đàn. Bích và Quang Anh cũng bị đưa về Hỏa Lò. Hai thằng bị nhốt ở phòng giam số 6. Sang ngày thứ ba, hai thằng gây ra một trận đánh lộn với bọn trong phòng. Giám thị quyết định tống mỗi thằng một nơi. Quang Anh chuyển đến phòng số 8. Bích được đưa sang phòng Hoàng. Chân ướt chân ráo vừa tới phòng, Bích đã bị một cái tát như trời giáng vào mặt và bị bắt ra nằm cạnh phòng vệ sinh.
Gì chứ vụ nằm cạnh hố xí thì Bích đã biết. Đêm hôm trước, ở trại giam của công an khu Đống Đa, Bích cũng bị đám anh chị ở đó xếp cho chỗ bên cạnh hố xí. Gọi là “hố xí”, nhưng thực ra là một góc phòng, có cái xô bằng cao su để cho phạm nhân đi vệ sinh vào. Đã vậy, đám anh chị còn bắt Bích làm lễ nhập môn bằng cách chui háng chúng. Khi Bích ngồi lỳ, không chịu chui, lập tức một thằng nhào đến đánh. Bích vớ luôn cái xô cao su đầy phân và nước tiểu úp vào đầu nó - một việc chưa từng xảy ra trong lãnh địa nhà giam. Ba thằng “sỹ quan” nhảy xổ vào Bích. May mà có mấy năm học võ Vịnh Xuân, chứ không Bích cũng tàn đời. Thấy ồn ào, quản giáo chạy vào kiểm tra. Sau khi quật cho Bích mấy dùi cui vào đầu, vào lưng, họ đưa Bích vào phòng biệt giam.
Đã có kinh nghiệm từ trại giam khu Đống Đa, nên dù vừa bước vào phòng đã bị đánh, Bích vẫn cười nhạt. Thấy Hoàng đang ngồi cạnh hố xí, nó đưa mắt ra hiệu rồi chọn một chỗ cao, ném bọc quần áo và ngồi xuống, bất chấp lệnh của “sỹ quan” phòng giam. Thằng vừa đánh Bích tiến lại. Bích vẫn thản nhiên ngồi, thò tay phải ra sau vờ gãi lưng, thực chất là nó vơ mấy cái bát sắt mọi người vẫn gọi là bát B52, xếp chồng lên nhau, giữ đít bát trong lòng bàn tay. Loại bát này dành cho các phạm nhân múc nước để tắm hoặc rửa mặt. Một cú đá thẳng vào mặt Bích. Bích bật sang bên phải tránh, đồng thời chồm dậy, nắm chặt đít mấy cái bát chồng lên nhau, dùng hết lực vỗ đánh ụp vào mang tai thằng vừa đánh mình. Là dân học võ, Bích thừa hiểu cú đánh vào mang tai uy lực thế nào. Thằng kia gục xuống ngay, ôm đầu lăn lộn. Lập tức hai thằng nhảy vào đánh Bích. Hoàng từ phía dưới lao tới, tay đấm chân đạp, như muốn trút ra hết nỗi nhục nằm cạnh hố xí đêm qua. Cú đạp của Hoàng đẩy một đứa bắn về phía Bích. Bích dùng một thế võ Vịnh Xuân, túm cổ tay nó vặn ngược, dùng cườm tay còn lại chặt vào khuỷu, nghe đánh “rắc”, liền sau là một một tiếng hét rợn người. Vẫn kiểu đánh của Quân khu Nam Đồng, hạ gục thật nhanh từng thằng một khi phải đánh với đám đông. Phòng giam nhốn nháo. Nghe tiếng la hét, quản giáo mở cửa vào kiểm tra. Tất cả im bặt, ai ngồi chỗ nấy. Không khí lặng ngắt, lạnh lẽo.
Bích và Hoàng tuy đã bị giam vài lần, nhưng chưa bao giờ chúng bị nhốt ở Hỏa Lò, lại rơi đúng phòng giam số 14, là nơi giam tù án nặng. Giám thị trại cũng hơi quá tay khi xếp hai đứa vào đây. Đáng lẽ nên giam chúng ở phòng số 17, là nơi nhốt con em cán bộ. Đành rằng chúng ngang bướng, gan lỳ, nhưng thực chất cũng chỉ là những đứa trẻ, chưa hiểu gì về chốn lao tù. Vào phòng giam số 14 Hỏa Lò mà chúng vẫn hành động như ở Quân khu Nam Đồng nhà chúng thì đúng là “con nghé mới sinh không kinh con hổ”. Về sau một bạn tù nói, ngay khi xảy ra chuyện, anh ta nghĩ Bích và Hoàng sẽ không sống nổi qua đêm đó, hoặc có sống cũng thân tàn ma dại. Chưa có phạm nhân nào dám động tới lông chân một “sỹ quan” trong phòng giam số 14, chứ đừng nói tới chuyện đánh gục một lúc hai thằng.
