Sắc Màu Vũ Trụ

Lượt đọc: 8 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Tám

❊ ❊ ❊

Hôm sau, khi họ làm thủ tục chuẩn bị cất cánh, anh lại nhìn thấy cô gái. Cô ngồi tại một chiếc bàn nhỏ, có hình tam giác giống như phần lớn đồ đạc của người Lhari, vừa bước ra từ phòng Khử trùng là cô kiểm tra sổ sách, đảm bảo rằng họ đã uống hết thứ dung dịch vi sinh vật có màu xanh lá cây.

"Xin cho xem giấy tờ?" Cô đánh dấu, và Bart nhận thấy cô đang dùng một chiếc bút chì màu đỏ.

"Bartol," cô đọc lên thành tiếng. "Anh phát âm tên mình thế nào ấy nhỉ?" Cô dùng bút chì đỏ nguệch ngoạc mấy nét ngắn theo kiểu tốc ký, rồi lại dùng bút chì đen đánh dấu thêm vài ký hiệu theo kiểu Lhari; anh đoán những nét màu đỏ là ghi chú riêng của cô, thứ mà người Lhari không thể đọc được.

"Người tiếp theo, xin mời." Cô trao một cốc dung dịch xanh ngắt cho Ringg đang đứng sau anh. Bart bước về phía phòng điều khiển động cơ, và thật ngạc nhiên, anh lại ước gì cô gái ấy làm nghề toán học thay vì làm y tế. Ngồi dưới đó mà ngắm nhìn cô thì thật thú vị biết bao.

Lão Rugel, đang trực trong phòng điều khiển động cơ, quan sát Bart tự thắt dây đai trước máy tính. "Hãy chắc chắn là anh đã kiểm tra tất cả các mặt số về mức không," lão nhắc nhở, và Bart cảm thấy một cơn hoảng loạn cuối cùng dâng lên.

Đây là chuyến hải trình đầu tiên của anh, nếu không tính những lần tập chạy ở Học viện! Thế nhưng cấp bậc của anh lại gọi anh là một tay lão luyện trên tuyến đường Polaris. Anh đã được xem băng huấn luyện của người Lhari, thứ được cho là sẽ điều kiện hóa phản ứng của anh, nhưng liệu nó có tác dụng không? Anh cố siết chặt nắm đấm, cắm cả móng tay vào lòng bàn tay, nhăn mặt, rồi tự ra lệnh cho bản thân phải bình tĩnh và giữ tâm trí tập trung vào việc mình đang làm.

Việc thực hiện kiểm tra định kỳ các mặt số đã giúp anh bình tĩnh lại.

"Kiểm tra dây đai," một tên Lhari có chiếc mào ngả vàng cùng giọng nói khàn khàn lên tiếng. "Lính mới à?" Hắn giật giật qua quýt dây đai ở vai và eo của Bart, rồi siết chặt một chiếc khóa. "Karol con trai của Garin."

Những tiếng chuông vang lên trong con tàu, và Bart cảm thấy cái chạm kỳ lạ, đầy kích thích của sự sợ hãi. Thế là bắt đầu.

Vorongil sải bước qua cửa, chiếc áo choàng viền hoa văn quét theo sau, và chiếm lấy ghế điều khiển.

"Đã sẵn sàng từ phòng nhiên liệu, thưa ngài."

"Vị trí," Vorongil gằn giọng.

Bart nghe thấy chính mình đang đọc một loạt con số bằng tiếng Lhari. Giọng anh nghe hoàn toàn bình tĩnh.

"Thông tin liên lạc."

"Đã thông mạch từ Đài Điều phối Pylon, thưa ngài." Đó là giọng của lão Rugel.

"Được rồi," Vorongil nói, chậm rãi và gần như trầm ngâm, "vậy chúng ta cất cánh thôi."

Hắn chạm vào một số nút điều khiển. Tiếng vo ve lớn dần. Rồi, nhanh chóng, mạnh mẽ và ngộp thở, trọng lực nghiền nát Bart vào chiếc ghế.

"Vị trí!" Giọng Vorongil vang lên gay gắt, và Bart phải chống chọi lại sức nặng khủng khiếp của nó. Ngay cả nhãn cầu của anh cũng buốt nhức khi anh chật vật đảo những cơ mắt nhỏ xíu từ mặt số này sang mặt số khác, và giọng anh chỉ còn là một tiếng kêu khàn đặc mờ nhạt: "Mười bốn bảy thiên văn mười hai phẩy một một bốn chín...."

"Giữ ở mức phẩy một một bốn sáu," Vorongil điềm tĩnh nói.

