Tarzan Giữa Bầy Vượn

Lượt đọc: 108 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 25
Tiền Đồn Của Thế Giới

❊ ❊ ❊

Theo tiếng súng nổ, D’Arnot thấy cánh cửa bật mở và bóng một người ngã nhào vào bên trong sàn nhà.

Trong cơn hoảng loạn, viên sĩ quan người Pháp giơ súng định bóp cò lần nữa vào thân hình đang nằm bất động, nhưng đột nhiên trong ánh sáng mờ ảo ở ngưỡng cửa, anh nhận ra đó là một người da trắng. Chỉ tích tắc sau, anh bàng hoàng hiểu rằng mình vừa bắn chính ân nhân và người bạn thân thiết, Tarzan của loài vượn.

Với một tiếng thét nghẹn ngào, D’Arnot lao đến bên người vượn, quỳ xuống, ôm đầu anh lên tay mình và gọi lớn tên Tarzan.

Không có tiếng trả lời, D’Arnot liền áp tai lên ngực anh. Mừng rỡ làm sao khi anh nghe thấy nhịp tim vẫn đang đập đều đặn bên dưới.

Anh cẩn thận khiêng Tarzan lên chiếc giường vải, rồi sau khi đóng và cài then cửa, anh châm một ngọn đèn và kiểm tra vết thương.

Viên đạn chỉ sượt qua hộp sọ. Đó là một vết rách da thịt khá sâu nhưng không có dấu hiệu nứt xương.

D’Arnot thở phào nhẹ nhõm, rồi đi lấy nước lau sạch vết máu trên mặt Tarzan.

Chẳng mấy chốc, dòng nước mát lạnh đã làm anh tỉnh lại. Tarzan từ từ mở mắt, nhìn D’Arnot với vẻ ngạc nhiên đầy thắc mắc.

D’Arnot đã băng bó vết thương bằng những mảnh vải sạch. Thấy Tarzan đã tỉnh lại, anh đứng dậy đi về phía chiếc bàn, viết vài dòng rồi đưa cho người vượn. Trong thư, anh giải thích về sai lầm khủng khiếp mình vừa gây ra và bày tỏ lòng biết ơn khôn xiết vì vết thương không quá nghiêm trọng.

Đọc xong mẩu giấy, Tarzan ngồi bên mép giường và mỉm cười.

"Không có gì đâu," anh nói bằng tiếng Pháp, rồi khi vốn từ vựng không còn đủ để diễn tả, anh viết tiếp:

Lẽ ra anh phải tận mắt chứng kiến những gì Bolgani, Kerchak và Terkoz đã làm với tôi trước khi tôi hạ sát chúng—khi đó anh sẽ phải phì cười trước một vết xước cỏn con thế này thôi.

D’Arnot liền đưa cho Tarzan hai bức thư đã được để lại cho anh từ trước.

Tarzan đọc chăm chú bức thư đầu tiên với vẻ mặt đượm buồn. Đến bức thứ hai, anh lật qua lật lại, dò dẫm tìm cách mở—vì anh chưa từng thấy một chiếc phong bì dán kín bao giờ. Cuối cùng, anh đành đưa nó lại cho D’Arnot.

Viên sĩ quan người Pháp nãy giờ vẫn quan sát anh và hiểu rằng Tarzan đang lúng túng trước chiếc phong bì. Thật kỳ lạ làm sao khi đối với một người đàn ông da trắng đã trưởng thành, phong bì lại là một điều bí ẩn đến vậy. D’Arnot bóc thư ra rồi trao trả lại cho Tarzan.

Ngồi trên chiếc ghế đẩu, người vượn trải tờ giấy viết thư trước mặt và đọc:

GỬI TARZAN CỦA LOÀI VƯỢN:

Trước khi rời đi, xin cho phép tôi được gửi lời cảm ơn của mình cùng với lời cảm ơn của ông Clayton vì sự tốt bụng mà anh đã dành cho chúng tôi khi cho phép sử dụng căn chòi của anh.

Việc anh chưa từng ghé qua để làm quen với chúng tôi là một điều vô cùng đáng tiếc. Chúng tôi rất muốn được gặp mặt và trực tiếp gửi lời cảm ơn đến người chủ nhà.

Vẫn còn một người nữa mà tôi cũng rất muốn được cảm ơn, nhưng anh ấy đã không quay trở lại, dù tôi không thể tin rằng anh ấy đã qua đời.

