Rừng Rậm

Lượt đọc: 67 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chapter X

❊ ❊ ❊

Vào đầu mùa đông, gia đình họ còn đủ tiền chi tiêu và dư chút ít để trả nợ; thế nhưng khi thu nhập của Jurgis giảm từ chín mười đô-la một tuần xuống còn năm sáu đô-la, họ không còn gì để dành dụm nữa. Mùa đông qua, xuân lại đến, họ vẫn cứ sống cảnh giật gấu vá vai, ngày qua ngày chật vật với miếng ăn, chỉ cần thiếu một tháng lương là cả nhà lâm vào cảnh chết đói. Marija tuyệt vọng, vì vẫn chẳng có tin tức gì về việc xưởng đồ hộp hoạt động trở lại, mà tiền tiết kiệm của cô thì gần như cạn kiệt. Cô buộc phải từ bỏ mọi ý định kết hôn; gia đình không thể xoay xở nếu thiếu cô – mặc dù thực tế là cô cũng sắp trở thành gánh nặng cho họ, vì khi hết tiền, họ sẽ phải hoàn lại số tiền cô đã đóng góp cho tiền ăn. Vậy nên, Jurgis, Ona và Teta Elzbieta thường ngồi bàn bạc lo âu đến tận đêm khuya, cố gắng tính toán xem làm sao để vượt qua tình cảnh này mà không phải nhịn đói.

Cuộc sống của họ phải chịu những điều kiện khắc nghiệt đến mức họ chẳng bao giờ có được, hay dám mong chờ, một giây phút nghỉ ngơi khỏi những lo âu, một khoảnh khắc nào đó không bị ám ảnh bởi tiền bạc. Vừa thoát khỏi rắc rối này như một phép màu, thì một khó khăn khác lại ập đến. Bên cạnh những gian khổ thể xác, họ còn phải gánh chịu áp lực tinh thần liên miên; họ bị sự lo âu và sợ hãi hành hạ cả ngày lẫn đêm. Thực sự, đây đâu phải là sống; chỉ gọi là tồn tại thôi cũng đã là quá miễn cưỡng, và họ cảm thấy cái giá phải trả quá đắt cho cuộc sống này. Họ sẵn sàng làm việc không ngơi nghỉ; và liệu khi con người đã nỗ lực hết sức, chẳng lẽ họ không đáng được sống sao?

Những thứ cần mua và những tình huống bất ngờ dường như chẳng bao giờ dứt. Một lần, đường ống nước bị đóng băng và vỡ toác; và vì thiếu hiểu biết, khi họ cố làm tan băng, cả căn nhà ngập lụt kinh hoàng. Chuyện xảy ra khi đàn ông đi vắng, và bà Elzbieta tội nghiệp chạy ra đường kêu cứu, vì bà thậm chí không biết liệu có ngăn được dòng nước hay nhà họ đã tiêu tùng rồi. Cuối cùng, kết quả cũng chẳng khá hơn là bao, vì gã thợ sửa ống nước tính phí bảy mươi lăm xu một giờ, rồi tính thêm bảy mươi lăm xu nữa cho một gã thợ khác chỉ đứng xem, chưa kể thời gian đi lại của cả hai và đủ thứ phí vật liệu, phụ phí linh tinh. Rồi lại đến lúc đóng tiền trả góp tháng Một cho ngôi nhà, gã đại lý làm họ khiếp vía khi hỏi xem họ đã lo chuyện bảo hiểm chưa. Trả lời cho thắc mắc của họ, gã chỉ vào một điều khoản trong hợp đồng quy định rằng họ phải duy trì bảo hiểm căn nhà trị giá một ngàn đô-la ngay khi chính sách hiện tại hết hạn, vốn sẽ diễn ra trong vài ngày nữa. Bà Elzbieta tội nghiệp, người lại phải hứng chịu đòn giáng này, hỏi xem hết bao nhiêu tiền. Gã bảo bảy đô-la; và tối đó Jurgis trở về, mặt mày đanh lại đầy quyết tâm, yêu cầu gã đại lý phải tử tế mà thông báo cho ông biết một lần cho tất cả về mọi khoản chi phí họ phải chịu. Hợp đồng đã ký rồi, ông nói, với vẻ mỉa mai đúng điệu của lối sống mới mà ông đã học được – hợp đồng đã ký rồi, nên gã đại lý chẳng còn lý do gì để giấu giếm nữa. Và Jurgis nhìn thẳng vào mắt gã, khiến gã không dám tốn thời gian chống chế văn vở, mà đọc thẳng các điều khoản cho ông nghe. Họ sẽ phải gia hạn bảo hiểm hàng năm; họ sẽ phải đóng thuế, khoảng mười đô-la một năm; họ sẽ phải đóng thuế nước, khoảng sáu đô-la một năm – (Jurgis lặng lẽ quyết định sẽ khóa vòi nước lại). Chỉ bấy nhiêu thôi, ngoài tiền lãi và tiền trả góp hàng tháng – trừ khi thành phố tình cờ quyết định lắp hệ thống thoát nước hoặc làm vỉa hè. Đúng vậy, gã đại lý nói, họ sẽ phải chịu những khoản đó, dù muốn hay không, nếu thành phố yêu cầu. Hệ thống thoát nước sẽ tốn khoảng hai mươi hai đô-la, còn vỉa hè là mười lăm đô-la nếu lát gỗ, hai mươi lăm đô-la nếu là xi măng.