"Phẩy một một bốn sáu," Bart nói, và móng tay anh bấm vào các mặt số. Đột ngột, bất chấp sức nặng lạnh lẽo trên lồng ngực, bất chấp cơn đau và cuộc chiến đấu, anh cảm thấy như mình đang lơ lửng. Anh kịp thở một hơi dài, thoải mái. Anh có thể cáng đáng được. Anh biết mình đang làm gì.

Anh là một Sĩ quan Hoa tiêu....

Lúc sau, khi Gia tốc Một đã đạt đến điểm đỉnh và trọng lực nhân tạo biến con tàu thành một nơi dễ chịu trở lại, anh cùng Ringg xuống phòng ăn và gặp gỡ phi hành đoàn của con tàu Swiftwing. Có mười hai sĩ quan và mười hai thành viên phi hành đoàn thuộc các cấp bậc khác nhau giống như anh và Ringg, nhưng dường như không có sự phân biệt giai cấp xã hội nào giữa họ như trên một con tàu loài người; sĩ quan và thủy thủ đùa giỡn, tranh luận với nhau mà không hề có bất kỳ sự câu nệ nào.

Không ai trong số họ thèm liếc nhìn anh lần thứ hai. Sau đó, tại Phòng Giải trí, Ringg thách đấu anh một trò chơi với máy pinball. Trò chơi có vẻ khá đơn giản đối với Bart; anh thử sức, và thật ngạc nhiên, anh đã thắng.

Lão Rugel chạm vào một chiếc cần gạt bên cạnh phòng. Với một tiếng vù nhỏ, các ô cửa chớp mở ra, ánh sáng của Procyon Alpha tràn ngập khắp nơi và anh nhìn xuyên qua một ô cửa lớn ra khoảng không gian vô tận.

Procyon Alpha, Beta và Gamma lơ lửng ở thể tròn đầy, những vành đai khẽ nghiêng. Phía bên kia chúng là những vì sao đang rực cháy, lóa lên xuyên qua lớp bụi vũ trụ lung linh. Những sắc màu, những sắc màu bất tận của không gian!

Và anh đang đứng đây, trong căn phòng toàn những quái vật—chính anh cũng là một con quái vật—

"Đó là hành tinh nào mà chúng ta đã ghé qua nhỉ?" Rugel hỏi. "Từ khoảng cách này ta chẳng thể phân biệt nổi chúng."

Bartol nuốt khan; anh suýt nữa thì thốt lên là hành tinh màu xanh. Anh chỉ tay. "Cái—cái lớn kìa, với những vành đai gần như nằm ngang tầm mắt. Tôi nghĩ họ gọi nó là Alpha."

"Đó là hành tinh của chúng thế mà," Rugel nói. "Chắc chúng thích gọi sao thì gọi. Làm ván nữa không?"

Với quyết tâm cao độ, Bart quay lưng lại với những sắc màu mê hoặc ấy, và cúi người xuống chiếc máy pinball.

Tuần đầu tiên trôi dạt trong không gian là một cơn ác mộng căng thẳng. Anh chào đón những giờ trực trong phòng điều khiển động cơ; ở đó một mình, anh mới chắc chắn về những gì mình đang làm. Ở bất kỳ nơi nào khác trên con tàu, anh luôn trong trạng thái sợ hãi, luôn nhón chân dè dặt, luôn nơm nớp lo sợ mắc phải một sai lầm nhỏ nhặt và ngốc nghếch. Có lần anh thực sự gọi Aldebaran là một ngôi sao đỏ, nhưng Rugel hoặc là không nghe thấy sự lỡ miệng đó, hoặc nghĩ rằng anh đang lặp lại lời của một trong những người Mentorian—có hai người trên tàu ngoài cô gái ấy ra—đã nói.

Sự vắng bóng của màu sắc trong lời nói và cuộc sống là điều khó quen nhất. Mỗi ngôi sao trong sổ tay đều được liệt kê bằng các sóng tần số ánh sáng, cần phải kiểm tra đối chiếu với máy quang kế để có được một chỉ số cụ thể, và điều đó suýt làm Bart phát điên khi phải trải qua nghi thức ấy vào lúc những người Mentorian nghỉ trực và không thể gọi tên màu sắc cùng tần số tương đương cho anh. Thế nhưng anh không dám bỏ qua dù chỉ một bước, kẻo ai đó có thể đoán ra rằng anh vốn có thể phân biệt được sự khác biệt giữa một ngôi sao màu vàng và một ngôi sao màu xanh lá cây mà không cần phải kiểm tra qua máy.