Tôi không biết tên anh ấy. Đó là một người khổng lồ da trắng vĩ đại, người đã đeo chiếc huy hiệu kim cương trên ngực.

Nếu anh biết anh ấy và có thể nói chuyện bằng ngôn ngữ của anh ấy, xin hãy chuyển lời cảm ơn của tôi tới anh ấy, và nói rằng tôi đã đợi bảy ngày để mong anh ấy quay lại.

Cũng xin hãy nhắn với anh ấy rằng, tại ngôi nhà của tôi ở Mỹ, trong thành phố Baltimore, sẽ luôn rộng mở chào đón nếu anh ấy muốn ghé thăm.

Tôi đã tìm thấy bức thư anh viết cho tôi nằm giữa những chiếc lá dưới một tán cây gần căn chòi. Tôi không biết làm thế nào mà anh lại có thể yêu tôi, người chưa từng nói chuyện với anh một lời nào, và tôi rất tiếc nếu điều đó là sự thật, bởi tôi đã trao trọn trái tim mình cho một người khác rồi.

Nhưng xin hãy biết rằng tôi mãi là bạn của anh,

JANE PORTER.

Tarzan ngồi im lặng, ánh mắt đăm đăm nhìn xuống sàn nhà suốt gần một tiếng đồng hồ. Qua những bức thư, anh hiểu rõ rằng họ không hề biết anh và Tarzan của loài vượn chính là một người.

"Tôi đã trao trọn trái tim mình cho một người khác," anh lẩm bẩm nhắc đi nhắc lại câu nói ấy trong tâm trí.

Hóa ra nàng không hề yêu anh! Sao nàng có thể giả vờ yêu đương, đẩy anh lên tận đỉnh cao của niềm hy vọng để rồi phũ phàng ném anh xuống vực sâu tuyệt vọng đến thế!

Biết đâu những nụ hôn của nàng chỉ là dấu hiệu của tình bạn thông thường. Làm sao anh có thể biết được, khi bản thân hoàn toàn mù tịt về phong tục của loài người?

Đột nhiên anh đứng dậy, nói lời chúc ngủ ngon với D’Arnot theo đúng cách mà anh đã học được, rồi ngả mình lên chiếc giường dương xỉ từng là chỗ nằm của Jane Porter.

D’Arnot tắt đèn và nằm xuống chiếc giường vải.

Trong suốt một tuần liền, hai người chẳng làm gì ngoài việc nghỉ ngơi, và D’Arnot tranh thủ dạy tiếng Pháp cho Tarzan. Đến cuối khoảng thời gian đó, cả hai đã có thể trò chuyện khá trôi chảy.

Một tối nọ, khi họ đang ngồi trong căn chòi trước giờ đi ngủ, Tarzan quay sang hỏi D’Arnot.

"Nước Mỹ nằm ở đâu?"

D’Arnot giơ tay chỉ về hướng tây bắc.

"Cách đây hàng ngàn dặm vượt đại dương," anh đáp. "Để làm gì thế?"

"Tôi sẽ đến đó."

D’Arnot lắc đầu.

"Không thể nào đâu, bạn tôi ạ," anh nói.

Tarzan đứng dậy, đi đến một chiếc tủ và quay lại với một cuốn sách địa lý đã cũ sờn mép.

Mở đến bản đồ thế giới, anh nói:

"Tôi chưa bao giờ hiểu rõ về những thứ này; xin hãy giải thích cho tôi đi."

Khi D’Arnot đã làm điều đó, chỉ cho anh thấy phần màu xanh biểu thị tất cả nước trên trái đất, còn những mảng màu khác là các lục địa và hải đảo, Tarzan liền đề nghị anh chỉ rõ vị trí hiện tại của họ.

D’Arnot làm theo.

"Bây giờ hãy chỉ cho tôi nước Mỹ đi," Tarzan nói.

Và khi D’Arnot đặt ngón tay lên Bắc Mỹ, Tarzan mỉm cười rồi áp cả bàn trang vào trang sách, che phủ lấy khoảng đại dương mênh mông nằm giữa hai lục địa.

"Anh thấy đấy, có xa lắm đâu," anh nói; "chí bằng bề ngang bàn tay tôi thôi mà."

D’Arnot phì cười. Làm thế nào để anh có thể giải thích cho con người này hiểu đây?

