Vào lúc hoàng hôn, chàng thanh niên Goodman Brown bước ra con đường ở làng Salem, nhưng rồi vừa qua khỏi ngưỡng cửa, chàng lại quay đầu lại để trao nụ hôn từ biệt với người vợ trẻ của mình. Faith, đúng như cái tên dịu dàng của nàng, thò mái đầu xinh xắn ra đường, để mặc gió đùa nghịch với dải ruy băng hồng trên chiếc mũ trong lúc nàng gọi với theo Goodman Brown.
Nàng thì thầm, giọng dịu ngọt và thoáng buồn khi áp sát môi vào tai chàng: “Hỡi trái tim dấu yêu, xin chàng hãy hoãn chuyến đi lại đến tận bình minh và đêm nay hãy ngủ lại trên chiếc giường của chính mình. Một người phụ nữ đơn độc thường bị dằn vặt bởi những giấc mơ và suy nghĩ đến mức đôi khi chính nàng cũng thấy sợ bản thân. Xin chàng hãy ở lại với tôi đêm nay, hỡi người chồng thân yêu, trong số tất cả các đêm trong năm.”
Goodman Brown đáp: “Tình yêu và đức tin của anh ạ, trong tất cả mọi đêm trong năm, riêng đêm nay anh buộc phải ở xa em. Chuyến đi của anh, như em gọi, đi và về, dứt khoát phải hoàn thành trong khoảng thời gian từ bây giờ cho đến lúc bình minh. Sao thế, người vợ ngọt ngào, xinh xắn của anh, em đã hoài nghi anh rồi sao, trong khi chúng ta mới cưới nhau được ba tháng?”
Faith với chiếc ruy băng hồng nói: “Thế thì Chúa phù hộ cho anh! Và mong anh tìm thấy mọi sự bình an khi trở về.”
Goodman Brown kêu lên: “Amen! Em hãy cầu nguyện đi, Faith dấu yêu ạ, và đi ngủ khi trời chập tối, sẽ chẳng có tai họa nào giáng xuống đầu em đâu.”
Thế là họ chia tay; chàng thanh niên tiếp tục bước đi cho đến khi sắp rẽ qua góc đường cạnh nhà thờ hội họp, chàng ngoái nhìn lại và vẫn thấy cái đầu của Faith đang ngóng theo mình với vẻ mặt đượm buồn, bất chấp dải ruy băng hồng.
Chàng thầm nghĩ, lòng quặn thắt: “Tội nghiệp Faith nhỏ bé! Ta thật là một kẻ khốn nạn khi bỏ rơi nàng vì một sứ mạng thế này! Nàng cũng nhắc đến những giấc mơ nữa chứ. Ta ngỡ như khi nàng nói, trênKhuôn mặt nàng thoáng nét u sầu, tựa như một giấc mơ đã cảnh báo nàng về công việc phải làm đêm nay. Nhưng không, không thể nào; nghĩ đến điều đó thôi cũng đủ giết chết nàng rồi. À mà, nàng là một thiên hạ phước lành trên cạn; và sau đêm nay, ta sẽ bám chặt lấy vạt áo nàng mà theo nàng lên thiên đàng.”
Với quyết tâm tốt đẹp cho tương lai ấy, Goodman Brown cảm thấy việc mình dấn thân thêm vào mục đích đen tối hiện tại là có lý. Chàng đã chọn một con đường tiêu điều, bị che khuất bởi những tán cây u ám nhất trong rừng, vốn chỉ vừa vặn né sang một bên để con đường mòn nhỏ hẹp lách qua, rồi khép kín lại ngay phía sau. Mọi thứ vắng lặng đến cùng cực; và chốn hoang vu này có một điều kỳ lạ là người lữ hành chẳng thể biết ai đang ẩn nấp sau vô số thân cây và cành lá dày đặc trên đầu; để rồi dù bước đi đơn độc, người ta vẫn có thể đang đi giữa một đám đông vô hình.
Goodman Brown tự nhủ: “Biết đâu đằng sau mỗi gốc cây lại có một tên da đỏ quỷ quái,” rồi chàng ném ánh mắt sợ hãi ra sau lưng và lẩm bẩm thêm: “Lỡ như chính ác quỷ lại đang đứng ngay sát khuỷu tay ta thì sao!”
Quay đầu nhìn lại phía sau, chàng đi qua một khúc cua của con đường, và khi ngước mắt nhìn lên phía trước, chàng liền bắt gặp bóng dáng một người đàn ông mặc trang phục trang nghiêm, lịch sự, đang ngồi dưới gốc một cổ thụ. Người đó đứng dậy khi Goodman Brown đến gần và bước đi song hành cùng chàng.
Hắn cất lời: “Anh đến muộn đấy, Goodman Brown. Chiếc đồng hồ ở nhà thờ Old South đang điểm chuông lúc tôi đi qua Boston, và việc đó đã cách đây tròn mười lăm phút rồi.”
Chàng thanh niên đáp, giọng run run vì sự xuất hiện bất ngờ của người bạn đồng hành, dẫu rằng điều đó không hẳn là hoàn toàn bất ngờ:
“Faith đã giữ tôi lại một lúc.”
Lúc này trong rừng trời đã chập tối sâu thẳm, và u ám nhất là ở đoạn đường mà hai người này đang đi. Nhìn chung, có thể nhận định vị lữ khách thứ hai này khoảng năm mươi tuổi, hình như cũng cùng tầng lớp xã hội với Goodman Brown, và có nét khá giống chàng, có lẽ biểu cảm nhiều hơn là đường nét khuôn mặt. Dù vậy, họ vẫn có thể bị nhầm là cha con. Thế nhưng, dẫu người lớn tuổi ăn mặc giản dị chẳng kém gì người trẻ, và phong thái cũng mộc mạc không kém, ông ta lại phảng phất một vẻ bất định của kẻ từng trải, kẻ chẳng hề cảm thấy lúng túng nếu ngồi vào bàn tiệc của thống đốc hay triều đình Vua William, giả sử công việc có đưa ông ta đến đó. Song, điểm duy nhất ở ông ta có thể xem là đáng chú ý chính là cây gậy, mang hình hài một con rắn lớn màu đen, được chạm trổ tinh vi đến mức người ta suối tưởng như nó đang oằn mình quằn quại giống như một con rắn sống. Tất nhiên, đây chắc hẳn chỉ là một cú lừa thị giác dưới sự trợ giúp của thứ ánh sáng nhập nhoạng.