Các con tàu của Học viện vốn có hệ thống tín hiệu truyền thống của loài người là đèn đỏ chớp nháy. Bart lúc nào cũng căng như dây đàn, lắng nghe những tiếng vo ve và tiếng tích tắc mã hóa nhỏ xíu cảnh báo anh về các bể chứa đầy, các đường ống cần bảo trì, hoặc các câu trả lời đã sẵn sàng. Bộ dụng cụ kiểm tra mỏi kim loại của Ringg là một thứ hỗn độn đến hoa mắt gồm các hộp, đồng hồ đo, thanh kim loại và tai nghe, mỗi thứ đều phát ra tiếng vo ve và tiếng lách tách cảnh báo đặc trưng của riêng mình.

Ban đầu anh cảm thấy sức lực bị vắt kiệt đến tận cùng trong mọi thức giấc, trí nhớ đau nhức vì hàng triệu chi tiết, và trằn trọc không ngủ được vào ban đêm vì nghĩ rằng tâm trí mình sẽ gãy sụp dưới sức ép. Rồi Alpha mờ dần thành một ánh sáng xanh nhạt, Beta bị che khuất, Gamma biến mất, Procyon mờ đi thành một tia lửa sắp tắt; và đột nhiên trí nhớ của Bart đã quen dần với gánh nặng, những thói quen mới đã được thiết lập vững chắc, và anh thấy mình ăn, ngủ, làm việc theo một lịch trình ổn định.

Giờ đây anh đã thuộc về con tàu Swiftwing.

Procyon gần như chìm khuất khỏi các ô cửa kính khi một nhịp điệu dồn dập bắt đầu lan truyền khắp con tàu, một luồng ngầm hoạt động gia tăng mạnh mẽ. Hàng hóa được kiểm tra, lập danh mục và chằng buộc cẩn thận. Ringg được giao thêm bốn người phụ giúp, thực hiện thêm một vòng kiểm tra con tàu, và quay trở lại với tiếng vo ve như một chú dế cuồng loạn. Các cỗ máy tính báo cho anh biết họ đang lao nhanh về phía tọa độ thiên văn được chỉ định cho lần dịch chuyển động cơ biến dạng đầu tiên, điều sẽ đưa họ tiến sâu khoảng mười lăm năm ánh sáng về phía Aldebaran.

Vào phiên trực cuối cùng trước khi chuyển đổi động cơ biến dạng, viên sĩ quan y tế đến và cho phép những người Mentorian nghỉ ngơi. Bart nhìn họ bước đi với một nỗi sợ hãi kỳ lạ, lạnh lẽo, đang bò dọc sống lưng. Ngay cả những người Mentorian, những kẻ được người Lhari tin tưởng—ngay cả họ cũng bị đưa vào giấc ngủ đông! Nỗi sợ hãi bóp nghẹt tâm can anh.

Người Lhari nói rằng chưa từng có con người nào sống sót sau cú nhảy vào động cơ biến dạng. Briscoe, cha anh, Raynor Three—họ nghĩ rằng họ đã chứng minh được người Lhari đã nói dối. Nếu họ đúng, nếu đó chỉ là một chiêu trò của người Lhari nhằm củng cố gọng kìm độc quyền đối với các thế giới loài người và giữ lại công nghệ động cơ biến dạng cho riêng mình, thì Bart chẳng có gì phải sợ hãi. Nhưng anh vẫn sợ.

Tại sao những người Mentorian lại chịu đựng điều này, dẫu chưa bao giờ hoàn toàn được tin tưởng, mà lại sống cô lập giữa những giống loài xa lạ?

Raynor Three từng nói, Bởi vì ta thuộc về không gian, bởi vì ta chẳng bao giờ hạnh phúc ở bất kỳ nơi nào khác. Bart nhìn qua ô cửa kính ra khung cảnh xoáy lốc và rực cháy của những sắc màu ngoài kia. Giờ đây, khi không bao giờ được phép thốt lên về những sắc màu ấy, anh có cảm giác như chưa bao giờ mình lại nhận thức được chúng một cách trọn vẹn và tha thiết đến thế. Chúng tượng trưng cho điều mà anh không bao giờ có thể diễn tả bằng lời.

Để mọi người đều có thể tận hưởng điều này. Không chỉ riêng người Lhari.

Rugel nhìn theo những người Mentorian với vẻ mặt cau có. "Ta ước gì y tế tìm ra được cách giữ cho họ sống sót qua chặng biến dạng," lão nói. "Người phụ tá Mentorian của tôi có thể quan sát sự dịch chuyển tần số đó khi chúng ta tiến gần đến đáy của vòng cung, và tôi cá là cô ấy có thể nhìn thấy nó. Họ có thể nhận ra những thay đổi về cường độ nhanh hơn tôi vẽ biểu đồ trên máy quang kế!"