Jurgis lủi thủi về nhà; dù sao thì biết trước tình huống xấu nhất cũng là một sự nhẹ nhõm, để ông không còn bị bất ngờ bởi những đòi hỏi mới nữa. Giờ thì ông đã thấy họ bị bòn rút ra sao; nhưng đã lỡ bước rồi thì không còn đường quay đầu. Họ chỉ còn cách tiếp tục chiến đấu và giành chiến thắng – bởi thất bại là điều không thể nghĩ đến.

Khi mùa xuân đến, họ thoát khỏi cái lạnh kinh hoàng, đó đã là một điều tốt; nhưng đổi lại, họ cũng đã trông chờ vào số tiền không phải chi cho than củi – và đúng lúc này, tiền ăn của Marija bắt đầu thiếu hụt. Rồi thời tiết ấm áp cũng mang đến những thử thách riêng; mỗi mùa đều có những nỗi khổ của nó, như họ đã nhận ra. Mùa xuân có những trận mưa lạnh làm đường sá biến thành kênh rạch và bùn lầy; bùn sâu đến nỗi xe cộ có thể lún tới tận trục bánh, khiến cả nửa tá ngựa cũng không kéo nổi. Đương nhiên, không ai có thể đi làm mà giữ được chân khô ráo; điều này tồi tệ với những người ăn mặc và đi giày dép xoàng xĩnh, và còn tệ hơn với phụ nữ và trẻ em. Sau đó là giữa mùa hè, với cái nóng oi bức, khi những khu giết mổ tồi tàn của Durham trở thành một địa ngục thực sự; có lần, chỉ trong một ngày, ba người đàn ông chết gục vì say nắng. Dòng máu nóng tuôn chảy suốt cả ngày, cho đến khi mặt trời hun nóng, không khí đứng yên, mùi hôi thối nồng nặc đến mức có thể quật ngã một người đàn ông; tất cả những mùi cũ kỹ tích tụ cả thế hệ bị cái nóng này rút ra – vì tường, kèo, cột chẳng bao giờ được cọ rửa, chúng bám đầy những thứ bẩn thỉu của cả đời người. Những người làm trong khu giết mổ người nồng nặc mùi hôi thối, đến mức đứng cách năm mươi bước chân vẫn ngửi thấy; đơn giản là không cách nào giữ mình sạch sẽ, người cẩn thận nhất cuối cùng cũng bỏ cuộc và chìm trong sự nhơ nhớp. Chẳng có lấy một nơi để rửa tay, và vào bữa trưa, họ ăn thức ăn lẫn cả máu tươi. Khi đang làm việc, họ thậm chí không thể lau mặt – họ bất lực như những đứa trẻ mới sinh trong chuyện đó; nghe có vẻ là chuyện nhỏ, nhưng khi mồ hôi chảy xuống cổ khiến họ ngứa ngáy, hay một con ruồi quấy rầy, thì đó là nỗi tra tấn như bị thiêu sống. Chẳng biết là tại lò mổ hay bãi rác, nhưng cùng với thời tiết nóng bức, Packingtown tràn ngập một bệnh dịch ruồi muỗi đúng kiểu Ai Cập; không từ ngữ nào tả xiết – nhà cửa đen đặc vì chúng. Không cách nào thoát được; bạn có thể lắp lưới chắn ở tất cả cửa ra vào và cửa sổ, nhưng tiếng vo ve bên ngoài vẫn như đàn ong vỡ tổ, và mỗi khi mở cửa, chúng ùa vào như thể bị một cơn bão cuốn theo.