Giám thị vừa ra khỏi phòng, Bích và Hoàng đứng dậy, dựa vào nhau, sẵn sàng đánh tiếp. Bốn thằng nữa tiến lại. Bích cười: “Chúng mày có ngon thì một đánh một. Nếu thua, tao chấp nhận nằm hố xí luôn, khỏi cần đánh”. Bọn kia không thèm đếm xỉa tới đề nghị của Bích. Đây là phòng giam Hỏa Lò, đâu phải lãnh địa Lương Sơn Bạc mà bày trò anh hùng mã thượng. Nhưng dù chúng là diện “sỹ quan”, dễ gì đánh ngã hai thằng thiện chiến bậc nhất của Quân khu Nam Đồng, từng vài năm học Vịnh Xuân quyền và cũng có ngần ấy năm đánh lộn. Khoanh tay đứng nhìn bọn Bích bất chấp sống chết, đánh ngã thêm một thằng nữa, Hồ Biền, đại ca phòng giam hạ lệnh: “Ngừng tay!”.
Hồ Biền nói nhẹ nhàng, nhưng đầy quyền lực. Ba thằng bị đòn đau, đang muốn xông vào ăn thua đủ với Bích và Hoàng, lập tức dừng lại, lễ phép lùi ra xa. Hồ Biền, mặc một chiếc áo bạc màu của lính Mỹ (thời này các phạm nhân bị nhốt trong Hỏa Lò có gì mặc nấy chứ không mặc quần áo tù sọc xanh trắng như trong phim), bước tới chỗ hai đứa, ngồi xuống, hỏi Bích, giọng Nam Bộ đặc sệt:
– Chú mày vào đây vì tội gì?
Bích ngần ngừ, định không trả lời, nhưng trước giọng nói trầm khan đầy uy lực của Hồ Biền, nó đáp, cũng bằng giọng miền Nam:
– Đâm người.
– Sao đâm?
– Nó hỗn.
– Sống hay chết?
– Tôi đang mong nó sống.
– Nhà chú mày ở đâu?
– Quân khu Nam Đồng!
Cả phòng có mấy tiếng “ồ”. Nhìn hai cái áo bộ đội Bích và Hoàng mặc, Hồ Biền hất hàm hỏi Bích:
– Chú có dám một đánh một với anh không? Ai thua phải nằm cạnh hố xí.
– Tôi không muốn đánh ai cả. Nhưng nếu bắt tôi nằm cạnh hố xí thì một chứ mười ông tôi cũng đánh. Chỉ có điều thua tôi cũng chẳng nằm cạnh hố xí đâu.
Hồ Biền chăm chú nhìn Bích:
– Sao chú mày dám nói vậy?
– Bởi vì muốn bắt tôi nằm cạnh hố xí, ông phải đánh chết tôi. Lúc đó tôi sẽ ra nghĩa địa nằm.
Mắt Hồ Biền lấp lánh, nửa như giận dữ, nửa như cười cợt:
– Hừ, đúng giọng con nhà lính. Ông già chú mày là bộ đội hả?
– Ông có biết ở khu tập thể Nam Đồng có thằng con nào bố không là bộ đội không?
– Ông già đang ở đâu?
– Chiến trường Lào. Năm năm nay chưa về.
Hồ Biền lẩm bẩm: “Con nhà lính, thiếu bố, tự do và lếu láo tợn”, rồi chỉ vào một góc cao:
– Hai thằng mày lên đó nằm - Hắn nhìn một ông già nhỏ bé, cụt tay, ra lệnh: “Ông Sinh, sắp chỗ cho chúng nó!”.
Nhờ lệnh Hồ Biền, hai thằng thoát nạn. Chẳng biết có phải trong thời chiến, dù ở đâu, những người lính cũng được tôn trọng hơn? Và ngay cả trong tù, con em họ đôi khi cũng được bạn tù ưu ái? Chỉ biết hôm đó, nhờ Hồ Biền có thiện cảm với hai đứa mà Bích và Hoàng thoát nạn. Một tháng sau, Hồ Biền được đưa đi, không ai biết đi đâu? Ông Sinh – một tay buôn thuốc phiện, tiếng nói khá trọng lượng trong phòng giam, tiếp tục che chở cho bọn chúng.
Sau hai tháng, Hoàng được thả, nhờ chính sách “Hậu phương quân đội”. Quốc Tẩm không thuộc diện ưu tiên nên bị nhốt thêm một thời gian nữa. Lượng bị xử nặng nhất, vì nó là đầu vụ.