Người bạn đồng hành liền kêu lên: “Nào, Goodman Brown, bước đi thế này thì thật ì ạch cho sự khởi đầu của một chuyến hành trình. Hãy cầm lấy cây gậy của tôi, nếu anh đã mỏi mệt đến thế.”
Người kia đáp, dừng hẳn bước đi chậm chạp lại: “Này bạn, đã giữ lời hẹn gặp anh ở đây, mục đích của tôi lúc này là quay về nơi tôi đã tới. Tôi có những mối bận tâm về vấn đề mà anh đã rõ.”
Kẻ cầm gậy hình rắn mỉm cười kín đáo đáp: “Anh nói thế ư? Dù sao chúng ta cứ đi tiếp, vừa đi vừa luận đàm; và nếu tôi không thuyết phục được anh thì anh cứ việc quay lại. Chúng ta mới chỉ vào rừng một đợt ngắn thôi mà.”
Người thiện nam thốt lên, vô thức bước đi trở lại: “Quá xa rồi! Quá xa rồi! Cha tôi chưa từng bước chân vào chốn rừng sâu trong một sứ mạng thế này, và cha của ông ấy cũng vậy. Dòng họ chúng tôi vốn là những người lương thiện và là tín đồ Ki-tô giáo thuần thành kể từ thời các vị tử đạo; chẳng lẽ tôi lại là người đầu tiên mang họ Brown bước lên con đường này và giữ lấy—”
Người lớn tuổi ngắt quãng, đoán trước lời chàng ngập ngừng: “Một hội nhóm như thế, ý anh là vậy phải không? Nói hay lắm, Goodman Brown! Tôi rành rẽ gia đình anh cũng chẳng kém gì bất kỳ tín đồ Thanh giáo nào; và đó không phải là chuyện nhỏ đâu. Tôi đã giúp ông nội anh, người cảnh sát trưởng, khi ông quất roi tơi bời người phụ nữ Quaker dọc theo các con phố ở Salem; và chính tôi là kẻ đã mang cho cha anh một khúc gỗ thông đẫm nhựa, châm lửa từ chính lò sưởi nhà mình, để thiêu rụi một ngôi làng da đỏ trong cuộc chiến của Vua Philip. Cả hai đều là bạn tốt của tôi; và chúng ta đã có biết bao buổi dạo chơi thú vị dọc theo con đường này, rồi vui vẻ trở về sau nửa đêm. Tôi rất muốn làm bạn với anh vì tình nghĩa ấy.”
Goodman Brown đáp: “Nếu đúng như lời anh nói, tôi lấy làm lạ vì họ chưa từng nhắc đến những chuyện này; hoặc quả thực, tôi cũng chẳng lấy làm lạ, bởi vì chỉ cần một lời đồn thổi nhỏ như thế cũng đủ đuổi họ khỏi New England. Chúng ta là một dân tộc sống bằng lời cầu nguyện và những việc làm phúc đức, và không dung thứ cho bất kỳ sự gian ác nào.”
Kẻ mang cây gậy uốn lượn nói: “Gian ác hay không thì tùy, tôi có rất nhiều quen biết ở vùng New England này đấy. Các chấp sự của không biết bao nhiêu nhà thờ từng uống rượu thánh với tôi; các ủy viên hội đồng của nhiều thị trấn coi tôi là chủ tịch của họ; và đa số thành viên của Đại hội đồng và Tòa án Tổng hợp đều là những người nhiệt thành ủng hộ lợi ích của tôi. Cả ngài thống đốc và tôi nữa—Nhưng đây là những bí mật quốc gia.”
Goodman Brown trợn tròn mắt kinh ngạc nhìn người bạn đồng hành vẫn điềm nhiên, thốt lên: “Lẽ nào lại thế ư? Dẫu sao đi nữa, tôi chẳng dính dáng gì đến thống đốc và hội đồng; họ có lối đi riêng và chẳng phải là khuôn mẫu cho một nông dân chất phác như tôi. Nhưng, giả sử tôi tiếp tục đi cùng anh, làm sao tôi dám đối mặt với ánh mắt của vị lão mục sư đáng kính ấy tại làng Salem village? Ồ, giọng nói của ông sẽ khiến tôi run rẩy cả trong Ngày Sa-bát lẫn ngày giảng đạo cho xem.”
Cho đến lúc này, vị lữ khách lớn tuổi vẫn lắng nghe với vẻ trang nghiêm đúng mực; nhưng giờ đây ông ta bỗng phá lên cười ngất không thể kìm chế được, rung người dữ dội đến mức cây gậy hình rắn dường như cũng quằn quại theo tiếng cười.
Hắn cứ thế cất tiếng cười hô hố hết lần này đến lần khác; rồi trấn tĩnh lại và bảo: “Ha! ha! ha! Nào, đi đi, Goodman Brown, cứ đi đi; nhưng xin anh, đừng làm tôi chết vì cười chứ.”
Goodman Brown, cảm thấy khá bực mình, liền nói: “Thôi được, để chấm dứt chuyện này ngay lập tức, vợ tôi là Faith đây. Điều đó sẽ làm vỡ nát trái tim bé bỏng tội nghiệp của nàng; và tôi thà tự đập vỡ trái tim mình còn hơn.”
