Và họ cũng chẳng phải chờ đợi lâu, bởi ngay sáng hôm sau, khi Clayton bước lên boong tàu để đi dạo quen thuộc trước bữa ăn sáng, một tiếng súng vang lên, rồi tiếng thứ hai, và tiếng thứ ba.
Cảnh tượng đập vào mắt anh đã xác nhận những nỗi sợ hãi tồi tệ nhất của anh. Đối diện với nhóm sĩ quan nhỏ bé là toàn bộ thủy thủ đoàn ô hợp của chiếc Fuwalda, và đứng đầu bọn chúng là Black Michael.
Ngay từ loạt đạn đầu tiên của các sĩ quan, đám đông liền chạy tìm chỗ ẩn nấp, rồi từ những vị trí thuận lợi sau cột buồng, nhà lái và cabin, chúng bắn trả năm con người đang đại diện cho uy quyền đáng ghét của con tàu.
Hai người trong số họ đã ngã gục trước khẩu súng lục của thuyền trưởng. Họ nằm đó, ở khoảng giữa nơi hai bên đang giao tranh. Nhưng rồi vị thuyền phó thứ nhất chúi nhủi mặt xuống sàn, và theo tiếng thét ra lệnh của Black Michael, lũ làm phản lao về phía bốn người còn lại. Thủy thủ đoàn chỉ gom được sáu khẩu súng, nên phần lớn bọn chúng vũ khí toàn móc câu, rìu, rìu nhỏ và xà beng.
Thuyền trưởng đã bắn hết đạn trong khẩu súng lục và đang nạp lại đạn khi cuộc tấn công diễn ra. Súng của thuyền phó thứ hai bị kẹt đạn, thế nên chỉ còn lại hai thứ vũ khí chống lại đám phản loạn khi chúng lao sầm vào các sĩ quan—những người lúc này bắt đầu lùi lại trước sức ép cuồng nộ của đám thuộc hạ.
Cả hai bên đều gầm gào và chửi rủa bằng những lời lẽ khủng khiếp; điều đó, cộng với tiếng súng nổ cùng tiếng thét gào và rên rỉ của những kẻ bị thương, đã biến boong tàu Fuwalda chẳng khác nào một nhà thương điên.
Chưa đầy chục bước lùi của các sĩ quan, đám thủy thủ đã ập tới nơi. Một cú rìu trong tay tên da đen lực lưỡng chém thẳng từ trán xuống cằm vị thuyền trưởng, và chỉ một khoảnh khắc sau, những người khác cũng ngã gục: chết hoặc bị thương nặng bởi hàng chục cú đánh và vết đạn.
Cuộc lật đổ của đám thủy thủ tàu Fuwalda diễn ra ngắn ngủi và rùng rợn là thế, vậy mà suốt dọc sự việc, John Clayton vẫn thản nhiên đứng tựa lưng vào lối ra vào hầm tàu, ngậm tẩu thuốc phì phà như thể anh đang thưởng thức một trận đấu cricket chẳng mấy bận tâm.
Khi sĩ quan cuối cùng ngã xuống, anh nghĩ đã đến lúc mình nên quay về với vợ, kẻo có tên thủy thủ nào đó phát hiện cô đang ở một mình dưới khoang.
Dù bên ngoài tỏ ra bình thản và dửng dưng, bên trong Clayton lại vô cùng lo lắng và căng thẳng, bởi anh sợ cho sự an toàn của vợ mình khi rơi vào tay đám người thô lỗ, nửa người nửa thú này—thứ định mệnh đã nhẫn tâm ném họ vào đó.
Khi quay người bước xuống bậc thang, anh ngạc nhiên khi thấy vợ mình đang đứng ngay gần đó.
“Em ở đây từ bao giờ thế, Alice?”
“Từ lúc bắt đầu,” cô đáp. “Thật kinh khủng, John. Ồ, thật khủng khiếp làm sao! Chúng ta có thể trông mong điều gì từ những kẻ như thế chứ?”