Bart cảm thấy da gà nổi rần rần trên da. Rugel nói cứ như thể cái chết chắc chắn của con người và người Mentorian là một sự thật hiển nhiên. Chẳng lẽ bản thân người Lhari không biết đó chỉ là một trò hề sao? Hay thực sự là như vậy?

Chính Vorongil trực tiếp nắm giữ quyền điều khiển cho đợt bứt phá Gia tốc Hai, thứ sẽ đưa họ vượt qua Bức tường Ánh sáng. Bart, dán mắt vào các dụng cụ đo lường để xác định chính xác vị trí và thời gian, nhìn thấy màu sắc của từng ngôi sao thay đổi kỳ lạ qua từng khoảnh khắc. Những ngôi sao đỏ dường như rất khó nhìn thấy. Những ngôi sao màu cam vàng bỗng bùng cháy như ngọn lửa; những ngôi sao màu xanh lục trở nên ánh vàng, còn những ngôi sao màu xanh lam thì gần như chuyển sang màu xanh lá. Mờ ảo trong tâm trí, anh nhớ lại câu chuyện cũ về "sự dịch chuyển đỏ" trong ánh sáng của những ngôi sao đang tiến lại gần, nhưng ở đây anh được chứng kiến nó một cách nguyên bản, một cảnh tượng mà chưa một đôi mắt phàm trần nào từng thấy. Một cảnh tượng mà chưa từng có đôi mắt nào nhìn ngấy, dù là của con người hay sinh vật khác, bởi vì người Lhari vốn chẳng thể nhìn thấy nó....

"Đúng giờ," anh ngắn gọn báo cáo với Vorongil, "Mười lăm giây...."

Rugel nhìn sang từ chiếc ghế của mình. Bart có cảm giác rằng lão Lhari già nua đầy vết sẹo ấy có thể đọc được nỗi sợ hãi trong lòng anh. Rugel khò khè cất tiếng: "Dù mày có già đi bao nhiêu đi nữa, Bartol, mày vẫn cứ sợ hãi mỗi khi thực hiện một cú nhảy biến dạng. Nhưng cứ thư giãn đi, máy tính không bao giờ mắc lỗi đâu."

Chất xúc tác," Vorongil gằn giọng, "Sẵn sàng—nhảy!"

Ban đầu chẳng có sự thay đổi nào; rồi Bart nhận ra rằng các vì sao qua ô cửa kính đã thay đổi đột ngột về kích thước, sắc thái và màu sắc. Chúng không còn là những tia lửa mà là những vệt sáng kỳ lạ, giống như sao chổi, đan xen vào nhau với những chiếc đuôi kéo dài mãi, dài thêm qua từng khoảnh khắc. Màn đêm đen thẳm của không gian ngập tràn một thứ ánh sáng chói lọi đan chéo. Họ đang di chuyển nhanh hơn ánh sáng, họ nhìn thấy ánh sáng do Vũ trụ đang chuyển động để lại khi mỗi ngôi sao lao đi trên quỹ đạo vô hình của chính nó, trong khi họ xé gió băng qua đó một cách đáng kinh ngạc, nhanh hơn cả tốc độ ánh sáng....

Bart cảm phi một cảm giác khó chịu kỳ lạ, râm ran sâu trong phần thịt; gần như là một cơn ngứa ngáy, buốt nhức tận xương tủy.

Thịt da của người Lhari cũng chẳng khác gì chúng ta....

Không gian bên ngoài ô cửa kính không còn là không gian mà anh từng biết, mà đã biến thành một chốn limbo kỳ lạ, ma quái, nơi những vệt sao kéo dài ra, dịch chuyển màu sắc cho đến khi chúng lấp đầy toàn bộ ô cửa kính bằng thứ ánh sáng xám xịt, đan chéo vào nhau. Phản ứng khó tin của động cơ biến dạng đẩy họ phóng qua không gian nhanh hơn cả ánh sáng từ các vì sao xung quanh, nhanh hơn cả trí tưởng tượng có thể theo kịp.

Những ngọn đèn trong phòng động cơ bắt đầu mờ đi—hay là anh đang ngất lịm đi? Cơn châm chích trong da thịt anh đau buốt như thể bị móng vuốt cào xé.

Briscoe đã sống sót qua điều đó....

Họ nói vậy.