Kẻ kia đáp: “Thế thì nếu đã vậy, Goodman Brown, anh cứ việc đi theo ý mình đi. Tôi thà không vì hai mươi bà già giống như mụ đang khập khiễng đi trước chúng ta kia mà để Faith phải chịu bất kỳ tổn hại nào.”
Vừa nói, hắn vừa chỉ cây gậy về phía một bóng hồng đang đi trên đường. Goodman Brown nhận ra đó là một mệnh phụ vô cùng đạo đức và mẫu mực, người từng dạy chàng giáo lý thuở niên thiếu, và đến nay vẫn là cố vấn luân lý lẫn tâm linh cho chàng, cùng với mục sư và Chấp sự Gookin.
Chàng thốt lên: “Thật là kỳ lạ khi mụ Goody Cloyse lại có mặt sâu trong chốn hoang vu này vào lúc chập tối. Nhưng xin phép anh, bạn tôi ạ, tôi sẽ đi tắt qua rừng cho đến khi chúng ta bỏ lại người phụ nữ theo đạo Ki-tô này ở phía sau. Vốn là một người xa lạ đối với anh, mụ có thể sẽ hỏi tôi đang đi chung với ai và định đến đâu.”
Bạn đồng hành của chàng đáp: “Cứ thế đi. Anh hãy rẽ vào rừng, còn tôi giữ đường lớn.”
Thế là chàng thanh niên rẽ sang một bên, nhưng vẫn cẩn thận dõi theo người bạn đồng hành. Hắn rảo bước nhẹ nhàng dọc theo con đường cho đến khi đến gần mụ già chỉ cách một tầm gậy. Trong khi đó, mụ ta đang cố gắng rảo bước với tốc độ đáng ngạc nhiên đối với một phụ nữ đã lớn tuổi, miệng lẩm bẩm những từ không rõ nghĩa — chắc hẳn là một lời cầu nguyện — trên đường đi. Vị lữ khách chìa cây gậy ra và chạm vào chiếc cổ nhăn nheo của mụ bằng vật trông giống như cái đuôi rắn.
Mụ già đạo đức thét lên: “Quỷ tha ma bắt!”
Vị lữ khách vừa đối mặt với mụ vừa tì người lên cây gậy đang quằn quại, nhận xét: “Thế ra Goody Cloyse đã nhận ra người quen cũ của mình rồi à?”
Mụ phụ nữ kêu lên: “Úi chà, quả thật, hóa ra là ngài đấy ư? Vâng, đúng là ngài thật rồi, lại mang nguyên hình ảnh của lão hàng xóm cũ của tôi, Goodman Brown, ông nội của cái thằng dở hơi hiện giờ đấy chứ. Nhưng—liệu ngài có tin nổi không?—cây chổi bay của tôi tự dưng biến mất tiêu, chắc là bị mụ phù thủy chưa chịu treo cổ kia, Goody Cory, ăn cắp rồi, mà lại đúng lúc tôi vừa xức đầy người thứ nước ép cỏ tầm ma, cỏ năm lá và ô đầu sói chứ lị.”
Hình nhân mang hình bóng của lão Goodman Brown cất lời: “Pha lẫn với bột mì mịn và mỡ của một đứa trẻ sơ sinh chứ gì.”
Mụ già cười khằng khặc đáp: “Ạ, ngài rõ quá nhỉ công thức rồi còn gì. Thế nên, như tôi vừa nói, khi mọi thứ đã sẵn sàng cho buổi hội họp mà lại chẳng có ngựa để đi, tôi đành quyết định đi bộ; vì người ta bảo tôi tối nay sẽ có một thanh niên dễ thương được kết nạp vào hội. Nhưng giờ thì xin ngài cho tôi dắt tay một cái, chúng ta sẽ đến đó trong chớp mắt.”
Bạn của mụ ta đáp: “Chuyện đó e khó lòng. Tôi không thể nhường cánh tay mình cho Goody Cloyse được; nhưng nếu muốn, anh có thể dùng cây gậy của tôi đây.”
Nói đoạn, hắn ném cây gậy xuống chân mụ. Biết đâu chừng, tại nơi đó nó đã hóa thành sự sống, vốn là một trong những cây gậy mà chủ nhân của nó từng cho các thầy phù thủy Ai Cập mượn xưa kia. Tuy nhiên, Goodman Brown không thể nhận thức được sự thật này. Chàng vừa ngước mắt lên đầy kinh ngạc, và khi cúi xuống nhìn lại, chàng chẳng thấy Goody Cloyse hay cây gậy hình rắn đâu nữa, mà chỉ còn lại mỗi người bạn đồng hành đang đứng chờ chàng điềm tĩnh như thể chưa từng có chuyện gì xảy ra.
Chàng thanh niên thầm nghĩ: “Bà lão ấy đã dạy mình giáo lý đấy,” và ẩn chứa trong lời nhận xét đơn giản này là cả một trời ý nghĩa.
Họ tiếp tục bước đi, trong khi vị lữ khách lớn tuổi giục giã người đồng hành hãy rảo bước cho nhanh và kiên trì trên con đường ấy, lời lẽ phân tích khéo léo đến mức các lập luận của ông ta tựa như nảy sinh từ chính cõi lòng của người nghe chứ không phải do ông ta gợi ý. Trên đường đi, ông ta bẻ một cành phong để làm gậy chống, rồi bắt đầu tuốt bỏ những nhánh nhỏ vốn đang đẫm sương đêm. Ngay khoảnh khắc những ngón tay ông ta chạm vào, chúng bỗng héo quắt và khô khốc một cách kỳ lạ như thể đã dãi nắng cả tuần trời. Cứ thế, cặp đôi tiếp tục sải bước thật nhanh, cho đến khi bất thừng, tại một hũng trũng u ám bên đường, Goodman Brown sụp xuống ngồi bệt trên một gốc cây và kiên quyết không đi thêm bước nào nữa.