“Một bữa sáng, anh hy vọng vậy,” anh đáp, mỉm cười đầy can đảm nhằm xoa dịu nỗi sợ của cô.
“Ít ra,” anh nói thêm, “anh sẽ đi hỏi bọn chúng. Đi với anh nào, Alice. Chúng ta không được để chúng nghĩ rằng mình chờ đợi bất cứ điều gì khác ngoài sự đối xử lịch thiệp.”
Lúc này đám đông đã vây quanh những sĩ quan đã chết và bị thương, không mảy may thiên vị hay thương xót, chúng cứ thế ném cả người sống lẫn người chết xuống mạn tàu. Với sự tàn nhẫn không kém, chúng cũng xử lý luôn những kẻ thiệt mạng và hấp hối thuộc phe mình.
Chợt một tên thủy thủ nhìn thấy vợ chồng Clayton đang tiến lại gần, bèn thét lên: “Thêm hai đứa nữa cho cá mập đây,” rồi lao thẳng về phía họ với cây rìu giơ cao.
Nhưng Black Michael còn nhanh tay hơn thế, khiến tên kia ngã gục với một viên đạn cắm sâu sau lưng khi chưa đi nổi nửa tá bước.
Bằng một tiếng gầm lớn, Black Michael thu hút sự chú ý của những kẻ khác, rồi chỉ tay về phía vợ chồng lãnh chúa Greystoke và thét lên:
“Đây là bạn tao, và bọn họ phải được để yên. Chúng mày hiểu chưa?”
“Tao là thuyền trưởng con tàu này rồi, và tao nói gì là phải nghe theo đấy,” hắn quay sang nói với Clayton. “Cứ ở yên một mình đi, không ai hại các người đâu,” và hắn liếc nhìn đám đồng bọn với ánh mắt đe dọa.
Vợ chồng Clayton tuân thủ mệnh lệnh của Black Michael rất chặt chẽ, tới mức họ hầu như chẳng gặp mặt thủy thủ đoàn và chẳng hay biết gì về những kế hoạch mà bọn chúng đang bàn tính.
Thỉnh thoảng, họ nghe thấy những tiếng vọng mờ nhạt từ các cuộc cãi vã và xô xát giữa đám phản loạn, và có hai lần, tiếng súng đanh ác ôn vang lên giữa bầu không khí tĩnh lặng. Nhưng Black Michael quả là một kẻ cầm đầu xứng tầm cho băng cướp biển này, và dẫu sao hắn vẫn giữ được trật tự kha khá dưới quyền cai trị của mình.
Vào ngày thứ năm kể từ vụ sát hại các sĩ quan trên tàu, người gác mái quan sát đã nhìn thấy đất liền. Dù là đảo hay đất liền, Black Michael không hề hay biết, nhưng hắn thông báo với Clayton rằng nếu việc thám khảo cho thấy nơi đó có người ở, thì anh và phu nhân Greystoke sẽ được đưa lên bờ cùng toàn bộ hành lý.
“Các người sẽ ổn ở đó trong vài tháng,” hắn giải thích, “và đến lúc đó chúng tôi sẽ tìm được một bờ biển có người sinh sống để tản đi nơi khác. Sau đó tao sẽ lo báo cho chính quyền của tụi mày biết các người đang ở đâu, và chúng sẽ sớm phái một chiến thuyền đến đón các người về.”
“Đưa các người trở về nền văn minh sẽ là chuyện khó khăn nếu không muốn bị gặng hỏi hàng tá điều, mà trong số chúng ta ở đây chẳng có ai sẵn sàng câu trả lời thuyết phục nào trong tay cả.”
Clayton phản đối sự vô nhân đạo của việc thả họ xuống một bờ biển xa lạ để mặc cho sự phó mặc của thú dữ, và có lẽ, cả những con người còn dã thú hơn.