Có lẽ mùa hè gợi cho bạn nghĩ về đồng quê, những cánh đồng xanh, núi non và hồ nước trong vắt. Nhưng nó chẳng gợi lên điều gì như vậy với những người trong khu nhà xưởng. Cỗ máy đóng gói khổng lồ vẫn nghiền nát mọi thứ không thương tiếc, chẳng màng đến cánh đồng xanh; và những người đàn ông, phụ nữ, trẻ em là một phần của nó chẳng bao giờ được thấy bất cứ thứ gì xanh tươi, dù là một bông hoa. Cách đó bốn, năm dặm về phía đông là làn nước xanh biếc của hồ Michigan; nhưng nó chẳng giúp ích gì cho họ, xa xôi như thể Thái Bình Dương vậy. Họ chỉ có ngày Chủ nhật, và lúc đó thì họ đã quá mệt mỏi để mà đi dạo. Họ bị trói buộc vào cỗ máy đóng gói vĩ đại, trói buộc vào đó cả đời. Những nhà quản lý, giám đốc và thư ký ở Packingtown đều được tuyển dụng từ tầng lớp khác, chẳng bao giờ từ đám công nhân; họ khinh miệt công nhân, kể cả những người thấp kém nhất. Một gã kế toán tội nghiệp làm việc cho Durham hai mươi năm với mức lương sáu đô-la một tuần, và có thể làm thêm hai mươi năm nữa cũng chẳng khá hơn, vẫn coi mình là tầng lớp quý phái, khác xa một trời một vực với người thợ lành nghề nhất trong khu giết mổ; gã ăn mặc khác biệt, sống ở khu khác trong thị trấn, đi làm giờ khác, và tìm mọi cách để chắc chắn rằng mình không bao giờ phải chạm mặt những người lao động chân tay. Có lẽ điều này do tính chất ghê tởm của công việc; dù sao đi nữa, những người lao động tay chân là một tầng lớp riêng biệt, và họ bị bắt phải cảm nhận rõ điều đó.

Cuối mùa xuân, xưởng đồ hộp hoạt động trở lại, và nhờ thế, người ta lại nghe thấy Marija hát, và những giai điệu tình yêu của Tamoszius cũng bớt u sầu hơn. Tuy nhiên, chẳng được bao lâu; một hoặc hai tháng sau, tai họa khủng khiếp ập xuống đầu Marija. Chỉ đúng một năm và ba ngày sau khi bắt đầu công việc sơn hộp, cô bị mất việc.

Đó là một câu chuyện dài. Marija khăng khăng rằng đó là do cô tích cực hoạt động trong nghiệp đoàn. Đương nhiên, các chủ lò mổ có mật thám trong mọi nghiệp đoàn, chưa kể họ còn có thói quen mua chuộc một số quan chức nghiệp đoàn, nhiều như họ thấy cần. Thế nên mỗi tuần họ đều nhận được báo cáo về mọi việc đang diễn ra, và thường thì họ biết trước cả các thành viên nghiệp đoàn. Bất cứ ai bị coi là nguy hiểm sẽ thấy mình không được ông chủ ưa thích; và Marija rất hay đi tìm những người ngoại quốc để thuyết giáo cho họ. Dù thế nào đi nữa, sự thật là vài tuần trước khi xưởng đóng cửa, Marija đã bị gian lận mất tiền lương của ba trăm chiếc hộp. Các cô gái làm việc tại một cái bàn dài, và phía sau họ là một người phụ nữ cầm bút và sổ ghi chép, đếm số lượng họ hoàn thành. Người phụ nữ này, tất nhiên, cũng chỉ là con người, đôi khi mắc sai lầm; khi điều đó xảy ra, chẳng có cách nào đòi lại được – nếu đến thứ Bảy bạn nhận ít tiền hơn số mình làm ra, bạn đành phải chịu. Nhưng Marija không hiểu điều này và làm ầm lên. Những vụ làm ầm ĩ của Marija chẳng có nghĩa lý gì, và hồi cô chỉ biết tiếng Lithuania và tiếng Ba Lan, chúng chẳng gây hại gì, vì người ta chỉ cười nhạo khiến cô bật khóc. Nhưng giờ Marija đã biết chửi thề bằng tiếng Anh, nên cô khiến người phụ nữ tính nhầm đó ghét mình. Có lẽ, như Marija quả quyết, sau đó bà ta cố tình tính sai; dù sao thì bà ta cũng đã làm vậy, và lần thứ ba chuyện đó xảy ra, Marija nổi cơn tam bành, trước tiên mang chuyện đến gặp quản đốc, và khi không được giải quyết thỏa đáng ở đó, cô tìm đến giám đốc. Đây là sự xấc xược chưa từng có, nhưng giám đốc nói ông ta sẽ xem xét, điều mà Marija hiểu là cô sẽ lấy lại được tiền; sau ba ngày chờ đợi, cô lại đi gặp giám đốc. Lần này ông ta nhíu mày, nói rằng ông ta chưa có thời gian giải quyết; và khi Marija, bất chấp lời khuyên và cảnh báo của mọi người, lại cố thêm lần nữa, ông ta tức giận ra lệnh cho cô quay lại làm việc. Marija không chắc chuyện đã diễn ra thế nào sau đó, nhưng chiều hôm đó, nữ quản đốc bảo cô rằng không cần đến sự phục vụ của cô nữa. Marija tội nghiệp không thể nào ngỡ ngàng hơn nếu bị bà ta đập vào đầu; ban đầu cô không thể tin vào tai mình, rồi cô nổi điên và thề rằng cô vẫn sẽ đến, rằng chỗ của cô là ở đó. Cuối cùng, cô ngồi bệt xuống giữa sàn mà khóc lóc thảm thiết.