Chàng bướng bỉnh nói: “Này bạn, tôi đã quyết định rồi. Tôi sẽ không nhích thêm một bước nào nữa cho sứ mạng này đâu. Giả sử một mụ già khốn nạn nào đó chọn đi theo ma quỷ trong khi tôi cứ ngỡ mụ lên thiên đàng: liệu điều đó có là lý do để tôi ruồng bỏ nàng Faith dấu yêu của mình mà chạy theo mụ ta hay sao?”
Người quen của chàng điềm đạm đáp: “Rồi anh sẽ nghĩ lại thôi. Hãy ngồi đây nghỉ ngơi chốc lát; và khi nào anh thấy muốn đi tiếp, đã có cây gậy của tôi giúp một tay.”
Nói chẳng thêm lời nào, hắn ném chiếc gậy phong cho người đồng hành, rồi biến mất nhanh chóng vào màn đêm u ám đang dần buông xuống như thể vừa tan biến vào hư vô. Chàng thanh niên ngồi bên vệ đường một lát, tự tán dương mình hết lời và mường tượng xem mình sẽ gặp vị mục sư vào buổi sáng mai với một lương tâm trong sáng nhường nào, chẳng hề phải né tránh ánh mắt của vị chấp sự già nhân hậu Gookin. Và giấc ngủ đêm nay sẽ bình yên biết bao, đáng lẽ ra đã phải chìm đắm trong tội lỗi, nhưng giờ đây lại thật thuần khiết và ngọt ngào biết bao trong vòng tay của Faith! Giữa những dòng suy tưởng dễ chịu và đáng ngợi ca ấy, Goodman Brown nghe thấy tiếng móng ngựa nện trên đường, và chợt thấy cần phải ẩn nấp vào rìa rừng, ý thức được mục đích tội lỗi đã đưa mình đến đây, dẫu giờ đây chàng đã may mắn quay lưng lại với nó.
Tiếng móng guốc dồn dập và giọng nói của những kẻ cưỡi ngựa vang lên, hai giọng nói già nua, trầm mặc, trò chuyện nghiêm nghị khi họ đến gần. Những âm thanh hỗn độn ấy dường như lướt qua con đường, chỉ cách chỗ ẩn nấp của chàng thanh niên vài thước; thế nhưng, có lẽ do bóng tối quá dày đặc tại khúc quanh cụ thể ấy, cả lữ khách lẫn ngựa của họ đều chẳng thể tài nào nhìn thấy. Dù thân hình họ khẽ sạt qua những cành cây nhỏ bên vệ đường, người ta cũng chẳng thể nhận thấy họ cản trở dù chỉ trong khoảnh khắc tia sáng mỏng manh từ dải trời rực rỡ phía trên mà họ buộc phải băng qua. Goodman Brown lúc thì khom người, lúc lại kiễng chân, vạch những cành cây sang một bên và rướn cổ hết mức có thể mà vẫn chẳng nhìn thấy nổi lấy một chiếc bóng. Chàng càng thêm bực bội, bởi vì nếu có thể, chàng dám thề rằng mình nhận ra giọng nói của vị mục sư và Chấp sự Gookin đang lững thững cưỡi ngựa đi ngang qua, như thói quen của họ mỗi khi có dịp đến dự lễ phong chức hay hội đồng giáo hội. Trong lúc vẫn còn nghe rõ tiếng, một trong những người cưỡi ngựa dừng lại để bẻ một chiếc roi mây.
Giọng nói tựa như của vị chấp sự cất lên: “Thưa cha linh mục, giữa hai việc, tôi thà bỏ lỡ bữa tiệc mừng phong chức còn hơn là cuộc họp tối nay. Người ta bảo rằng một số tín đồ trong cộng đồng của chúng ta từ Falmouth và các vùng xa hơn sẽ có mặt, vài người khác đến từ Connecticut và Rhode Island, bên cạnh một số thầy cúng da đỏ, theo cách của họ, cũng nắm giữ mớ tà thuật chẳng kém gì những kẻ giỏi nhất trong số chúng ta. Hơn thế nữa, lại có cả một cô gái trẻ tuổi xinh xắn sắp được kết nạp vào hội.”
Giọng điệu trang nghiêm trầm đợt của vị mục sư đáp: “Tuyệt lắm, Chấp sự Gookin! Thúc ngựa mau lên, kẻo chúng ta muộn mất. Anh biết đấy, chẳng thể làm được gì cho đến khi tôi có mặt ở đó.”
Tiếng móng guốc lại lộc cộc vang lên; và những giọng nói vang lên kỳ lạ giữa không gian trống trải ấy tiếp tục khuất dần trong khu rừng, nơi chưa từng có một nhà thờ nào được dựng lên hay một tín đồ Ki-tô giáo nào từng cất lời cầu nguyện cô độc. Thế thì, những con người thánh thiện này còn có thể đi đâu mà lại dấn thân sâu vào chốn rừng hoang ngoại giáo đến thế? Goodman Brown bám lấy một thân cây để giữ thăng bằng, cảm thấy chao đảo như muốn ngã quỵ xuống đất, kiệt sức và nặng trĩu nỗi đau đớn bệnh hoạn trong tim. Chàng ngước nhìn lên bầu trời, hoài nghi không biết trên kia có thực sự tồn tại thiên đường hay không. Thế nhưng vòm trời xanh vẫn ở đó, và những vì sao đang lấp lánh sáng ngời trong đó.
Goodman Brown thét lên: “Với thiên đường ở trên cao và Faith ở dưới thấp, ta vẫn sẽ kiên định chống lại ác quỷ!”