Nhưng những lời nói của anh chẳng có tác dụng gì, mà chỉ khiến Black Michael thêm nổi giận, thế nên anh đành phải ngậm tăm và tìm cách thích nghi tốt nhất với hoàn cảnh tồi tệ này.
Khoảng ba giờ chiều, tàu tiến đến sát một bờ biển ngập tràn cây cối xanh tươi, nằm đối diện với cửa của một vũng biển kín gió.
Black Michael phái một chiếc thuyền nhỏ chở đầy người đi đo độ sâu lối vào nhằm xác định xem tàu Fuwalda có thể qua lại an toàn hay không.
Khoảng một tiếng sau, họ quay lại và báo cáo rằng luồng nước sâu xuyên suốt qua lối đi cũng như vào sâu bên trong vụng nước nhỏ.
Trước khi trời tối, chiếc tàu buồm đã thả neo yên bình trên mặt nước phẳng lặng như gương của vũng biển.
Vùng bờ biển bao quanh đẹp lộng lẫy với thảm thực vật bán nhiệt đới, trong khi ở phía xa, đất liền nhô lên từ đại dương thành những ngọn đồi và cao nguyên, hầu như được bao phủ đồng đều bởi khu rừng nguyên sinh.
Không có dấu hiệu nào của sự sống con người xuất hiện, nhưng vùng đất này hoàn toàn có thể nuôi sống con người, điều đó được minh chứng qua số lượng phong phú các loài chim muông và thú vật mà những người quan sát trên boong tàu Fuwalda thỉnh thoảng thoáng bắt gặp, cũng như qua ánh lấp lánh của một dòng sông nhỏ đổ ra vũng biển, đảm bảo nguồn nước ngọt dồi dào.
Khi màn đêm buông xuống mặt đất, Clayton và phu nhân Alice vẫn đứng bên mạn tàu, trầm ngâm lặng lẽ nhìn ngắm chốn trú ngụ tương lai của họ. Từ bóng tối mịt mùng của khu rừng hùng vĩ vang lên những tiếng kêu hoang dã của loài thú dữ—tiếng gầm trầm đục của sư tử, và thỉnh thoảng là tiếng thét sắc lẹm của một con báo lửa.
Người phụ nữ nép sát vào người đàn ông với nỗi sợ hãi tột cùng về những điều kinh khủng đang chực chờ họ trong màn đêm đen kịch của những ngày sắp tới, khi họ chỉ có một mình trên bờ biển hoang vu và quạnh quẽ ấy.
Lúc tối muộn, Black Michael đến gặp họ đủ lâu để dặn dò họ chuẩn bị sẵn sàng cho việc lên bờ vào ngày mai. Họ cố nài nỉ hắn đưa tới một bờ biển nào đó hiếu khách hơn, đủ gần với nền văn minh để có thể hy vọng rơi vào những bàn tay thân thiện. Nhưng mọi lời nài nỉ, đe dọa hay hứa hẹn phần thưởng đều chẳng thể lay chuyển được hắn.
“Tao là người duy nhất trên tàu không muốn thấy hai người chết an toàn, và dù tao biết đó mới là cách khôn ngoan để giữ lấy cái cổ của chính mình, thì Black Michael này không phải kẻ quên ơn. Các người từng cứu mạng tao, và để trả ơn tao sẽ tha mạng cho các người, nhưng đó là tất cả những gì tao có thể làm.”
“Đám thủy thủ sẽ không chịu để yên đâu, và nếu chúng ta không đưa các người lên bờ thật nhanh, bọn chúng có thể thay đổi ý định về việc cho các người hưởng chút ân huệ đó đấy. Tao sẽ chuyển toàn bộ đồ đạc của các người lên bờ cùng với dụng cụ nấu ăn, vài tấm buồm cũ làm lều, và đủ lương thực cho các người sống qua ngày cho đến khi tìm được hoa quả và thú rừng.”