Đó là một bài học tàn nhẫn; nhưng Marija vốn bướng bỉnh – lẽ ra cô nên nghe lời những người có kinh nghiệm. Lần tới cô sẽ biết thân biết phận, như lời nữ quản đốc nói; và thế là Marija rời đi, gia đình lại phải đối mặt với bài toán sinh tồn.

Lần này đặc biệt khó khăn, vì Ona sắp đến ngày sinh nở, và Jurgis đang cố gắng hết sức để dành dụm tiền cho việc này. Ông đã nghe những câu chuyện kinh hoàng về các bà đỡ, những kẻ nhung nhúc như rận ở Packingtown; và ông đã quyết định Ona phải có bác sĩ nam. Jurgis có thể rất ngoan cố khi ông muốn, và trường hợp này cũng vậy, khiến cánh phụ nữ hoảng sợ, họ cho rằng bác sĩ nam là không đứng đắn, và chuyện này thực sự thuộc về phụ nữ. Vị bác sĩ rẻ nhất họ có thể tìm được cũng lấy phí mười lăm đô-la, và có thể còn hơn khi hóa đơn thanh toán; và đây, Jurgis tuyên bố ông sẽ trả, dù có phải nhịn ăn đi chăng nữa!

Marija chỉ còn khoảng hai mươi lăm đô-la. Ngày qua ngày, cô lang thang khắp các xưởng tìm việc, nhưng lần này chẳng còn hy vọng gì. Marija có thể làm công việc của một người đàn ông khỏe mạnh khi cô vui vẻ, nhưng sự chán nản khiến cô mau kiệt sức, và cô trở về nhà vào buổi tối như một sinh vật đáng thương. Lần này cô đã học được bài học, sinh vật tội nghiệp ạ; cô học đi học lại cả chục lần. Cả gia đình cũng học cùng cô – rằng một khi đã có việc ở Packingtown, hãy giữ lấy nó, bất kể chuyện gì xảy ra.

Bốn tuần Marija đi tìm việc, và thêm nửa tuần thứ năm. Tất nhiên, cô ngừng đóng hội phí nghiệp đoàn. Cô mất hết hứng thú với nghiệp đoàn và tự rủa mình ngu ngốc vì đã bị lôi kéo vào đó. Cô gần như đã chấp nhận rằng mình là một linh hồn lạc lối, thì có người báo cho cô một chỗ trống, và cô đi làm “người lọc thịt bò”. Cô nhận được việc này vì ông chủ thấy cô có cơ bắp của đàn ông, nên ông ta sa thải một người đàn ông và đưa Marija vào làm việc của anh ta, trả cho cô chỉ hơn nửa số tiền ông ta đã trả cho người trước.

