Hè năm lớp Chín trôi qua thật nhanh, và các trận đánh nhau cũng giảm. Nghĩ lại, có lẽ là do tình yêu. Trong ngày, thời gian là một hằng số. Nếu dành nhiều thời gian cho tình yêu, sẽ ít thời gian cho đánh nhau. Hơn nữa, ai khi yêu cũng hiền, vì trước tình yêu, con người trở nên hướng thiện. Một lý do nữa là: Các cô gái và phụ huynh của họ không thích bọn hay đánh nhau. Thôi thì lúc nào ngoan được cứ ngoan.
Ban giám hiệu nhà trường và Ban quản lý khu tập thể không biết khẩu hiệu hè 1974 của bọn con trai khu Nam Đồng là “Tăng yêu đương, giảm đánh đấm!”. Tất nhiên, thỉnh thoảng chúng vẫn đi đánh nhau. Lớn nhất là vụ đánh nhau với bọn phố Hàng Buồm, ở hồ bơi Quảng Bá. Nguyên nhân xuất phát từ vụ va chạm nhỏ của Anh Sơn, Tiến Thọt với một võ sư người Hoa khi bơi. Chưa bao giờ hội Nam Đồng đánh nhau với một bọn võ nghệ cao cường như vậy. Việt dính một cú đá, ngã lộn mấy vòng, lăn từ vệ đường xuống hồ. Tiến bị đánh tím bầm mắt. Đính về nhà với cái mũi sưng vều… Bốn thằng lăn xả vào mà không đánh nổi “Sư phụ”. Khi Hòa thấy đám bạn lần lượt bị hạ gục, nó nhặt luôn nửa hòn gạch bên đường, choang thẳng vào đầu “sư phụ”. Đúng là ba năm võ Tàu không bằng một chầu củ đậu, “Sư phụ” ngã quay lơ. Bọn Hàng Buồm chạy tán loạn. Hòa vứt cho “Sư phụ” chiếc khăn tay để dịt vào chỗ đầu bê bết máu và ngạc nhiên khi nhận ra mình bỗng dưng ngưỡng mộ đối thủ. Trước kia, thấy bọn Bích, Thái Đen, Hà Tư và Hoàng đi học Vịnh Xuân quyền, Hòa vẫn cho rằng đã có vũ khí, cần gì học võ cho nhọc. Qua trận đánh nhau này, Hòa bắt đầu thay đổi thái độ. Nó nghĩ thể nào cũng phải đi học võ Tàu. Khi có võ, chẳng cần mang theo vũ khí nữa. Khi nào bí quá thì kết hợp đánh võ với ném gạch.
Có một điều ngạc nhiên, tuy không ai bảo ai, hè này rất ít thằng đi chơi mang theo vũ khí. Nhưng quan trọng nhất là trong hè không ai bị bắt vào đồn. Hết hè, bọn phải “thi lại hạnh kiểm”, đứa nào cũng xin được của khu phố một bản nhận xét trên cả tuyệt vời, nộp cho nhà trường. Kết hợp với hoàn cảnh gia đình bộ đội, bố là liệt sỹ hoặc đang ở chiến trường, Ngọc, Minh, Hoàng, Quốc Tẩm được vớt lên hạnh kiểm “thường”, trên “kém” một bậc. Thế là đủ. Được lên lớp thì hạnh kiểm “thường” có khác gì “tốt” với “khá”.
Thế nhưng dù Ngọc và Minh qua được cửa hạnh kiểm, vẫn còn phải vượt thêm cửa thi lại mới được lên lớp. Người “thanh niên mới” phải vừa hồng vừa chuyên. Suốt cả mùa hè, hai đứa mải phấn đấu về “đức” mà quên siêng năng rèn luyện về “tài”. Ngọc và Minh bị đúp, phí cả công phấn đấu nâng hạnh kiểm. Mà đúp vì thi trượt môn Lịch sử mới chán đời!