“Với mấy khẩu súng để tự vệ, các người hẳn sẽ sống ở đây dễ dàng cho đến khi có người đến cứu. Khi tao đã trốn thoát an toàn, tao sẽ đảm bảo chính quyền Anh biết các người ở đâu; dù có chết tao cũng chẳng thể nói chính xác ở đâu vì chính tao còn chẳng rõ nữa cơ mà. Nhưng thế nào họ cũng tìm được các người thôi.”
Sau khi hắn rời đi, họ lầm lũi quay xuống khoang tàu, mỗi người đều chìm trong những nỗi lo âu tối tăm.
Clayton không tin rằng Black Michael có chút ý định nào báo cho chính quyền Anh biết vị trí của họ, anh cũng chẳng lấy gì làm chắc chắn rằng sẽ không có âm mưu hiểm độc nào được trù tính cho ngày mai, khi họ đặt chân lên bờ cùng với những tên thủy thủ phải đi theo để mang đồ đạc giúp họ.
Một khi đã khuất tầm mắt của Black Michael, bất kỳ tên nào trong số bọn chúng cũng có thể ra tay sát hại họ mà vẫn giữ cho lương tâm Black Michael được thảnh thơi.
Và ngay cả khi họ thoát khỏi số phận đó, chẳng phải họ sẽ phải đối mặt với những hiểm họa lớn hơn nhiều sao? Một mình anh thì có thể hy vọng sống sót qua nhiều năm; bởi anh là một người đàn ông khỏe mạnh, vạm vỡ.
Nhưng còn Alice thì sao, và cả sinh linh bé nhỏ kia nữa, chẳng mấy chốc sẽ chào đời giữa những gian khó và hiểm nguy ngút trời của một thế giới nguyên thủy?
Người đàn ông rùng mình khi nghĩ đến sự nghiêm trọng tột cùng và sự bất lực đáng sợ trong hoàn cảnh của họ. Nhưng thật là một sự quan phòng nhân từ đã ngăn không cho anh thấy trước thực tại ghê rợn đang chờ đợi họ trong cõi sâu thẳm lạnh lẽo của khu rừng âm u ấy.
Sáng sớm hôm sau, những chiếc rương và hòm xiểng nặng nhọc của họ được cẩu lên boong rồi hạ xuống những chiếc thuyền nhỏ đang đợi sẵn để chuyển vào bờ.
Số lượng đồ đạc rất nhiều và đa dạng, bởi vợ chồng Clayton từng dự tính có thể sẽ sinh sống từ năm đến tám năm tại tổ ấm mới. Do đó, ngoài vô số vật dụng thiết yếu mang theo, họ còn có cả nhiều đồ xa xỉ.
Black Michael quyết định rằng không được để sót lại bất cứ thứ gì thuộc về nhà Clayton trên tàu. Dù là vì lòng trắc ẩn dành cho họ hay nhằm mưu cầu lợi ích riêng cho bản thân, thật khó mà nói rõ.
Không có gì phải bàn cãi khi sự hiện diện tài sản của một quan chức Anh mất tích trên một con tàu khả nghi sẽ là điều rất khó giải thích ở bất kỳ cảng biển văn minh nào trên thế giới.
Hắn tỏ ra vô cùng nhiệt tình trong việc thực thi ý định của mình đến mức khăng khăng đòi những tên thủy thủ đang giữ phải trả lại các khẩu súng lục cho Clayton.
Những chiếc thuyền nhỏ cũng được chất đầy thịt muối và bánh quy, một ít khoai tây và đậu, diêm, các dụng cụ nấu ăn, một rương đồ nghề, cùng những tấm buồm cũ mà Black Michael đã hứa.
