Hai người không thể sống mà cũng chẳng thể chết nếu phải lìa xa nhau, bởi sinh mạng và cái chết đối với họ đã hòa làm một; và Tristan đành trốn chạy nỗi đau thương qua những hải đảo, biển khơi cùng muôn vàn vùng đất.
Chàng tiếp tục phiêu bạt qua các vùng biển và đảo khơi để trốn tránh nỗi buồn, cho đến khi cuối cùng trở về vương quốc Lyonesse của mình. Tại đó, Rohalt – người giữ trọn niềm tin – đã chào đón chàng trong những giọt nước mắt hạnh phúc và gọi chàng bằng tiếng "con". Thế nhưng, chàng chẳng thể tìm thấy sự bình yên trên chính mảnh đất quê hương, để rồi lại một lần nữa lên đường, rong ruổi qua biết bao vương quốc lẫn lãnh địa để tìm kiếm những cuộc phiêu lưu. Từ Lyonesse đến Vùng Thấp, từ Vùng Thấp sang đất nước của người German; rồi qua xứ German để tiến vào Tây Ban Nha. Chàng đã phò tá cho không biết bao nhiêu lãnh chúa và lập nên vô số chiến công. Thế nhưng suốt hai năm trời, chẳng một tin tức nào từ Cornwall truyền đến tai chàng, chẳng một người bạn hay sứ giả nào ghé thăm. Khi ấy, chàng thầm nghĩ rằng Iseult đã quên mất mình rồi.
Rồi bỗng vào một ngày nọ, khi đang cùng Gorvenal phi ngựa độc hành, chàng đặt chân đến xứ Brittany. Họ băng qua một vùng đồng bằng tiêu điều với những bức tường đổ nát, những ngôi làng hoang phế, những cánh đồng cháy trụi và mặt đất vắng bóng con người. Tristan thầm nghĩ:
“Ta đã mệt mỏi lắm rồi, và những chiến công chẳng đem lại cho ta chút lợi ích gì; người thương của ta đang ở chốn xa xôi và ta sẽ chẳng bao giờ gặp lại nàng nữa. Hay vì sao suốt hai năm qua nàng chẳng hề có lấy một động tĩnh, chẳng phái một sứ giả nào đi tìm kẻ lang thang này? Hẳn là ở Tintagel, vua Mark đang sủng ái nàng và nàng đang vui vướng bên ông ta. Chiếc chuông thần nhỏ bé kia quả thực đã làm rất tốt việc của nó; bởi nàng đã chẳng còn nhớ mấy, hay đúng hơn là chẳng mặn mà gì với những niềm vui và nỗi buồn thuở trước, cũng chẳng mến tiếc gì ta khi ta đang phiêu dạt chốn hoang vu này. Ta cũng sẽ quên đi.”
Vào ngày thứ ba, khi thời khắc điểm đúng ngọ, Tristan và Gorvenal đi đến gần một ngọn đồi nơi có một nhà nguyện cổ tọa lạc, ngay sát bên cạnh là một thất ẩn tu. Tristan bèn hỏi đây là vùng đất tiêu điều nào, và vị ẩn sĩ đáp lời:
“Thưa lãnh chúa, đây là xứ Breton dưới quyền cai trị của Công tước Hoël. Xưa kia nơi đây từng trù phú với những đồng cỏ ngút ngàn và ruộng đồng phì nhiêu, nhưng Bá tước Riol thành Nantes đã tàn phá nó. Ngài phải biết rằng Bá tước Riol vốn là chư hầu của Công tước. Mà ng Công tước lại có một người con gái đẹp tuyệt trần trong số các vương nữ, và Bá tước Riol muốn cưới nàng làm vợ; thế nhưng phụ thân nàng đã từ chối gả cho một kẻ bề tôi, khiến Bá tước Riol định dùng vũ lực để cướp nàng đi. Đã có biết bao nhiêu người bỏ mạng vì mối thù ấy rồi.”
Và Tristan hỏi:
“Liệu Công tước có thể tiếp tục cuộc chiến này chăng?”
Vị ẩn sĩ đáp:
“Thưa ngài, thật khó lòng; dù vậy, thành trì cuối cùng của ngài là Carhaix vẫn đang kiên cường cầm cự, bởi tường thành vô cùng kiên cố, lại thêm ý chí sắt đá của Kaherdin – con trai Công tước, một dũng sĩ vô cùng tài ba và gan dạ. Chỉ có điều, kẻ địch đang vây hãm họ tứ bề và bỏ đói họ. Họ đang phải chật vật lắm mới giữ được lâu đài của mình.”
Tristan bèn hỏi tiếp:
“Thành Carhaix này cách đây bao xa?”
“Thưa ngài,” vị ẩn sĩ đáp, “chỉ cách chừng hai dặm nữa theo hướng này thôi.”