Trong khi chàng vẫn ngước nhìn lên vòm trời sâu thẳm và giơ hai tay cầu nguyện, một đám mây, dẫu chẳng có ngọn gió nào thổi, bỗng phóng qua đỉnh đầu và che khuất những vì sao đang sáng rực. Bầu trời xanh vẫn còn nhìn thấy được, ngoại trừ ngay phía trên đỉnh đầu, nơi khối mây đen sì ấy đang quét nhanh về hướng Bắc. Lơ lửng trên không trung, tựa như phát ra từ sâu thẳm đám mây, là những âm thanh hỗn độn và mơ hồ của các giọng nói. Có lúc người nghe tưởng chừng như phân biệt được giọng điệu của những người dân trong thị trấn của mình, cả nam lẫn nữ, người đạo đức lẫn kẻ bất lương, nhiều người trong số đó từng gặp chàng bên bàn tiệc thánh, và cũng từng thấy những kẻ khác đang ăn chơi đồi trụy tại quán rượu. Ngay khoảnh khắc tiếp theo, vì âm thanh quá mơ hồ, chàng lại hoài nghi không biết mình có nghe thấy gì ngoài tiếng rì rào của khu rừng già đang thì thầm không gió. Rồi những âm thanh quen thuộc ấy dâng trào mạnh mẽ hơn, những âm thanh vẫn vang lên mỗi ngày dưới ánh nắng ở làng Salem, nhưng chưa bao giờ lại phát ra từ một đám mây đêm như lúc này. Có giọng của một người phụ nữ trẻ, cất lên những lời than van, nhưng với nỗi buồn vô định, và đang nài nỉ xin một ân huệ nào đó, mà có lẽ, đạt được nó sẽ chỉ khiến nàng đau đớn; và toàn bộ đám đông vô hình kia, cả thánh nhân lẫn kẻ tội đồ, dường như đang cổ vũ nàng tiến bước.
Goodman Brown gào lên trong một nỗi thống khổ và tuyệt vọng tột cùng: “Faith!”; và những tiếng vang trong rừng nhại lại tiếng gọi của chàng, “Faith! Faith!”, tựa như những kẻ khốn khổ lạc lối đang tìm kiếm nàng khắp chốn hoang vu.
Tiếng kêu của nỗi đau buồn, cơn thịnh nộ và sự kinh hoàng vẫn xé rách màn đêm, trong khi người chồng bất hạnh nín thở chờ đợi một hồi âm. Một tiếng thét vang lên, bị nuốt chửng ngay lập tức bởi tiếng lầm rầm của đám đông lớn hơn, rồi lịm dần thành những tiếng cười vang vọng từ đằng xa, khi đám mây đen quét qua, để lại bầu trời trong trẻo và tĩnh lặng bên trên Goodman Brown. Nhưng có vật gì đó khẽ khàng bay lượn qua không trung rồi vướng lại trên cành cây. Chàng thanh niên chộp lấy nó, và nhận ra đó là một dải ruy băng hồng.
Sau một thoáng chết lặng, chàng thét lên: “Faith của tôi mất rồi! Chẳng có điều gì tốt đẹp trên cõi đời này nữa; và tội lỗi chỉ là một cái tên. Nào, hỡi ác quỷ; vì thế giới này đã được trao vào tay ngươi rồi.”
Và bị cơn tuyệt vọng làm cho phát điên, đến mức chàng bật cười ha hả thật lớn và kéo dài, Goodman Brown chộp lấy cây gậy của mình và lao đi một lần nữa, với tốc độ tựa như đang bay dọc theo lối mòn trong rừng hơn là đi hay chạy. Con đường càng lúc càng trở nên hoang dã, tiêu điều và mờ mịt hơn, rồi cuối cùng biến mất, để mặc chàng lại giữa trái tim của chốn rừng thiêng nước độc, vẫn lao đi bất chấp bản năng dẫn dắt con người phàm trần đến với tội ác. Cả khu rừng rộn lên những âm thanh rùng rợn — tiếng kẽo kẹt của cây cối, tiếng tru hú của thú dữ, và tiếng gào thét của thổ dân; trong khi đôi khi ngọn gió lại ngân lên như tiếng chuông nhà thờ từ đằng xa, và đôi khi gầm rú bao trùm lấy người lữ khách, như thể toàn bộ thiên nhiên đang cười nhạo chàng. Nhưng chính chàng mới là nỗi kinh hoàng lớn nhất của khung cảnh ấy, và chẳng hề nao núng trước những nỗi kinh hoàng khác xung quanh.
Khi ngọn gió cất tiếng cười nhạo chàng, Goodman Brown gào lên: “Ha! ha! ha!”
“Hãy xem đứa nào cười to hơn nào. Đừng hòng dọa ta bằng mớ tà thuật của tụi mày. Lại đây phù thủy, lại đây thầy bùa, lại đây thầy cúng da đỏ, lại đây cả quỷ vương, và Goodman Brown đây rồi. Tụi mày cứ sợ nó cũng được như nó sợ tụi mày ấy.”
Quả thực, khắp chốn rừng rợn ngập tràn bóng ma ấy chẳng có gì đáng sợ hơn hình bóng của Goodman Brown. Chàng lao đi giữa những rặng thông đen, vung vẩy cây gậy với những cử động điên cuồng, lúc thì thốt lên những lời báng bổ kinh hoàng, lúc thì cười lớn khiến mọi tiếng vọng trong rừng vang lên như tiếng cười của lũ quỷ sứ xung quanh. Ác ma trong hình hài của chính nó còn đỡ gớm ghiếc hơn khi nó hoành hành trong lồng ngực con người. Cứ thế, kẻ bị quỷ ám phóng đi trên con đường của mình, cho đến khi, lấp lánh giữa những thân cây, chàng nhìn thấy một ánh sáng đỏ rực phía trước, tựa như khi những khúc gỗ và cành cây đốn hạ ở một khoảng đất trống bị đốt cháy, hắt lên thứ ánh sáng đỏ quánh u ám bầu trời giữa lúc nửa đêm. Chàng khựng lại giữa lúc cơn bão đang đẩy mình tiến về phía trước tạm lắng xuống, và nghe thấy âm thanh của thứ tựa như một bài thánh ca, vang lên trang nghiêm từ đằng xa với sức nặng của vô số giọng điệu. Chàng nhận ra giai điệu ấy; đó là một khúc ca quen thuộc trong dàn hợp xướng của nhà thờ làng. Câu thơ chìm dần đi, và được kéo dài bởi một điệp khúc, không phải của giọng người, mà là của tất cả âm thanh từ khu rừng hoang vắng ban đêm hòa quyện với nhau trong một thứ âm hưởng kinh hoàng. Goodman Brown gào lên, và tiếng thét của chàng bị át đi, chính chàng cũng chẳng nghe thấy, bởi nó hòa làm một với tiếng gào thét của chốn hoang mạc.