Cứ như thể chính hắn đang sợ hãi điều mà Clayton từng hoài nghi, Black Michael đã đi cùng họ vào bờ và là người cuối cùng rời đi khi những chiếc thuyền nhỏ, sau khi đã bơm đầy các thùng nước ngọt của tàu, được đẩy ra hướng về phía chiếc Fuwalda đang neo chờ.
Khi những chiếc thuyền di chuyển chậm chạp trên mặt nước phẳng lặng của vịnh, Clayton và vợ lặng lẽ đứng nhìn theo chúng rời đi—trong lòng cả hai dâng lên cảm giác về một thảm họa cận kề và sự tuyệt vọng khôn cùng.
Và ngay phía sau họ, bên kia rìa của một gò đất thấp, những đôi mắt khác đang dõi theo—những đôi mắt nhỏ hẹp, đầy ác ý, lấp lánh dưới hàng lông mày rậm rạp.
Khi chiếc Fuwalda lướt qua lối vào hẹp của vũng biển rồi khuất dạng sau một mõm đá nhô ra, phu nhân Alice liền ôm chầm lấy cổ Clayton và òa khóc nức nở không kìm nén được.
Cô đã dũng cảm đối mặt với những hiểm nguy trong vụ nổi loạn; với sự kiên cường anh dũng, cô đã nhìn thẳng vào tương lai khủng khiếp; nhưng giờ đây, khi nỗi kinh hoàng của sự cô lập tuyệt đối đã giáng xuống, thần kinh vốn căng như dây đàn của cô cuối cùng đã sụp đổ và phản ứng trào ra.
Anh không hề cố gắng ngăn những giọt nước mắt của cô. Để tự nhiên bộc lộ sẽ tốt hơn trong việc giải tỏa những cảm xúc dồn nén bấy lâu, và phải mất rất nhiều phút cô gái trẻ—thực ra cô vẫn chưa qua tuổi thiếu niên—mới có thể lấy lại được sự bình tĩnh cho bản thân.
“Ôi, John,” cuối cùng cô kêu lên, “sự kinh hoàng này mới đáng sợ làm sao. Chúng ta phải làm gì đây? Chúng ta phải làm gì đây?”
“Chỉ có một việc phải làm thôi, Alice,” và anh cất giọng bình thản hệt như lúc họ đang ngồi trong phòng khách ấm cúng ở quê nhà, “đó là làm việc. Công việc phải là sự cứu rỗi của chúng ta. Chúng ta không được cho phép bản thân có thời gian để suy nghĩ, bởi đi theo hướng đó chỉ có nước phát điên mà thôi.”
“Chúng ta phải làm việc và chờ đợi. Anh chắc chắn rằng cứu viện sẽ đến, và sẽ đến rất nhanh, ngay khi người ta nhận ra chiếc Fuwalda đã mất tích, dẫu cho Black Michael có không giữ lời hứa với chúng ta đi chăng nữa.”
“Nhưng John, nếu chỉ có anh và em,” cô nức nở, “em biết chúng ta có thể chịu đựng được; nhưng mà—”
“Đúng vậy, em yêu,” anh dịu dàng đáp lời, “anh cũng đã nghĩ đến điều đó; nhưng chúng ta phải đối mặt với nó, cũng như phải đối mặt với bất cứ chuyện gì xảy ra, một cách can đảm và với niềm tin tưởng tuyệt đối vào khả năng xoay sở trước mọi hoàn cảnh, dù chúng có ra sao đi nữa.”
“Hàng trăm ngàn năm trước, tổ tiên của chúng ta từ thuở hồng hoang xa xôi đã từng đối mặt với chính những vấn đề mà chúng ta đang phải đối mặt, có lẽ cũng chính trong những khu rừng nguyên sinh này. Việc chúng ta có mặt ở đây ngày hôm nay chính là minh chứng cho chiến thắng của họ.”