Sau đó, anh lấy một cây bút chì và chấm một điểm vô cùng nhỏ trên bờ biển châu Phi.

"Dấu chấm nhỏ này," anh nói, "trên bản đồ này còn lớn hơn rất nhiều lần so với căn chòi của anh trên thực tế đấy. Bây giờ anh đã thấy nó xa đến mức nào chưa?"

Tarzan trầm ngâm suy nghĩ một lúc lâu.

"Có người da trắng nào sống ở châu Phi không?" anh hỏi.

"Có chứ."

"Nơi nào gần nhất?"

D’Arnot chỉ vào một điểm trên bờ biển nằm ngay phía bắc vị trí của họ.

Tarzan ngạc nhiên hỏi: "Gần thế cơ à?"

"Đúng vậy," D’Arnot đáp; "nhưng không gần chút nào đâu."

"Họ có những con thuyền lớn để vượt đại dương không?"

"Có."

"Ngày mai chúng ta sẽ đến đó," Tarzan dõng dạc tuyên bố.

D’Arnot lại mỉm cười và lắc đầu.

"Quá xa. Chúng ta sẽ chết từ lâu trước khi đến được nơi đó."

"Thế anh muốn ở lại đây mãi mãi à?" Tarzan hỏi.

"Không," D’Arnot đáp.

"Vậy ngày mai chúng ta sẽ khởi hành. Tôi không muốn ở lại đây thêm ngày nào nữa. Thà chết còn hơn là cứ ở lỳ nơi này."

"Thôi được," D’Arnot nhún vai đáp, "nói thật là tôi cũng thà chết chứ chẳng muốn ở lại đây đâu, bạn tôi ạ. Nếu anh đi, tôi sẽ đi cùng."

"Vậy là quyết định nhé," Tarzan nói. "Ngày mai tôi sẽ lên đường đi Mỹ."

"Không có tiền thì làm sao anh đến được nước Mỹ?" D’Arnot hỏi.

"Tiền là gì?" Tarzan thắc mắc.

Phải mất rất lâu mới có thể giải thích cho anh hiểu, dù chỉ là một cách mơ hồ.

"Làm thế nào để con người có được tiền?" cuối cùng anh hỏi.

"Họ phải làm việc để kiếm ra nó."

"Rất tốt. Vậy tôi cũng sẽ làm việc để kiếm tiền."

"Không, bạn tôi ạ," D’Arnot đáp lời, "anh chẳng cần phải lo lắng về tiền bạc, cũng chẳng cần phải lao động vất vả vì nó đâu. Tôi có đủ tiền cho hai người—thậm chí đủ cho hai mươi người ấy chứ. Số tiền đó còn nhiều hơn mức cần thiết cho một người, và anh sẽ có tất cả những gì mình muốn nếu chúng ta đến được thế giới văn minh."

Thế là vào ngày hôm sau, họ bắt đầu hành trình ngược lên phía bắc dọc theo bờ biển. Mỗi người mang theo một khẩu súng trường, đạn dược, cùng với chăn gối, một ít lương thực và dụng cụ nấu nướng.

Đối với Tarzan, những dụng cụ nấu nướng có vẻ là thứ vướng víu vô tích sự nhất, thế là anh vứt quách chúng đi.

"Nhưng anh phải học cách ăn thức ăn chín chứ, bạn tôi," D’Arnot can ngăn. "Không một người văn minh nào ăn thịt sống cả."

"Đến lúc tôi hòa nhập với thế giới văn minh thì học cũng chưa muộn," Tarzan nói. "Tôi không thích những thứ đó, chúng chỉ làm mất đi hương vị thơm ngon của thịt tươi mà thôi."

Họ đã có một tháng hành trình ngược bắc. Có lúc thì tìm được vô số thức ăn, nhưng cũng có lúc phải chịu cảnh nhịn đói suốt nhiều ngày liền.

Họ không hề thấy dấu vết của người bản địa nào, cũng chẳng bị dã thú quấy rầy. Chuyến hành trình diễn ra suôn sẻ đến mức kỳ diệu.

Tarzan liên tục đặt câu hỏi và tiếp thu rất nhanh. D’Arnot dạy anh nhiều cung cách lịch sự của văn minh nhân loại—thậm chí cả cách sử dụng dao và nĩa; nhưng đôi khi Tarzan lại bực bội vứt phăng chúng đi rồi dùng đôi bàn tay nâu vạm vỡ để bốc thức ăn, xé xác chúng bằng hàm răng nghiến như một con dã thú.