Khi mới đến Packingtown, Marija sẽ khinh bỉ công việc kiểu này. Cô đang ở một xưởng đồ hộp khác, và công việc của cô là lọc thịt từ những con gia súc bị bệnh mà Jurgis đã được nghe kể không lâu trước đó. Cô bị nhốt trong một trong những căn phòng mà mọi người hiếm khi nhìn thấy ánh sáng ban ngày; bên dưới cô là các phòng làm lạnh, nơi thịt được đông đá, và bên trên là các phòng nấu nướng; và thế là cô đứng trên sàn lạnh buốt, trong khi đầu thì nóng đến mức gần như không thở nổi. Lọc thịt bò ra khỏi xương theo từng tạ một, đứng từ sáng sớm đến tận đêm khuya, với đôi ủng nặng nề và sàn nhà luôn ẩm ướt đầy vũng nước, có thể bị đuổi việc bất cứ lúc nào vì buôn bán ế ẩm, lại có thể bị bắt làm thêm giờ vào mùa cao điểm, làm đến mức thần kinh cô run rẩy, tuột mất con dao nhớp nháp trên tay, và tự gây ra một vết thương nhiễm độc – đó là cuộc đời mới mở ra trước mắt Marija. Nhưng vì Marija là một con ngựa con người, cô chỉ cười và bắt tay vào làm; nó sẽ giúp cô trả tiền ăn trở lại, và duy trì gia đình. Còn về Tamoszius – chà, họ đã đợi quá lâu rồi, và họ có thể đợi thêm chút nữa. Họ không thể xoay xở chỉ với tiền lương của anh, và gia đình không thể sống thiếu tiền của cô. Anh có thể đến thăm cô, ngồi trong bếp nắm tay cô, và anh phải học cách bằng lòng với điều đó. Nhưng ngày qua ngày, tiếng vĩ cầm của Tamoszius càng trở nên nồng cháy và đau lòng hơn; và Marija ngồi đó, hai tay đan vào nhau, má đẫm lệ và cả thân mình run rẩy, nghe trong những giai điệu than van ấy tiếng nói của những thế hệ chưa ra đời đang gào thét trong cô đòi quyền sống.

Bài học của Marija đến đúng lúc để cứu Ona khỏi một số phận tương tự. Ona cũng không hài lòng với chỗ làm của mình, và cô có lý do còn chính đáng hơn Marija. Cô không kể một nửa câu chuyện ở nhà, vì cô thấy điều đó là sự tra tấn đối với Jurgis, và cô sợ những gì ông có thể làm. Đã từ lâu, Ona thấy rằng cô Henderson, nữ quản đốc ở bộ phận của cô, không thích mình. Lúc đầu cô nghĩ đó là sai lầm cũ khi xin nghỉ phép để kết hôn. Sau đó cô kết luận chắc là vì cô không chịu tặng quà cho nữ quản đốc – cô biết bà ta là kiểu người nhận quà từ các cô gái, và thiên vị mọi kiểu cho những ai chịu quà cáp. Tuy nhiên, cuối cùng, Ona phát hiện ra mọi chuyện còn tệ hơn thế. Cô Henderson là người mới đến, và phải mất một thời gian lời đồn thổi mới vạch trần được bà ta; nhưng cuối cùng thì lộ ra rằng bà ta là một nhân tình được bao nuôi, cựu tình nhân của giám đốc một bộ phận trong cùng tòa nhà. Có vẻ như ông ta đã đặt bà ta ở đó để giữ cho bà ta im lặng – và việc đó cũng không hoàn toàn thành công, vì đôi ba lần người ta nghe thấy họ cãi vã. Bà ta có tính khí như con linh cẩu, và chẳng bao lâu nơi bà ta quản lý trở thành cái vạc của phù thủy. Có vài cô gái cùng hội cùng thuyền với bà ta, sẵn sàng nịnh hót; và những kẻ này chuyên đi mách lẻo về những người còn lại, thế là lũ quỷ dữ được xổng chuồng ở đó. Tồi tệ hơn, người phụ nữ này sống trong một nhà chứa ở trung tâm thành phố, với một gã Ireland mặt đỏ gay gắt tên là Connor, gã là chủ của nhóm bốc xếp bên ngoài, và hay sàm sỡ các cô gái khi họ đi làm về. Vào những mùa ế ẩm, một vài người trong số họ sẽ đến nhà chứa này với cô Henderson – thực ra, không quá lời khi nói rằng bà ta quản lý bộ phận của mình tại Brown’s kết hợp với cái nhà đó. Đôi khi những người phụ nữ từ nhà chứa đó được đưa vào làm việc cạnh những cô gái đứng đắn, sau khi những cô gái đứng đắn khác bị đuổi việc để lấy chỗ cho họ. Khi bạn làm việc trong bộ phận của người phụ nữ này, cái nhà ở trung tâm thành phố không bao giờ rời khỏi tâm trí bạn suốt cả ngày – luôn có những luồng hơi hám của nó, như mùi của các nhà máy xử lý chất thải ở Packingtown vào ban đêm khi gió đổi chiều đột ngột. Sẽ có những câu chuyện về nó lan truyền; những cô gái đối diện bạn sẽ kể và nháy mắt với bạn. Ở một nơi như vậy, Ona đã chẳng ở lại nổi một ngày nếu không vì cái đói; và thực tế là cô chẳng bao giờ chắc mình có thể trụ lại đến ngày hôm sau hay không. Giờ cô hiểu rằng lý do thực sự khiến cô Henderson ghét mình là vì cô là một phụ nữ đã kết hôn đàng hoàng; và cô biết những kẻ mách lẻo và nịnh hót cũng ghét cô vì lý do tương tự, và đang cố hết sức để làm cuộc sống của cô trở nên khốn khổ.