Những vệt sao xoay tít mờ mịt đi, cuộn lại, biến thành những con giun ánh sáng không màu, rồi nhòe đi thành một vệt mờ khổng lồ duy nhất. Mờ ảo, Bart nhìn thấy lão Rugel gục đầu về phía trước, rên rỉ khe khẻ; nhìn thấy lão Lhari già gap đầu trọc vào đôi cánh tay nổi gân xanh. Rồi bóng tối bao trùm lấy anh; và nghĩ rằng đó là cái chết, Bart chỉ cảm thấy một sự bất lực tê tái, đầy tiếc nuối. Mình thất bại rồi, chúng ta sẽ mãi mãi thất bại. Người Lhari đã đúng suốt từ đầu.

Nhưng chúng ta đã thử! Thề có Chúa, chúng ta đã cố gắng!

"Bartol?" Một bàn tay dịu dàng, với những chiếc móng mèo đã thu lại, đặt lên vai anh. Ringg cúi người xuống nhìn anh. Giọng cậu mang theo sự quở trách đầy thiện cảm. "Sao anh không nói với chúng ta là anh bị phản ứng nặng, rồi xin rút lui khỏi chuyến nhảy này chứ?" cậu đòi hỏi. "Nhìn kìa, lão Rugel tội nghiệp lại ngất lịm đi rồi. Lão cứ nhất quyết không chịu thừa nhận là mình không thể chịu nổi—nhưng một tên ngốc trong một ca trực là quá đủ rồi! Một vài người cứ có cảm giác như đáy tàu vừa sập xuống, và thế là hết."

Bart gượng ngẩng đầu lên, nén lại một trận buồn nôn đang châm chích trào lên. Xương cốt anh bên trong vẫn âm ỉ ngứa ngáy và anh cảm thấy khó chịu kinh khủng, nhưng anh vẫn còn sống.

"Tôi—vẫn ổn."

"Trông anh thế đấy," Ringg mỉa mai nói. "Anh nghĩ mình có thể giúp tôi đưa Rugel về cabin không?"

Bart chật vật đứng dậy, và nhận ra khi đứng thẳng lên thì anh thấy dễ chịu hơn chút ít. "Chà!" anh lầm bầm, rồi vội ngậm chặt miệng lại. Lẽ ra anh phải là một tay lão luyện, một kẻ thuộc tộc Lhari đã quen tôi trong không gian. Anh lơ mơ nói: "Tôi bất tỉnh bao lâu rồi?"

Khoảng thời gian quen thuộc thôi," Ringg đáp nhanh gọn, "khoảng ba giây—đúng lúc chúng ta chạm đỉnh động cơ biến dạng. Cảm giác sẽ lâu hơn, họ bảo thế, đôi khi là vậy—thời gian thật kỳ lạ khi vượt qua tốc độ ánh sáng. Viên y tế bảo đó hoàn toàn là vấn đề tâm lý. Tôi thì không chắc lắm. Ngứa quá, quỷ thật!"

Cậu ta vặn vẹo vai một cách khó chịu, rồi cúi xuống chỗ Rugel, kẻ đang rên rỉ và nửa mê nửa tỉnh. "Nắm lấy chân lão đi, Bartol. Nào—gỡ lão ra khỏi ghế. Đợi phiền đến y tế lần này thì có mà chết. Anh nghĩ mình có thể giúp tôi khiêng lão về boong dưới không?"

"Được chứ," Bart nói, khi đã tìm lại được đôi chân và giọng nói của mình. Anh cảm thấy khá hơn khi họ di chuyển dọc theo hành lang, thân hình mềm nhũn, lẩm bẩm không rõ tiếng của lão Lhari già nằm bất động trong vòng tay họ. Họ lên đến boong của sĩ quan, đưa Rugel về cabin rồi đặt lên giường, tháo áo choàng và giày ra cho lão. Ringg đứng lắc đầu.

Và thế mà họ cứ bảo Đại úy Vorongil cứng rắn lắm cơ đấy!"

Bart phát ra một tiếng hỏi ngạc nhiên.

"Thì anh nhìn mà xem," Ringg nói. "Lão biết làm thế sẽ khiến Rugel tội nghiệp cảm thấy mình chẳng còn tích sự gì—nếu bắt lão phải nằm lì trên giường và dùng thuốc như một người Mentorian trong mỗi lần biến dạng. Thế nên chúng ta mới phải chịu đựng cảnh này ở mọi bước nhảy!" Cậu ta tỏ ra cáu kỉnh và bực bội, nhưng ẩn chứa trong đó là sự dịu dàng mộc mạc, trẻ con khi kéo tấm chăn đắp lên người lão Lhari đầu trọc. Cậu ngước lên, có vẻ hơi ngượng ngùng.