Lúc đó, D’Arnot lại la mắng anh:

"Tarzan, anh không được ăn uống như loài thú hoang trong lúc tôi đang cố gắng uốn nắn anh thành một quý ông chứ. Chúa tôi! Đâu có quý ông nào làm thế—thật là khủng khiếp."

Tarzan sẽ cười trừ vẻ ngượng ngùng rồi cầm lại dao nĩa, nhưng tận sâu trong lòng, anh căm ghét chúng vô cùng.

Trên đường đi, anh đã kể cho D’Arnot nghe về chiếc rương lớn mà anh từng thấy các thủy thủ chôn giấu; về việc anh đã đào nó lên, mang đến nơi tập trung của bầy vượn và chôn giấu ở đó.

"Chắc chắn đó là rương báu của Giáo sư Porter," D’Arnot thốt lên. "Thật tiếc quá, nhưng đương nhiên là lúc đó anh đâu có biết."

Lúc đó Tarzan sực nhớ đến bức thư do Jane viết cho người bạn của mình—bức thư mà anh từng lấy trộm khi họ mới đặt chân đến căn chòi; và giờ đây anh đã hiểu trong rương có gì cũng như nó có ý nghĩa thế nào đối với Jane.

"Ngày mai chúng ta sẽ quay lại để lấy nó," anh thông báo với D’Arnot.

"Quay lại ư?" D’Arnot kêu lên. "Nhưng bạn thân mến của tôi ơi, chúng ta đã mất ba tuần ròng rã để hành quân rồi. Sẽ phải mất thêm ba tuần nữa mới quay lại chỗ chôn kho báu, và rồi với trọng lượng khổng lồ đòi hỏi tới bốn thủy thủ mới khiêng nổi như anh nói, chúng ta sẽ phải mất nhiều tháng trời mới quay lại được đến điểm này."

Tarzan quả quyết: "Phải làm thôi, bạn của tôi ạ. Anh cứ tiếp tục đi về phía thế giới văn minh, còn tôi sẽ quay lại lấy kho báu. Một mình tôi đi sẽ nhanh hơn rất nhiều."

"Tôi có một kế hoạch hay hơn, Tarzan," D’Arnot kêu lên. "Chúng ta sẽ cùng nhau đi tiếp đến khu định cư gần nhất, rồi ở đó chúng ta sẽ thuê một chiếc thuyền buồm ngược xuống bờ biển để lấy kho báu, như vậy việc vận chuyển sẽ dễ dàng hơn. Cách đó vừa an toàn, vừa nhanh chóng lại không khiến chúng ta phải chia tay nhau. Anh nghĩ sao về kế hoạch này?"

"Được thôi," Tarzan đáp. "Kho báu vẫn ở đó bất cứ khi nào chúng ta đến lấy; và mặc dù tôi có thể tự đi lấy ngay bây giờ và đuổi kịp anh sau một hoặc hai tháng nữa, nhưng tôi sẽ thấy yên tâm hơn khi biết rằng anh không phải đi một mình trên đường mòn. Nhìn sự vô dụng của anh lúc này, D’Arnot, tôi thường tự hỏi làm thế nào mà loài người lại có thể thoát khỏi sự diệt vong qua bao nhiêu thời đại mà anh đã kể cho tôi nghe. Chà, chỉ một mình Sabor thôi cũng đủ sức tiêu diệt một ngàn người như các anh rồi."

D’Arnot phì cười.

"Rồi anh sẽ phải đánh giá cao hơn về giống loài của mình khi được tận mắt chứng kiến những đội quân hùng hậu, những hạm đội hải quân, các thành phố lớn lao và những công trình kỹ sư vĩ đại của họ. Lúc đó anh sẽ nhận ra rằng chính trí tuệ, chứ không phải cơ bắp, mới là thứ giúp con người trở nên vĩ đại hơn cả những dã thú hùng mạnh trong khu rừng của anh."