Nhưng chẳng có nơi nào một cô gái có thể đến ở Packingtown, nếu cô là người kỹ tính về những chuyện như thế này; chẳng có nơi nào mà một gái mại dâm không sống tốt hơn một cô gái đàng hoàng. Đây là một đám dân cư tầng lớp thấp và đa phần là ngoại quốc, lúc nào cũng treo mình bên bờ vực chết đói, và phụ thuộc vào cơ hội sống nhờ vào ý thích của những gã đàn ông tàn bạo và vô đạo đức không kém gì những kẻ chủ nô thời xưa; trong hoàn cảnh đó, sự suy đồi đạo đức là điều tất yếu và phổ biến, y như dưới chế độ nô lệ vậy. Những chuyện không thể nói ra cứ diễn ra ở đó trong các nhà máy đóng gói suốt ngày, và được mọi người coi là chuyện đương nhiên; chỉ có điều chúng không lộ liễu như thời nô lệ cũ, vì chẳng có sự khác biệt về màu da giữa chủ và nô lệ.

Một buổi sáng Ona ở nhà, và Jurgis mời bác sĩ nam đến, đúng theo ý thích của ông, và cô đã sinh hạ an toàn một đứa bé kháu khỉnh. Đó là một bé trai to lớn, và bản thân Ona lại là một sinh vật bé nhỏ, nên điều đó thật khó tin. Jurgis đứng ngắm nhìn người lạ mặt hàng giờ liền, không thể tin rằng nó đã thực sự xảy ra.

Sự xuất hiện của cậu bé là một sự kiện mang tính quyết định đối với Jurgis. Nó biến ông hoàn toàn thành một người đàn ông của gia đình; nó dập tắt tia hy vọng cuối cùng mà ông có thể có về việc đi chơi buổi tối, ngồi tán gẫu với mấy gã đàn ông ở quán rượu. Giờ đây chẳng có gì ông quan tâm hơn là ngồi ngắm đứa bé. Điều này thật lạ lùng, vì Jurgis chưa bao giờ quan tâm đến trẻ con trước đây. Nhưng dù sao, đây là một đứa bé rất khác thường. Nó có đôi mắt đen láy sáng nhất, và những lọn tóc đen nhỏ xíu khắp đầu; ai cũng bảo nó là hình ảnh sống động của cha nó – và Jurgis thấy đây là một tình tiết đầy mê hoặc. Thật khó hiểu khi một mẩu đời nhỏ xíu này lại chào đời theo cách mà nó đã đến; rằng nó lại xuất hiện với cái mũi giống cha nó một cách nực cười, điều đó thật kỳ quái.