"Cảm ơn vì đã giúp tôi khiêng Lão Đầu Hói nhé. Chúng tôi thường cố gắng lôi lão ra trước khi Vorongil chính thức để mắt tới. Tất nhiên là ngài ấy cũng toàn quay mặt đi chỗ khác thôi," Ringg nói, và cả hai cùng bật cười khi quay trở lại phòng điều khiển động cơ. Bart chợt nghĩ, Ringg là một cậu nhóc tốt tính, trước khi cậu kịp tự giật mình hoảng hốt.

Anh đã sống sót qua cú nhảy biến dạng! Vậy thì quả thực, người Lhari đã nói dối suốt bao lâu nay, một lời dối trá độc ác nhằm duy trì sự độc quyền gọng kìm của họ đối với những chuyến du hành giữa các vì sao. Anh lại trở thành kẻ thù của chúng, là gián nằm vùng trong sào huyệt của chúng, giống như Briscoe, kẻ sẽ bị săn lùng và tiêu diệt, nhưng là để mang thông điệp ấy, thật vang dội và rõ ràng, đến với tất cả mọi người: Người Lhari đã nói dối! Các vì sao có thể thuộc về tất cả chúng ta!

Khi quay trở lại phòng điều khiển động cơ, anh nhìn qua ô cửa kính thấy lớp màn mờ đã biến mất, những vệt sao lại hiện ra rõ ràng, sắc nét, đuôi sao chổi ngắn dần theo từng khoảnh khắc, và màu sắc của chúng trở nên rực rỡ hơn.

Người Lhari đang chờ sẵn, một vài kẻ đứng trầm ngâm bên các thiết bị đo đạc, một số khác đứng bên cửa sổ thạch anh ngắm nhìn những vệt sao, vài kẻ đang cựa quậy, gãi ngứa và cằn nhằn về "bọ chét không gian"—phản ứng ngứa ngáy đặc trưng có vẻ như ngấm sâu tận trong xương tủy.

Bart kiểm tra các bảng điều khiển, ghi lại thời điểm họ sẽ quay trở lại không gian bình thường, rồi bước ra đứng cạnh ô cửa kính. Các vì sao đang hiện hình trở lại, dường như đang ổn định và bùng cháy trong vẻ rực rỡ mờ ảo giữa lớp bụi sáng. Chúng cháy rực thành những dải lửa lớn, và trong khoảnh khắc đó, anh lại quên mất nhiệm vụ của mình, đắm chìm trong vẻ đẹp của thứ ánh sáng rực lửa ấy. Anh hít một hơi thật sâu, run rẩy. Thật đáng giá biết bao, khi được chứng kiến cảnh tượng này! Anh quay lại và nhìn thấy Ringg đang đứng lặng lẽ bên vai mình.

"Tôi cũng vậy," Ringg nói, gần như thì thầm. "Tôi nghĩ mọi người trên tàu đều có cảm giác ấy, dù chỉ một chút, chỉ là họ không chịu thừa nhận thôi." Đôi mắt xám xếch của cậu liếc nhanh sang Bart rồi vội quay đi.

Tôi đoán chúng ta sắp đến điểm L rồi. Tốt hơn là nên kiểm tra bảng điều khiển và báo cáo các chỉ số về không, để y tế đánh thức mấy người Mentorian dậy."

Con tàu Swiftwing tiếp tục lướt đi giữa các vì sao. Aldebaran lững lờ hiện ra rồi mờ dần khuất sau các ô cửa kính; một cú nhảy khác đưa họ đến một ngôi sao mà Bart không biết tên gọi theo kiểu loài người. Hết cú nhảy này đến cú nhảy khác, hết cảng vũ trụ này đến cảng vũ trụ khác, hết mặt trời này đến mặt trời khác trôi qua; con người sinh sống trên hầu hết các thế giới này, và trên mỗi thế giới ấy, một cảng vũ trụ của người Lhari lại mọc lên, đầy vẻ ngoại lai và ngạo mạn. Và trên mỗi thế giới, con người đều nhìn người Lhari bằng ánh mắt đầy căm phẫn, nguyền rủa giống loài đã chiếm đoạt các vì sao làm của riêng.

Hàng hóa chất đầy trong khoang của con tàu Swiftwing, đến từ những thế giới vượt ngoài mọi giấc mơ kỳ lạ nhất. Bart không thấy chán nản, mà thay vào đó là sự chai lì trước những điều khó tin. Có những ngày liền, chẳng có một từ ngữ tiếng người nào lọt qua tâm trí anh.