Trong khoảnh khắc tĩnh lặng ngắn ngủi ấy, chàng lẩn trốn tiến lên phía trước cho đến khi ánh sáng hắt thẳng vào mắt. Tại một góc của bãi đất trống, bị bao bọc bởi bức tường rừng tối thẫm, mọc lên một tảng đá, có nét thô sơ tự nhiên trông giống như một chiếc bàn thờ hoặc một bục giảng kinh, được bao quanh bởi bốn cây thông đang bốc cháy rực rỡ, ngọn lửa ngùn ngụt trên đỉnh còn phần thân vẫn nguyên vẹn, trông như những cây nến trong một buổi lễ tối. Khối tán lá um tùm mọc trên đỉnh tảng đá đều bắt lửa, bùng cháy vút lên tận màn đêm và thắp sáng chập chờn toàn bộ khoảng sân. Từng chiếc lá buông lơ lửng và từng chuỗi vòng hoa lá đều chìm trong biển lửa. Khi ánh sáng đỏ rực dâng lên rồi hạ xuống, một hội chúng đông đảo lúc thì hiện rõ, lúc lại biến mất vào bóng tối, rồi lại trồi lên, tựa như mọc ra từ bóng đêm, lấp đầy trái tim của chốn rừng sâu u tịch trong chớp mắt.
Goodman Brown lẩm bẩm: “Một hội đoàn trang nghiêm và mặc đồ tối màu.”
Quả thực họ đúng là như vậy. Giữa họ, thấp thoáng lắc lư giữa chốn u ám và ánh hào quang, xuất hiện những khuôn mặt mà ngày mai sẽ lại ngồi họp tại hội đồng tỉnh lỵ, và những khuôn mặt khác, hết Sa-bát này đến Sa-bát khác, hướng ánh mắt sùng kính lên thiên đàng, đầy nhân hậu nhìn xuống các dãy ghế đông đúc từ những bục giảng thánh thiện nhất trong vùng. Một số người khẳng định phu nhân của ngài thống đốc cũng có mặt ở đó. Ít ra thì cũng có những vị mệnh phụ cao sang quen thuộc với bà, những người vợ của những đức lang quân khả kính, những góa phụ với số lượng đông đảo, và những trinh nữ lớn tuổi đều có tiếng tăm lừng lẫy, cùng những thiếu nữ xinh đẹp đang run rẩy sợ mẹ họ phát hiện ra. Hoặc là những luồng ánh sáng chớp nhoáng lóe lên khắp bãi đất tối tăm đã làm Goodman Brown chói mắt, hoặc là chàng đã nhận ra cả tá tín đồ nhà thờ ở làng Salem vốn nổi tiếng vì sự thánh thiện đặc biệt của họ. Lão Chấp sự Gookin đáng kính đã có mặt, đang chờ đợi ở rìa của vị thánh giả đáng kính ấy, chính là mục sư tôn kính của ông ta. Thế nhưng, đứng chung đụng một cách bất kính với những con người trang nghiêm, khả kính và đạo đức ấy, những vị bô lão của nhà thờ, những quý bà đoan trang và thiếu nữ thanh tân ấy, lại là những kẻ sống đời đồi trụy và những người phụ nữ tai tiếng, những kẻ khốn nạn đắm chìm trong mọi thói hư tật xấu thấp hèn và thậm chí bị nghi ngờ cả những tội ác ghê rợn. Thật kỳ lạ khi thấy những người tốt không hề né tránh kẻ xấu, và những kẻ tội đồ cũng chẳng hề cảm thấy hổ thẹn trước các vị thánh nhân. Rải rác giữa những kẻ thù mặt mày tái mét ấy còn có các thầy cúng da đỏ, những kẻ từng làm khuấy đảo khu rừng nguyên thủy của họ bằng những thứ tà chú gớm ghiếc hơn bất kỳ thứ phép phù thủy nào được biết đến ở xứ Anh.
Goodman Brown thầm nghĩ: “Nhưng Faith ở đâu?”; và khi niềm hy vọng nhen nhóm trong tim, chàng run rẩy.
Một đoạn thánh ca khác vang lên, một khúc điệu chậm rãi và ai oán, thứ mà những người đạo đức vẫn yêu thích, nhưng lại đi kèm với những lời ca diễn tả tất cả những gì mà bản chất chúng ta có thể tưởng tượng về tội lỗi, đồng thời ám chỉ một cách u ám về nhiều điều kinh khủng hơn thế. Tri thức của loài quỷ dữ là thứ phàm nhân không tài nào thấu hiểu nổi. Hết câu này đến câu khác được cất lên; và điệp khúc của chốn hoang mạc vẫn vang vọng ở giữa giống như âm trầm nhất của một cây đại phong cầm; và cùng với tiếng ngân vang cuối cùng của bản thánh ca khủng khiếp ấy là một âm thanh, tựa như tiếng gió gầm, tiếng dòng nước xiết, tiếng thú dữ tru hú, và mọi âm thanh khác của chốn hoang vu hỗn độn đang hòa quyện và đồng điệu với tiếng kêu của con người tội lỗi để bày tỏ lòng kính trọng đối với hoàng tử của muôn loài. Bốn cây thông đang cháy bùng bùng hắt lên ngọn lửa cao hơn, mờ ảo hé lộ những hình thù và gương mặt gớm ghiếc trên những vòng khói phía trên hội chúng báng bổ. Cùng lúc đó, ngọn lửa trên tảng đá lóe lên màu đỏ rực và tạo thành một vòm sáng rực rỡ bên trên phần chân đế, nơi giờ đây xuất hiện một bóng người. Xin được nói năng với sự kính trọng, hình bóng ấy có nét tương đồng không nhỏ, cả về trang phục lẫn phong thái, với một vị giáo sĩ trang nghiêm nào đó thuộc các nhà thờ ở New England.