"Đứng một mình và không tấc sắt trong tay, một con người đơn độc không bao giờ là đối thủ của bất kỳ loài thú lớn nào; nhưng nếu mười người tụ họp lại, họ sẽ kết hợp trí thông minh và sức mạnh của mình để chống lại kẻ thù hung dữ, trong khi loài thú, vì không có khả năng suy luận, sẽ chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện hợp sức lại để chống lại con người. Nếu không phải thế, hỡi Tarzan của loài vượn, anh có thể trụ lại được bao lâu chốn hoang dã tàn khốc này?"

"Anh nói đúng, D’Arnot," Tarzan đáp, "bởi vì nếu đêm hôm đó ở buổi hội múa Dum-Dum mà Kerchak đến ứng cứu cho Tublat, thì đời tôi đã chấm dứt rồi. Nhưng Kerchak không bao giờ đủ khôn ngoan để nhìn xa trông rộng mà chớp lấy những cơ hội như vậy. Ngay cả Kala, mẹ tôi, cũng chưa bao giờ biết lập kế hoạch cho tương lai. Bà chỉ ăn những gì mình cần vào lúc cần thiết, và nếu nguồn thức ăn vô cùng khan hiếm, dẫu cho bà có tìm thấy đủ cho vài bữa đi chăng nữa, bà cũng chẳng bao giờ gom lại để dành."

"Tôi nhớ bà từng cho rằng việc tôi mang theo thức ăn dự trữ trong những chuyến hành quân là một điều vô cùng ngớ ngẩn, mặc dù bà vẫn rất hào hứng ăn chung với tôi nếu dọc đường vô tình không kiếm được gì ăn."

"Thế ra anh biết mẹ mình sao, Tarzan?" D’Arnot ngạc nhiên hỏi.

"Vâng. Bà là một con vượn cái to lớn, tuyệt vời, vóc dáng còn lớn hơn tôi và nặng gấp đôi."

"Còn cha anh thì sao?" D’Arnot hỏi.

"Tôi không biết ông ấy. Kala bảo tôi ông là một con vượn trắng, không có lông lá giống như tôi. Giờ thì tôi biết chắc chắn ông phải là một người đàn ông da trắng."

D’Arnot đăm đăm nhìn người bạn đồng hành của mình một hồi lâu.

"Tarzan," cuối cùng anh cất lời, "chuyện con vượn Kala là mẹ anh là điều không thể nào xảy ra được. Nếu một chuyện như vậy có thật, dẫu tôi vẫn còn nghi ngờ, thì ít ra anh cũng phải thừa hưởng một vài đặc điểm của loài vượn chứ, đằng này thì không—anh hoàn toàn là một con người thuần túy, và theo tôi, anh là dòng dõi của những bậc sinh thành trí thức và mang dòng máu cao quý. Anh không có lấy dù chỉ một manh mối nhỏ về quá khứ của mình sao?"

"Hoàn toàn không có," Tarzan đáp.

"Trong căn chòi không có tài liệu nào có thể kể lại đôi chút về cuộc đời của những chủ nhân đầu tiên của nó ư?"

"Tôi đã đọc mọi thứ có trong chòi, ngoại trừ một cuốn sách mà giờ đây tôi biết là được viết bằng một thứ tiếng khác không phải tiếng Anh. Có lẽ anh đọc được nó đấy."

Tarzan lục tìm cuốn nhật ký màu đen nhỏ xíu ở đáy ống tên rồi đưa cho bạn.

D’Arnot liếc nhìn trang bìa.

"Đây là nhật ký của John Clayton, Lãnh chúa Greystoke, một nhà quý tộc người Anh, và nó được viết bằng tiếng Pháp," anh nói.

Rồi anh bắt đầu đọc cuốn nhật ký được viết từ hơn hai mươi năm về trước, ghi lại chi tiết câu chuyện mà chúng ta đã biết—câu chuyện về những cuộc phiêu lưu, gian khổ và đau thương của John Clayton cùng người vợ Alice, kể từ ngày họ rời nước Anh cho đến khoảnh khắc một giờ trước khi ông bị Kerchak sát hại.

D’Arnot đọc thành tiếng. Có lúc giọng anh nghẹn lại, buộc phải dừng đọc vì sự tuyệt vọng đến xót xa văng vẳng giữa những dòng chữ.

Thỉnh thoảng anh ngước lên nhìn Tarzan; nhưng người vượn vẫn ngồi xổm như một bức tượng tạc, đôi mắt dán chặt xuống mặt đất.