Tình trạng mất nhận thức ở đỉnh mỗi cú nhảy biến dạng vẫn tiếp diễn. Vorongil đã cho phép anh được miễn trực, nhưng vì những cơn ngất lịm đó không làm giảm hiệu suất làm việc của mình, Bart đã từ chối. Rugel nói với anh rằng đó chính là thời điểm của sự cân bằng, là đỉnh điểm của chuyển động vượt tốc độ ánh sáng.

"Có lẽ đó là một giới hạn tốc độ thực sự mà vượt qua nó sẽ chẳng có thứ gì đi nổi," Vorongil nói, chạm những chiếc móng được đánh bóng lên bản đồ. Khóa miệng đầy sẹo của lão Rugel vẽ lên một nụ cười mỏng.

"Biết đâu chẳng có cái gọi là giới hạn tốc độ nào cả. Sẽ có ngày chúng ta đạt được sự đồng thời thực sự—bước vào biến dạng, và xuất hiện ngay tại nơi chúng ta muốn, vào cùng một khoảnh khắc. Chỉ một khoảng tích tắc ngắn ngủi. Đó mới là sự truyền tải thực sự."

Ringg chế giễu: "Và nhỡ đâu anh còn làm tốt hơn nữa—rồi chui ra khỏi biến dạng trước cả khi anh lao vào nó thì sao? Lúc đó thì tính sao đây, Ngài Đầu Hói đáng kính?"

Rugel khúc khích cười, không đáp lời. Bart quay đi. Thật không dễ dàng gì khi cứ tiếp tục nuôi dưỡng sự căm thù đối với người Lhari.

Đã đến một ngày anh bước vào ca trực và bắt gặp những gương mặt hốc hác, lo âu; và khi Ringg bước vào phòng điều khiển động cơ, họ liền gạt cần về chế độ tự động rồi xúm quanh cậu ta, những chiếc mào đầu bồng bềnh đầy vẻ thắc mắc và hoang mang. Vorongil dường như tóe cả lửa khi gầm lên với Ringg: "Cậu tìm thấy rồi chứ?"

"Tôi tìm thấy rồi. Nằm ngay bên trong lớp lót vỏ tàu."

Vorongil chửi thề, và Ringg giơ một tay lên phản đối. "Tôi chỉ là kẻ phát hiện ra hiện tượng mỏi kim loại, thưa ngài—chứ tôi đâu có làm ra nó!"

Vậy thì chẳng còn cách nào khác," Vorongil nói. "Chúng ta buộc phải hạ cánh để sửa chữa. Chúng ta còn bao nhiêu thời gian, hả Ringg?"

"Tôi cho là khoảng ba mươi tiếng," Ringg ngắn gọn đáp, và Vorongil phát ra một tiếng huýt gió dài, sắc lẹm. "Bartol, cảng vũ trụ gần nhất nằm ở đâu?"

Bart lao đầu vào sách tra cứu, cẩm nang, các bảng so sánh vị trí, và bắt đầu lập trình thông tin. Phi hành đoàn dạt về phía cậu, và đến khi anh nhập xong thông tin mã hóa, một hàng người Lhari đứng dày đặc ba lớp đã vây quanh anh, bao gồm cả tất cả các sĩ quan. Vorongil đứng ngay sát vai anh khi Bart đeo tai nghe vào và bắt đầu giải mã những dải băng đục lỗ đưa ra kết quả từ máy tính.

"Cảng gần nhất là Cottman Bốn. Thời gian di chuyển đến đó chính xác là khoảng ba mươi tiếng."

Ta không thích liều lĩnh sát nút như vậy." Khuôn mặt Vorongilằn in những nếp nhăn sâu hoắm. Hắn quay sang Ramillis, người đứng đầu bộ phận Bảo trì. "Chúng ta có cần phụ tùng thay thế không? Hay chỉ cần sửa chữa thông thường?"

"Chỉ cần sửa chữa thôi, thưa ngài. Chúng ta có dư dả kim loại chắn bức xạ. Phá vỡ lớp vỏ tàu để xử lý là một công việc dài hơi, nhưng chẳng có gì là chúng ta không khắc phục được cả."

Vorongil bồn chồn cử động đôi bàn tay có móng vuốt, duỗi ra rồi thu vào. "Ringg, cậu là chuyên gia về độ mỏi vật liệu. Tôi sẽ tin lời cậu. Liệu chúng ta có trụ được trong ba mươi tiếng không?"

Ringg trông tái nhợt và hoàn toàn mất đi vẻ đùa cợt trẻ con thường ngày khi cất lời: "Thưa Đại úy, tôi thề là tôi không dám mạo hiểm với Cottman đâu. Ngài biết hiện tượng kết tinh kim loại đáng sợ thế nào rồi đấy, thưa ngài. Chúng ta không thể xuyên qua lớp lót vỏ tàu để sửa chữa nó ngoài không gian nếu nó thực sự rách trước khi chúng ta hạ cánh. Tỷ lệ sống sót của chúng ta còn thấp hơn cả một nguyên tử hydro trong bình chứa halogen."