Một giọng nói vang vọng khắp bãi đất trống và lan tận vào trong rừng: “Hãy đưa các tân tín hữu lên đây!”
Nghe lệnh, Goodman Brown bước ra từ bóng râm của những rặng cây và tiến lại gần hội chúng, cảm thấy một mối liên hệ huynh đệ đáng ghê tởm với họ thông qua sự đồng điệu của mọi thứ tội lỗi trong tim mình. Chàng suýt chút nữa đã dám thề rằng hình bóng người cha quá cố của mình đang vẫy gọi chàng tiến lên, cúi nhìn xuống từ một vòng khói mờ, trong khi một người phụ nữ với những đường nét tuyệt vọng mờ nhạt dang tay cảnh báo chàng lùi lại. Đó có phải là mẹ chàng không? Nhưng chàng chẳng còn chút sức lực nào để lùi lại một bước, hay phản kháng dù chỉ trong suy nghĩ, khi vị mục sư và lão Chấp sự Gookin đáng kính tóm lấy tay chàng và dẫn chàng đến tảng đá đang bốc cháy. Tiến đến đó còn có bóng dáng mảnh khảnh của một người phụ nữ đội khăn voan, được dẫn đi giữa Goody Cloyse, nữ giáo viên dạy giáo lý đạo đức ấy, và Martha Carrier, kẻ từng nhận lời hứa của ác quỷ để trở thành nữ hoàng địa ngục. Ả ta là một mụ mụ hung hãn. Và thế là các tân tín hữu đứng đó dưới tán lá lửa.
Gã mang hình bóng đen đúa cất tiếng: “Chào mừng các con đến với sự hiệp thông của giống loài mình. Các con đã sớm nhận ra bản chất và định mệnh của mình. Hỡi các con, hãy nhìn ra sau lưng các con kìa!”
Họ quay lại; và bừng sáng lên, tựa như trong một biển lửa, những kẻ thờ phượng ma quỷ hiện hình; nụ cười chào mừng lóe lên đầy u ám trên từng gương mặt.
Bóng đen tiếp tục cất lời: “Kia là tất cả những ai các con từng tôn kính từ thuở nhỏ. Các con từng cho rằng họ thanh cao hơn mình và né tránh tội lỗi của chính bản thân, đem nó ra so sánh với lối sống công chính và những lời cầu nguyện hướng về thiên đường của họ. Thế nhưng, tất cả bọn họ đều ở đây trong hội chúng thờ phượng của ta. Đêm nay, các con sẽ được ban ơn để biết được những hành động bí mật của họ: cách mà những vị bô lão râu tóc bạc phơ của nhà thờ đã thì thầm những lời lẳng lơ với các thiếu nữ trong nhà; cách mà biết bao người phụ nữ, nóng lòng khoác lên mình chiếc khăn tang của góa phụ, đã bỏ thuốc vào đồ uống trước khi đi ngủ của chồng và để anh ta chìm vào giấc ngủ ngàn thu trong vòng tay mình; cách mà những chàng trai trẻ chưa mọc râu đã vội vã thừa hưởng gia tài của cha mình; và cách mà những thiếu nữ xinh tươi—đừng đỏ mặt chứ, những cục cưng—đã đào những ngôi mộ nhỏ trong vườn và mời ta, vị khách duy nhất trong đám tang của một đứa trẻ sơ sinh. Bằng sự đồng cảm trong trái tim con người đối với tội lỗi, các con sẽ đánh hơi thấy tất cả mọi nơi—dù là trong nhà thờ, phòng ngủ, đường phố, cánh đồng hay trong rừng sâu—nơi tội ác từng được thực hiện, và sẽ vui sướng khi nhìn thấy toàn bộ trái đất này chỉ là một vết nhơ tội lỗi, một vệt máu khổng lồ. Hơn thế nữa rất nhiều. Các con sẽ được thấu suốt, trong lồng ngực của mọi người, bí ẩn sâu kín của tội lỗi, nguồn cội của mọi mưu mô tà ác, thứ cung cấp dồi dào những xung năng tội lỗi vượt quá cả sức mạnh con người—vượt quá cả sức mạnh tối đa của ta—có thể biến thành hành động. Và giờ đây, hỡi các con, hãy nhìn nhau đi.”
Họ làm theo; và dưới ánh lửa bập bùng của những ngọn đuốc do địa ngục thắp lên, kẻ khốn khổ nhìn thấy Faith của mình, và người vợ nhìn thấy chồng mình, đang run rẩy trước bàn thờ phi pháp ấy.
Gã cất giọng trầm và trang nghiêm, gần như đượm buồn với vẻ kinh hoàng tuyệt vọng, như thể bản chất từng là thiên thần của hắn vẫn còn có thể thương tiếc cho giống loài khốn khổ của chúng ta: “Kìa, các con đang đứng đó. Dựa dẫm vào trái tim của nhau, các con từng hy vọng rằng đức hạnh không hoàn toàn là một giấc mơ. Giờ thì các con đã tỉnh ngộ. Bản chất của nhân loại là tội ác. Tội ác phải là niềm hạnh phúc duy nhất của các con. Chào mừng các con một lần nữa đến với sự hiệp thông của giống loài mình.”
Những kẻ thờ phượng ma quỷ đồng thanh hô vang trong một tiếng kêu tuyệt vọng và đắc thắng: “Chào mừng!”