Riêng Giang và Việt không được vớt hạnh kiểm, đồng nghĩa với lưu ban. Thầy hiệu trưởng đưa ra điều kiện: “Muốn xóa hạnh kiểm kém để được lên lớp, phải xin chuyển trường!”. Thầy nói vậy cũng ngang đánh đố hai đứa, vì khác tuyến, lại nổi danh nghịch ngợm, dễ gì xin chuyển. Không trường nào ngu mà lại đi nhận những học sinh cá biệt do trường Đống Đa lè ra.
Giang quyết định xin đi bộ đội, dù còn mấy tháng nữa mới đến tuổi. Một học sinh thông minh xuất sắc như nó, không bao giờ chịu xuống ngồi với bọn đàn em học lại những điều mình đã biết. Giang không oán trách nhà trường. Nó bảo: “Khó khăn là cái để mình vượt qua, chứ không phải để than thở. Vấp ngã cũng có mặt tốt, vì nó giúp con người trưởng thành”. Lúc nào Giang cũng khẳng định mình bị hạnh kiểm kém là đúng. Nhà trường cần phải xử nó thật nặng để làm gương cho những thằng cán bộ Đoàn đang ngoan chuyển sang hư.
Việt thì lại cho rằng xếp nó vào loại “hạnh kiểm kém - không thể giáo dục được” là oan cho nó. Nhưng nó cũng không trách thầy hiệu trưởng, chỉ trách số mình đen. Trong trận đánh cuối cùng của nó thời đi học, ba thằng cùng tham gia mà mỗi mình nó bị bắt. Nó phải đọc bản kiểm điểm trước toàn trường. Việt nghĩ, lần này phải làm một bản kiểm điểm thật hay, bày tỏ sự hối hận và cam kết cải tà quy chính, phấn đấu trở thành một người con ngoan trò giỏi. Nó nhờ Hòa.
Việt không biết mình phạm một sai lầm lớn khi cho rằng đã viết thư tình hay thì sẽ làm kiểm điểm giỏi. Sau lễ chào cờ, Việt cầm bản kiểm điểm tiến ra phía micro, thái độ rất thành khẩn. Nghe Việt trình bày tới đoạn: “Em đã nhận thức được lỗi lầm của mình. Khi bầu máu nóng tuổi trẻ bốc lên, em đã dùng quả đấm trả lời thay cho lẽ phải. Xin thầy cô và các bạn hãy tha thứ cho em, gạt bỏ hết trong em những bụi mù nghịch ngợm để mang lại một ngày mai tươi sáng”, học sinh phía dưới phá lên cười. Việt thấy mọi người cười cũng hoang mang. Hôm qua nó đã duyệt đi duyệt lại từng chữ trong bản kiểm điểm, thấy không có gì sơ xuất. Việt không hiểu trong mắt mọi người, nó bị coi là một “sát thủ”. Dù nó tỏ ra thế nào đi nữa, chẳng ai coi nó là kẻ ngoan hiền. Việt càng đọc nghiêm túc, ở dưới càng cười lăn cười bò. Sự thiếu kinh nghiệm trong viết kiểm điểm của Hòa đã làm hại nó. Văn chương mà không hợp người, hợp cảnh đúng là giết chết người ta. Khi Việt đọc đến câu: “Để chờ đợi một ngày mai, con người Việt Nam cắm cờ lên sao Kim, sao Hỏa thì hôm nay chúng em phải gắng sức học hành phấn đấu… Tuổi thơ ơi, hãy lớn lên đi!” thì tờ giấy trong tay nó tuột mất. Việt ngước nhìn, thấy thầy hiệu trưởng đang hầm hầm đứng bên cạnh. Thầy quát: “Thôi, không đọc nữa. Đây đâu phải chỗ cho cậu diễn hề”. Nó đang định thanh minh thì thầy hét: “Đi vào ngay. Cậu đúng là không-thể-giáo-dục được!”
Việt xuống lớp dưới học được mấy ngày rồi cũng xin bố cho vào bộ đội. Đằng nào thì dăm tháng nữa nó cũng đến tuổi nhập ngũ. Đất nước đang có chiến tranh, đi bộ đội đánh tan giặc xong rồi về học tiếp cũng được chứ sao!
Lớp 10D năm đó, các bạn trai khu Nam Đồng vắng đi bốn người.