“Những gì họ đã làm, chẳng lẽ chúng ta không thể làm được sao? Thậm chí còn tốt hơn nữa, bởi chẳng phải chúng ta đang được trang bị tri thức vượt trội của cả thời đại, chẳng phải chúng ta có trong tay các phương tiện bảo vệ, phòng thủ và duy trì sự sống mà khoa học đã ban tặng, trong khi họ hoàn toàn mù tịt đó sao? Những gì họ đã đạt được, Alice, bằng các công cụ và vũ khí bằng đá và xương, chắc chắn chúng ta cũng có thể đạt được điều đó.”
“À, John, em ước gì mình có thể là một người đàn ông với triết lý của đàn ông, nhưng em chỉ là một người phụ nữ, nhìn nhận bằng trái tim thay vì bằng lý trí, và tất cả những gì em thấy đều quá khủng khiếp, quá không thể tưởng tượng nổi để thốt thành lời.”
“Em chỉ hy vọng anh đúng, John. Em sẽ cố gắng hết sức để trở thành một người phụ nữ nguyên thủy kiên cường, một người bạn đời xứng đáng của người đàn ông nguyên thủy.”
Ý nghĩ đầu tiên của Clayton là sắp xếp một nơi trú ẩn để ngủ qua đêm; thứ gì đó có thể bảo vệ họ khỏi lũ thú săn mồi đi hoang.
Anh mở chiếc hộp đựng súng trường và đạn dược để cả hai đều có vũ khí phòng thân trong lúc làm việc, rồi họ cùng nhau tìm kiếm một địa điểm để dựng chỗ ngủ cho đêm đầu tiên.
Cách bờ biển khoảng một trăm thước là một khoảng đất bằng phẳng nhỏ, khá quang đãng ít cây cối; họ quyết định sau này sẽ xây một ngôi nhà kiên cố ở đây, nhưng trước mắt cả hai đều nghĩ tốt nhất nên dựng một cái sàn nhỏ trên cây, nằm ngoài tầm với của những loài thú dữ to lớn thuộc vương quốc mà họ đang đặt chân tới.
Vì mục đích đó, Clayton chọn bốn thân cây tạo thành một hình chữ nhật rộng chừng tám thước vuông, rồi cắt những cành dài từ các cây khác để làm khung bao quanh chúng, cách mặt đất khoảng mười thước, đồng thời buộc chặt các đầu cành vào thân cây bằng dây thừng—một số lượng lớn dây mà Black Michael đã cung cấp cho anh từ hầm tàu Fuwalda.
Vắt ngang qua khung này, Clayton đặt thêm những cành nhỏ khác thật sát nhau. Chiếc sàn này được anh lát bằng những chiếc lá ráu khổng lồ mọc rợp quanh đó, và bên trên các lớp lá, anh trải một tấm buồm lớn gấp lại thành nhiều lớp.
Cao hơn bảy thước, anh dựng một chiếc sàn tương tự nhưng nhẹ hơn để làm mái che, và từ các phía của nó, anh treo thõng phần vải bạt buồm còn lại xuống để làm tường.
Khi hoàn thành, anh có được một chiếc tổ nhỏ khá ấm cúng, nơi anh mang chăn mền cùng một số hành lý nhẹ lên đó.
Lúc này trời đã muộn và khoảng thời gian ban ngày còn lại được dành để làm một chiếc thang thô sơ giúp phu nhân Alice có thể leo lên ngôi nhà mới của mình.
Suốt cả ngày hôm đó, khu rừng xung quanh họ tràn ngập những chú chim rực rỡ sắc lông đang phấn khích cùng bầy khỉ nhảy nhót, chí chóe, chăm chú quan sát những vị khách mới đến cùng công việc dựng tổ kỳ diệu của họ với tất cả vẻ hào hứng và say mê tột độ.