Chỉ đến khi đứa con bé bỏng được nhắc tới, giọng điệu của cuốn nhật ký mới thay đổi khỏi nỗi tuyệt vọng thường trực vốn đã len lỏi vào từng trang giấy sau hai tháng đầu tiên họ đặt chân lên bờ biển.

Khi ấy, những dòng chữ lại phảng phất một niềm hạnh phúc trầm lắng, thậm chí còn bi thương hơn cả những phần còn lại.

Một dòng ghi chép cho thấy một tinh thần tràn đầy hy vọng.

Hôm nay con trai bé bỏng của chúng ta tròn sáu tháng tuổi. Thằng bé đang ngồi trong lòng Alice bên cạnh chiếc bàn tôi đang viết—một đứa trẻ hạnh phúc, khỏe mạnh và hoàn hảo.

Không hiểu sao, dẫu trái ngược với mọi lý trí, tôi dường như thấy thằng bé đã trưởng thành, thay thế vị trí của cha nó trên thế giới này—đời John Clayton thứ hai—và mang lại thêm những vinh quang cho dòng họ Greystoke.

Nơi đó—như để khẳng định cho lời tiên đoán của tôi thêm phần chắc chắn—thằng bé đã chộp lấy cây bút của tôi trong đôi bàn tay bụ bẫm và với những ngón tay nhỏ xíu dính đầy mực, nó đã đóng ấn những dấu vân tay bé xíu của mình lên trang giấy.

Và ngay ở đó, bên lề trang giấy, là những dấu vết còn mờ một phần của bốn ngón tay nhỏ xíu và nửa ngoài của ngón cái.

Khi D’Arnot đọc xong cuốn nhật ký, hai người ngồi im lặng trong suốt mấy phút liền.

"Nào! Tarzan của loài vượn, anh nghĩ sao?" D’Arnot hỏi. "Cuốn sách nhỏ này chẳng lẽ không làm sáng tỏ bí ẩn về thân thế của anh hay sao?"

"Trời ạ, anh chính là Lãnh chúa Greystoke cơ mà."

"Cuốn sách chỉ nhắc đến một đứa trẻ," anh đáp. "Bộ xương nhỏ xíu của nó nằm trong chiếc nôi, nơi nó đã chết vì khóc đòi sữa, từ lần đầu tiên tôi bước chân vào căn chòi cho đến khi nhóm của Giáo sư Porter chôn cất nó cùng cha mẹ nó ngay bên cạnh căn chòi."

"Không, đó chính là đứa bé mà cuốn sách đã đề cập—và bí ẩn về nguồn gốc của tôi lại càng trở nên sâu kín hơn trước, bởi vì dạo này tôi vẫn hay nghĩ đến khả năng căn chòi đó chính là nơi tôi chào đời. Tôi chỉ sợ rằng Kala đã nói sự thật," anh kết luận với giọng buồn bã.

D’Arnot lắc đầu. Anh vẫn chưa bị thuyết phục, và trong tâm trí anh đã nảy sinh quyết tâm chứng minh sự đúng đắn cho giả thuyết của mình, bởi vì anh đã tìm ra chiếc chìa khóa duy nhất có thể mở cánh cửa bí ẩn, hoặc vĩnh viễn niêm phong nó vào cõi vô tận.

Một tuần sau, hai người bất ngờ tiến đến một bãi đất trống trong rừng.

Từ xa xuất hiện vài tòa nhà được bao bọc xung quanh bởi một hàng rào cọc kiên cố. Trải dài giữa họ và khu vực rào chắn là một cánh đồng canh tác nơi có một số người da đen đang làm việc.

Cả hai dừng chân ở bìa rừng.

Tarzan lắp một mũi tên tẩm độc vào cung, nhưng D’Arnot đưa tay đặt lên cánh tay anh.

"Tarzan, anh định làm gì thế?" anh hỏi.

"Họ sẽ tìm cách giết chúng ta nếu nhìn thấy chúng ta," Tarzan đáp. "Tôi thích làm kẻ ra tay trước hơn."

"Biết đâu họ lại là bạn thì sao," D’Arnot gợi ý.

"Họ là người da đen," đó là câu trả lời duy nhất của Tarzan.

Và anh lại giương cung lên lần nữa.

"Anh không được làm thế, Tarzan!" D’Arnot hét lên. "Người da trắng không giết chóc vô cớ. Chúa tôi! Anh còn nhiều điều phải học lắm đấy."