Đôi lông mày xếch của Vorongil nhíu lại thành một đường liền mạch. "Vậy quyết định thế đi. Bartol, hãy tìm cho chúng ta ngôi sao gần nhất có hành tinh—dù có cảng vũ trụ hay không."

Đôi tay Bart đang run lên vì sợ hãi bất chợt. Anh kiểm tra lại từng chữ số về vị trí hiện tại của họ, nhập vào máy tính, chờ đợi, cuối cùng mím chặt môi và đánh cược, rút dải băng kết quả từ máy tính ra.

"Ngôi sao nhỏ này, có tên là Meristem. Nó là một loại—" anh cắn chặt môi; suýt chút nữa anh đã thốt lên là màu xanh lá—"loại Q, có hai hành tinh có bầu khí quyển trong giới hạn cho phép, chưa được phân loại là có người ở."

"Ai sở hữu nó?"

"Tôi không có thông tin đó trong cơ sở dữ liệu, thưa ngài."

Vorongil ra hiệu gọi người phụ tá Mentorian đến. Khoảng cách giữa người Lhari và người Mentorian trên những con tàu này lớn đến mức Bart thậm chí còn chẳng biết tên hắn ta. Hắn nói: "Hãy tra cứu giúp chúng ta một ngôi sao có tên là Meristem." Tên Mentorian vội vã rời đi, lát sau quay lại với thông tin rằng nó thuộc về Liên đoàn Ngân hà Thứ hai, nhưng được liệt kê là chưa được thám hiểm.

Vorongil cau mày. "Chà, chúng ta có thể viện cớ tình thế cấp bách," hắn nói. "Nó chỉ cách đây tám tiếng, trong khi Cottman tận ba mươi tiếng. Bartol, hãy vạch ra một cú nhảy động cơ biến dạng đưa chúng ta đến hệ thống đó, hạ cánh xuống hành tinh phía trong trong số hai hành tinh, trong vòng chín tiếng. Nếu đó là ngôi sao loại Q, nghĩa là độ chiếu sáng mờ ảo, và không có các thiết bị hơi thủy ngân ở cảng vũ trụ. Chúng ta sẽ cần càng nhiều ánh sáng mặt trời càng tốt."

Đây là lần đầu tiên Bart, mà không có sự trợ giúp nào, phải gánh vác trách nhiệm lập biểu đồ cho một cú nhảy động cơ biến dạng. Anh kiểm tra tọa độ của ngôi sao màu xanh nhỏ bé đó tận ba lần trước khi chuyển chúng cho Vorongil. Mặc dù vậy, khi họ bước vào đợt Gia tốc Hai, anh vẫn cảm thấy nỗi sợ hãi châm chích. Nếu mình tính sai tọa độ, chúng ta có thể nhảy vào cái không gian điên rồ đó và xuất hiện ở cách xa hàng tỷ dặm....

Nhưng khi các ngôi sao ổn định trở lại và khoác lên mình những màu sắc quen thuộc, ánh sáng rực rỡ của một mặt trời nhỏ màu xanh lá cây vẫn hiện lên vững chãi trong ô cửa kính.

"Meristem," Vorongil nói, tự tay nắm lấy cần điều khiển. "Hy vọng là nơi đó thực sự không có người ở và cuốn danh mục đó vẫn còn cập nhật, các chàng trai ạ. Chẳng có gì vui vẻ khi vô tình thiêu rụi một ngôi làng vô hại nào đó, hay bị bọn dã nhân nã súng vào—và chúng ta lại hạ cánh mà không có tín hiệu tháp điều khiển hay đội ngũ sửa chữa của cảng vũ trụ. Vậy nên hãy cầu cho vận may của chúng ta còn kéo dài thêm chút nữa."

Bart, cảm nhận được một tiếng rung nhỏ bé, chao đảo ở đâu đó trong con tàu—Chỉ là tưởng tượng thôi, anh tự nhủ, làm sao mà cảm nhận được hiện tượng mỏi kim loại ở tận lớp lót vỏ tàu chứ—liền lặp lại lời cầu nguyện ấy. Anh không hề biết rằng mình đã có được vận may lớn nhất trong chuyến hải trình độc nhất vô nhị của đời mình, cũng như không nhận ra thứ vận may kỳ diệu đã đưa anh đến với ngôi sao xanh nhỏ bé mang tên Meristem.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.