Có lẽ, Jurgis nghĩ, điều này nhằm ám chỉ rằng đó là con của ông; rằng đó là con của ông và Ona, để chăm sóc suốt đời. Jurgis chưa bao giờ sở hữu thứ gì thú vị đến thế – một đứa bé, khi bạn suy ngẫm về nó, quả thực là một tài sản tuyệt vời. Nó sẽ lớn lên thành một người đàn ông, một linh hồn con người, với cá tính riêng, ý chí riêng! Những suy nghĩ như vậy cứ ám ảnh Jurgis, lấp đầy ông với đủ loại cảm xúc lạ lẫm và gần như đau đớn. Ông vô cùng tự hào về bé Antanas; ông tò mò về mọi chi tiết của nó – việc tắm rửa, thay tã, ăn uống và ngủ nghỉ của nó, và đặt đủ thứ câu hỏi ngớ ngẩn. Phải mất một lúc lâu ông mới hết ngạc nhiên trước đôi chân ngắn đến khó tin của sinh vật nhỏ bé này.

Than ôi, Jurgis có rất ít thời gian để nhìn con; ông chưa bao giờ cảm thấy những xiềng xích vây quanh mình rõ ràng hơn lúc này. Khi ông đi làm về buổi tối, đứa bé đã ngủ, và chỉ là điều may mắn nhất nếu nó thức giấc trước khi chính Jurgis phải đi ngủ. Rồi buổi sáng lại chẳng có thời gian ngắm nó, nên thực sự cơ hội duy nhất người cha có là vào Chủ nhật. Điều này còn tàn nhẫn hơn đối với Ona, người lẽ ra nên ở nhà nuôi con, bác sĩ nói vậy, vì sức khỏe của cô lẫn đứa bé; nhưng Ona phải đi làm, và để con lại cho Teta Elzbieta cho ăn thứ chất lỏng màu xanh nhạt gọi là sữa ở cửa hàng tạp hóa góc phố. Việc Ona sinh con chỉ khiến cô mất một tuần lương – cô sẽ đi làm trở lại vào thứ Hai tuần thứ hai, và điều tốt nhất Jurgis có thể thuyết phục được cô là cô đi xe điện, còn ông chạy theo sau và đỡ cô đến Brown’s khi cô xuống xe. Sau đó thì sẽ ổn cả thôi, Ona nói, ngồi yên khâu thịt giăm bông cả ngày đâu có gì mệt nhọc; và nếu cô đợi lâu hơn, cô có thể thấy nữ quản đốc đáng sợ của mình đã đưa người khác vào thay chỗ. Đó sẽ là tai họa lớn hơn bao giờ hết lúc này, Ona tiếp tục, vì đứa bé. Họ sẽ phải làm việc chăm chỉ hơn bây giờ vì nó. Đó là một trách nhiệm lớn lao – họ không được để đứa bé lớn lên phải chịu khổ như họ. Và đây quả thực là điều đầu tiên Jurgis tự nghĩ tới – ông nắm chặt tay và gồng mình lên cho cuộc đấu tranh mới, vì sinh linh bé nhỏ đầy tiềm năng con người đó.

Và thế là Ona quay lại Brown’s, giữ được chỗ làm và một tuần lương; và thế là cô tự chuốc lấy một trong hàng ngàn căn bệnh mà phụ nữ gom chung dưới cái tên “bệnh phụ khoa”, và không bao giờ còn là một người khỏe mạnh nữa chừng nào cô còn sống. Thật khó để diễn tả bằng lời tất cả những điều này có nghĩa thế nào đối với Ona; nó dường như là một tổn thương nhẹ, mà sự trừng phạt lại quá không cân xứng, đến mức cả cô và bất cứ ai khác đều không bao giờ liên kết hai điều đó với nhau. “Bệnh phụ khoa” đối với Ona không có nghĩa là chẩn đoán của chuyên gia, một liệu trình điều trị, và có thể là một hay hai cuộc phẫu thuật; nó chỉ đơn giản có nghĩa là những cơn đau đầu, đau lưng, trầm cảm, đau khổ, và chứng đau dây thần kinh khi cô phải đi làm dưới mưa. Phần lớn phụ nữ làm việc ở Packingtown đều chịu cảnh tương tự, và từ cùng một nguyên nhân, nên chẳng ai coi đó là chuyện cần phải gặp bác sĩ; thay vào đó, Ona sẽ thử các loại thuốc gia truyền, hết loại này đến loại khác, khi bạn bè mách cho. Vì tất cả chúng đều chứa cồn, hoặc một loại chất kích thích nào đó, cô thấy chúng đều có tác dụng tốt trong khi cô uống; và thế là cô cứ mãi đuổi theo bóng ma của sức khỏe, và đánh mất nó vì quá nghèo để tiếp tục.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.