Mặc dù cả Clayton lẫn vợ đều giữ cảnh giác cao độ, họ không hề nhìn thấy con thú lớn nào, dẫu có hai lần họ thấy những người hàng xóm giống khỉ của mình vừa thét chói tai vừa nhảy nhót chạy từ gò đất gần đó tới, ngoái đầu lại với ánh mắt sợ hãi qua bờ vai nhỏ bé, thể hiện rõ mồn một qua hành động như thể chúng đang trốn chạy một thứ gì đó kinh khủng đang ẩn nấp ở nơi ấy.
Ngay trước chạng vạng, Clayton làm xong chiếc thang, và sau khi múc đầy nước vào một chiếc chậu lớn từ dòng suối gần đó, cả hai leo lên sự an toàn tương đối của căn phòng trên không trung của họ.
Vì trời khá oi bức, Clayton đã vén những tấm rèm vách sang một bên mái, và khi họ đang ngồi khoanh chân như người Thổ Nhĩ Kỳ trên những chiếc chăn, phu nhân Alice đang căng mắt nhìn vào bóng tối mịt mùng của khu rừng chợt vươn tay ra nắm chặt lấy cánh tay Clayton.
“John,” cô thì thầm, “nhìn kìa! Cái gì thế nhỉ, một con người ư?”
Khi Clayton hướng mắt về phía cô chỉ, anh nhìn thấy lờ mờ bóng dáng in hằn lên màn đêm phía bên kia, một sinh vật to lớn đang đứng thẳng trên gò đất.
Nó đứng đó một lát như thể đang lắng nghe rồi từ từ quay người lại, hòa mình vào bóng tối của chốn rừng rậm.
“Cái gì thế anh, John?”
“Anh không rõ nữa, Alice,” anh nghiêm nghị đáp, “trời tối quá nên không nhìn rõ đằng xa được, và biết đâu đó chỉ là cái bóng do ánh trăng mới mọc hắt lên thôi.”
“Không, John, nếu không phải con người thì đó cũng là một hình hài nhại lại con người thật to lớn và kỳ dị. Ồ, em sợ lắm.”
Anh ôm trọn cô vào lòng, thì thầm những lời dũng cảm và yêu thương vào tai cô.
Ngay sau đó, anh kéo những tấm rèm tường xuống, buộc chặt chúng vào các thân cây sao cho ngoại trừ một khoảng hở nhỏ hướng về phía bờ biển, toàn bộ không gian đều được che chắn kín mít.
Vì lúc này bên trong tổ chim nhỏ bé đã tối đen như mực, họ nằm xuống những tấm chăn với hy vọng tìm kiếm được chút khoảng lặng quên lãng ngắn ngủi thông qua giấc ngủ.
Clayton nằm quay mặt về phía khoảng hở ở phía trước, bên tay sẵn sàng một khẩu súng trường và một cặp súng lục.
Vừa lúc họ chợp mắt thì tiếng thét kinh hoàng của một con báo lửa vang lên từ khu rừng rậm phía sau họ. Nó tiến lại gần hơn mãi cho đến khi họ có thể nghe rõ con thú lớn đang đứng ngay bên dưới. Suốt hơn một tiếng đồng hồ, họ nghe tiếng nó hít hà và cào cấu vào những thân cây chống đỡ chiếc sàn, nhưng cuối cùng nó cũng bỏ đi về phía bãi biển, nơi Clayton có thể nhìn thấy nó rõ mồn một dưới ánh trăng rực rỡ—một con thú to lớn, đẹp đẽ, là con vật lớn nhất mà anh từng thấy.
Trong suốt những giờ dài đằng đẵng của đêm đen, họ chỉ chợp mắt được từng giấc ngủ chập chờn, bởi những âm thanh ban đêm của một khu rừng lớn tràn ngập vô số loài động vật đã khiến thần kinh vốn căng thẳng của họ luôn ở trạng thái chực chờ, để rồi hàng trăm lần họ bị đánh thức giật mình bởi những tiếng thét xé tai hay tiếng di chuyển lén lút của những thân hình to lớn ngay bên dưới.