"Hỡi người hoang dã của tôi, tôi thực sự thương hại tên côn đồ nào dám cản đường anh khi tôi đưa anh đến Paris. Tôi sẽ phải bận rộn lắm đây để giữ cho cái cổ của anh không bị văng xuống máy chém."

Tarzan hạ cung xuống và mỉm cười.

"Tôi không hiểu tại sao tôi có thể giết những người da đen đằng kia trong khu rừng của mình, nhưng lại không được giết họ ở đây. Giả sử Numa, con sư tử, đột ngột lao vào chúng ta, lúc đó chắc tôi phải nói thế này: Chào buổi sáng ngài Numa, phu nhân Numa dạo này thế nào rồi nhỉ?"

"Hãy đợi đến khi những người da đen đó lao vào tấn công anh," D’Arnot đáp, "lúc đó anh mới được quyền giết họ. Đừng vội coi mọi người là kẻ thù cho đến khi họ chứng minh điều đó."

"Nào," Tarzan nói, "chúng ta hãy đến và tự nộp mình cho họ giết xem sao," rồi anh bước thẳng băng qua cánh đồng, ngẩng cao đầu dưới cái nắng nhiệt đới đang thiêu đốt làn da nâu mịn màng.

Đi ngay sau anh là D’Arnot, khoác trên mình bộ quần áo mà Clayton từng bỏ lại căn chòi khi các sĩ quan chiến hạm Pháp trang hoàng cho ông ta một diện mạo bảnh bao hơn.

Ngay lúc đó, một người da đen ngẩng lên, vừa nhìn thấy Tarzan liền hét toáng lên rồi tháo chạy về phía hàng rào cọc.

Trong chớp mắt, không gian ngập tràn những tiếng kêu hoảng loạn của những người làm vườn đang tháo chạy, nhưng trước khi có ai kịp chạy đến hàng rào, một người đàn ông da trắng tay lăm lăm súng trường đã bước ra từ bên trong khu rào chắn để tìm hiểu nguyên nhân của sự náo động.

Cảnh tượng đập vào mắt khiến anh ta giơ ngay súng lên ngắm bắn, và Tarzan của loài vượn có lẽ đã phải ăn đạn lạnh ngắt một lần nữa nếu D’Arnot không cất tiếng kêu lớn với người đang cầm súng nhắm thẳng về phía họ:

"Đừng bắn! Chúng tôi là bạn!"

"Đứng lại đó!" câu trả lời vọng lại.

"Dừng lại, Tarzan!" D’Arnot kêu lên. "Anh ta tưởng chúng ta là kẻ thù."

Tarzan chuyển sang đi bộ thong thả, cùng với D’Arnot tiến về phía người đàn ông da trắng đứng gần cổng.

Người đó nheo mắt nhìn họ với vẻ bối rối tột cùng.

"Các anh là người loại nào vậy?" anh ta cất tiếng hỏi bằng tiếng Pháp.

"Những người da trắng," D’Arnot đáp. "Chúng tôi đã bị lạc trong rừng sâu từ lâu lắm rồi."

Người đàn ông đã hạ súng xuống và tiến lại gần với cánh tay đưa ra.

"Tôi là Cha Constantine thuộc tu viện Pháp ở đây," ông nói, "và tôi rất vui được chào đón các vị."

"Đây là ngài Tarzan, thưa cha Constantine," D’Arnot đáp lời, vừa chỉ tay về phía người vượn; và khi vị linh mục chìa tay ra với Tarzan, D’Arnot nói thêm: "còn tôi là Paul D’Arnot, thuộc Hải quân Pháp."

Cha Constantine nắm lấy bàn tay mà Tarzan đưa ra phỏng theo hành động của vị linh mục, trong khi ánh mắt sắc sảo nhanh chóng đảo qua vóc dáng tuyệt mỹ và gương mặt khôi ngô của anh.

Và cứ thế, Tarzan của loài vượn đã đặt chân đến tiền đồn đầu tiên của nền văn minh nhân loại.

Họ lưu lại đó trong một tuần, và người vượn với đôi mắt tinh tường đã học hỏi được rất nhiều điều về cung cách của con người; trong khi đó những phụ nữ da đen khâu vá những bộ quần áo vải thô màu trắng cho anh và D’Arnot để họ có thể tiếp tục hành trình với trang phục chỉnh tề.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.