Và họ đứng đó, cặp đôi duy nhất, dường như là những kẻ vẫn còn đang chần chừ bên bờ vực của tội ác giữa thế giới đen tối này. Một chiếc chậu được khoét tự nhiên trên tảng đá. Nó chứa nước, bị nhuốm đỏ bởi ánh sáng u ám ư? Hay đó là máu? Hoặc có lẽ, là một ngọn lửa lỏng? Tại đây, hình hài của ác quỷ nhúng tay mình vào và chuẩn bị điểm dấu ấn báp-têm lên trán họ, để họ có thể trở thành những kẻ dự phần vào bí mật của tội lỗi, nhận thức rõ hơn về tội lỗi thầm kín của người khác, cả trong hành động lẫn suy nghĩ, so với những gì họ có thể nhận thức được về tội lỗi của chính mình lúc này. Người chồng liếc nhìn người vợ tái nhợt một cái, và Faith cũng nhìn chàng. Những kẻ khốn nạn ô uế nhường nào sẽ hiện ra trước mắt nhau trong cái liếc nhìn tiếp theo, khi cả hai cùng rùng mình trước những gì họ phơi bày và những gì họ nhìn thấy!
Người chồng thét lên: “Faith! Faith! Hãy ngước nhìn lên thiên đường và chống lại kẻ gian ác.”
Chàng không biết liệu Faith có vâng lời hay không. Vừa dứt lời, chàng thấy mình đang ở giữa màn đêm tĩnh lặng và cô độc, lắng nghe tiếng gió gầm đang lịm dần qua khu rừng. Chàng lảo đảo ngã vào tảng đá, cảm thấy nó lạnh ngắt và ẩm ướt; trong khi một cành cây thõng xuống từng bốc cháy ngùn ngụt lúc nãy nay đang vẩy lên má chàng những giọt sương lạnh buốt.
Sáng hôm sau, chàng thanh niên Goodman Brown chậm rãi bước vào con đường ở làng Salem, ngó nghiêng xung quanh như một kẻ ngẩn ngơ. Vị mục sư già nhân hậu đang đi dạo dọc theo nghĩa trang để lấy cảm giác thèm ăn cho bữa sáng và suy ngẫm về bài giảng của mình, liền ban phước lành cho Goodman Brown khi đi ngang qua. Chàng lùi lại tránh xa vị thánh nhân đáng kính như thể muốn né một lời nguyền rủa. Lão Chấp sự Gookin đang làm lễ gia tiên, và những lời cầu nguyện thánh thiện của ông ta vọng ra qua khung cửa sổ mở toang. Goodman Brown thốt lên: “Vị thần nào mà tên phù thủy này đang cầu nguyện thế?” Mụ Goody Cloyse, người đàn ông Thiên Chúa giáo già lão xuất sắc ấy, đang đứng sưởi nắng ban mai bên ô cửa sổ nhà mình, dạy giáo lý cho một cô bé vừa mang đến cho mụ một pint sữa tươi buổi sáng. Goodman Brown giật phắt đứa bé lại như thể thoát khỏi nanh vuốt của chính ác quỷ. Vừa rẽ qua góc đường cạnh nhà thờ, chàng bắt gặp cái đầu của Faith với dải ruy băng hồng, đang hồi hộp ngóng ra, và vỡ òa niềm vui khi nhìn thấy chàng đến mức nàng nhảy chân sừng sững dọc con đường và suýt thì ôm hôn chồng trước mặt cả làng. Nhưng Goodman Brown nhìn thẳng vào khuôn mặt nàng với vẻ mặt nghiêm nghị và buồn bã, rồi bước qua mà chẳng buồn chào một tiếng.
Phải chăng Goodman Brown đã ngủ quên trong rừng và chỉ mơ một giấc mơ hoang đường về một buổi họp mặt phù thủy?
Cứ cho là thế nếu bạn muốn; nhưng hỡi ôi! đó lại là một giấc mơ mang điềm gở đối với chàng thanh niên Goodman Brown. Kể từ đêm của giấc mơ đáng sợ ấy, chàng đã trở nên một con người cứng cỏi, u sầu, mang nặng nỗi u hoài, đa nghi và gần như tuyệt vọng. Vào ngày Sa-bát, khi giáo chúng đang cất vang một khúc thánh ca, chàng không thể lắng nghe nổi bởi vì một bản hợp xướng tội lỗi cứ vang ầm ỉ bên tai, át đi toàn bộ khúc ca thánh thiện ấy. Khi vị mục sư cất giọng từ bục giảng với sức mạnh và sự hùng biện đầy nhiệt huyết, đặt tay lên cuốn Kinh Thánh mở rộng để nói về những sự thật thiêng liêng trong tôn giáo của chúng ta, về những cuộc đời tựa thánh nhân, những cái chết khải hoàn, và về niềm hạnh phúc tương lai hay nỗi thống khổ khôn tả, thì Goodman Brown lại tái mặt, nợn nạt sợ hãi rằng mái vòm nhà thờ sẽ đổ sập xuống đầu gã kẻ báng bổ tóc bạc cùng với các thính giả của hắn. Thường thì, khi giật mình tỉnh giấc vào giữa đêm khuya, chàng lại né tránh vòng tay của Faith; còn vào buổi sáng hay chiều tối, khi cả nhà quỳ xuống cầu nguyện, chàng lại cau mày lẩm bẩm một mình, trừng mắt nhìn vợ rồi quay mặt đi. Và khi đã sống qua một đời dài, được khiêng đến huyệt mộ trong hình hài một cỗ quan tài tóc bạc phơ, theo sau là Faith, một bà lão già nua, cùng con cháu đề huề, một đoàn đưa tang thị cợt, bên cạnh không ít hàng xóm láng giềng, người ta đã chẳng khắc nổi một câu thơ mang niềm hy vọng nào lên tấm bia mộ của chàng, bởi vì giờ phút lâm chung của chàng ngập tràn bóng tối.