Ngày Hoàng được tha, đợt khám nghĩa vụ đầu tiên của năm 1975 chuẩn bị bắt đầu. Hoàng rủ Minh viết đơn xung phong nhập ngũ. Hai đứa không thuộc đối tượng khám nghĩa vụ quân sự, vì là con em cán bộ miền Nam ra Bắc tập kết, lại có bố đang ở chiến trường, nên phải viết đơn xung phong. Tuy cùng tuổi “Dậu”, nhưng Hoàng sinh tháng Mười hai năm 1957 nên được nhận, vì chỉ thiếu… tháng, còn Minh bị trả lại đơn, vì nó sinh tháng Một năm 1958, nghĩa là thiếu năm.
Quốc Tẩm được thả khi đợt tuyển quân sắp kết thúc. Nó làm đơn xung phong đi bộ đội luôn. Đính thấy Quốc Tẩm viết đơn, vỗ vai nó, nói quân đội không chứa chấp bọn mới ra tù. Quốc Tẩm gân cổ cãi. Làm gì có luật nào cấm người đã từng bị phạt giam đi bộ đội? Nếu quân đội không nhận nó, sao lại nhận Hoàng? Không cho nó đi, nó sẽ kiện. Quốc Tẩm chỉ im khi Hoàng phân tích: “Mày ló mặt vào phòng khám sẽ bị đuổi ra ngay, vì ghẻ đầy người. Không ai nhận vào quân đội một tổ ghẻ để lây lan ra toàn quân. Hôm trước, thằng cùng khám với tao cũng bị loại vì ghẻ”. Quốc Tẩm ngạc nhiên, không hiểu sao Hoàng biết nó ghẻ. Nó năn nỉ Minh đi khám hộ. Ai chứ Minh, chỉ cần nhìn đã biết thừa sức khỏe.
Minh vào phòng, cán bộ tuyển quân hỏi nó:
– Họ và tên?
– Tạ Minh Quốc… à, Đặng Minh Quốc.
Anh cán bộ nhìn nó:
– Họ tên cha?
– Đặng… Quân?
– Đặng gì Quân?
Minh toát mồ hôi. Nó nhớ hình như ngày xưa bố Quốc Tẩm tên là Dật Tu. Khi đi kháng chiến, các thủ trưởng nói tên đấy xấu, nên đổi thành Quân. Nhưng chắc chắn không phải “Dật Quân”, còn là cái gì Quân thì nó không nhớ? Hình như là Thanh Quân hay Hoàng Quân gì đó.
Nó trả lời liều:
– Hoàng Quân.
Anh cán bộ nhìn tờ giấy trên bàn, cau mặt:
– Anh nói cái gì?
– Tên ông bà đặt cho bố tôi là Hoàng Quân, nhưng đi bộ đội thì đổi thành Thanh Quân. “Hoàng Quân” nghĩa là… lính mặc áo vàng, trong khi bộ đội mình mặc áo xanh. “Thanh” nghĩa là “xanh”, như “thanh thiên” là trời xanh. Anh hiểu không?
Anh cán bộ gật gù, ra vẻ hiểu biết và hỏi tiếp:
– Họ tên mẹ?
– Mẹ Thủy.
– Họ gì?
Minh luống cuống. Nó nhìn thấy Quốc Tẩm ngoài cửa sổ đang tròn mồm ra hiệu, nhưng không dịch nổi khẩu hình. Nó hỏi lại:
– Mẹ anh tên gì?
Anh cán bộ khám tuyển hơi bất ngờ, nhưng cũng trả lời:
– Mẹ tôi tên Xuân.
– Mẹ anh họ gì?
– Anh đùa tôi đấy à?
– Tôi lại nghĩ anh đang đùa tôi. Hỏi con người ta họ của mẹ nó là gì…? Đúng là xúc phạm!
Quốc Tẩm ở ngoài lo lắng, hét toáng lên:
– Anh cán bộ gì ơi, cho tôi hỏi, trong này có chị Nguyễn Thị Quân không?.
Anh cán bộ tuyển quân cau mặt, rời bàn, ra bảo Quốc Tẩm: “Anh kia, trật tự!” và khép cánh cửa lại. Chờ anh quay về chỗ, Minh nhẹ nhàng:
– Tên mẹ tôi là Nguyễn Thị Thủy, anh còn hỏi gì nữa không?
– Đủ rồi, mời anh sang phòng bên khám.
Minh khám vèo một cái là xong, tất nhiên không có con ghẻ nào, sức khỏe đạt loại A1. Quốc Tẩm mời Minh với Hoàng đi uống nước chè và đãi mỗi đứa một điếu “Điện Biên” bao bạc. Hoàng bảo Quốc Tẩm: “Tao còn ít thuốc ghẻ. Lát về tao cho. Nhưng mày nên kiếm mấy nắm lá xoan, nấu nước tắm, và sát vào chỗ ghẻ. Bệnh này chữa khó phết đấy. Hồi mới ra, tao cũng bị ghẻ tứ tung”.