Đoạn, Tristan và Gorvenal ngả lưng nghỉ ngơi, bởi trời đã chập tối.
Sáng hôm sau, khi đã ngủ đẫ giấc, khi vị ẩn sĩ làm lễ xong và sẻ chia mẩu bánh mì đen ít ỏi của mình với họ, Tristan liền gửi lời cảm ơn rồi phóng ngựa phi nhanh đến Carhaix. Khi dừng chân dưới những bức tường thành cao vút, chàng trông thấy một nhúm người đứng sau các chiến lũy, bèn cất tiếng hỏi xem Công tước có đang ở đó cùng người con trai Kaherdin hay không. Lúc bấy giờ, Công tước Hoël đang đứng giữa họ; và khi ông cất tiếng "có", Tristan liền ngẩng đầu gọi lớn:
“Ta chính là Tristan, Vua xứ Lyonesse, và Mark xứ Cornwall là chú ruột của ta. Ta nghe nói chư hầu của ngài đang đối xử bất công với ngài, và ta đến đây để dâng thanh gươm của mình phò tá ngài.”
“Hỡi lãnh chúa Tristan, than ôi, xin ngài hãy tiếp tục cuộc hành trình của mình và xin Chúa phù hộ cho ngài, bởi ở đồn lũy này chúng ta chẳng còn chút lương thực nào nữa; không lúa mì, không thịt thà, cũng chẳng còn kho dự trữ gì ngoài đậu lăng và một ít yến mạch sót lại.”
Nhưng Tristan đáp rằng:
“Ta từng sống trong rừng suốt hai năm trời, chẳng ăn gì ngoài rễ cây và thảo mộc; vậy mà ta vẫn thấy đó là một cuộc đời tốt đẹp, thế nên ngài hãy mau mở cửa đi.”
Họ chào đón chàng với tất cả sự kính trọng, và Kaherdin dẫn chàng đi xem bức tường thành cùng tháp canh kiên cố với mọi cơ ngơi phòng thủ. Từ trên các chiến lũy, chàng chỉ cho Tristan thấy vùng đồng bằng nơi lều trại của Bá tước Riol đangấp lấp lánh từ đằng xa. Và khi họ đã trở xuống lâu đài, chàng quay sang nói với Tristan rằng:
“Bạn tôi ơi, chúng ta hãy vào sảnh đường nơi mẹ và em gái tôi đang ngồi.”
Thế là, tay trong tay, họ bước vào căn phòng của phụ nữ, nơi người mẹ và người con gái đang ngồi cạnh nhau, vừa thêu chỉ vàng lên vải Anh vừa cất tiếng hát khúc ca dệt vải. Họ hát về nàng Doette xinh đẹp ngồi một mình dưới tán cây gai trắng, mặc cho gió thổi lồng lộng xung quanh. Nàng đang chờ đợi Doon, người thương của nàng, nhưng chàng chần chừ mãi chẳng chịu đến. Đó là khúc ca mà họ cất lên. Tristan cúi mình chào họ, và họ cũng cúi chào lại chàng. Khi ấy, Kaherdin chỉ vào cành hoa tay của mẹ mình và nói:
“Này bạn Tristan, hãy xem người thợ tài hoa ở đây này, và nhìn xem cách bà trang trí tuyệt diệu nhường nào cho những chiếc áo lễ và áo choàng của các tu viện nghèo, cùng cách đôi bàn tay em gái tôi luồn từng sợi chỉ vàng trên tấm vải này. Thật xứng đáng làm sao, hỡi người em gái thiện lương, khi người ta gọi em là ‘Iseult có đôi bàn tay trắng’.”
Nhưng Tristan, khi nghe đến tên nàng, bỗng mỉm cười và nhìn nàng bằng ánh mắt dịu dàng hơn.
Sáng hôm sau, Tristan, Kaherdin cùng mười hai hiệp sĩ trẻ tuổi rời lâu đài, phi ngựa đến một khu rừng thông gần doanh trại của kẻ thù. Họ xông ra từ chớp nhoáng phục kích và cướp được một xe lương thực của Bá tước Riol. Kể từ ngày hôm đó, bằng những pha đánh úp và mưu mẹo, họ liên tục cướp bóc lều trại, chặn đánh các đoàn vận tải và tiêu diệt địch thủ, chưa từng trở về tay không mà luôn có chiến lợi phẩm. Nhờ vậy mà Tristan và Kaherdin dần gắn bó với nhau như thủ túc, giữ trọn chữ tín và lòng ân tình đúng như sử sách đã ghi chép. Trên đường trở về sau những chuyến xuất chinh ấy, đàm đạo về tinh thần hiệp sĩ cùng nhau, Kaherdin thường hay ca tụng trước mặt người bạn chiến đấu của mình về người em gái Iseult có đôi bàn tay trắng, hết lời khen ngợi sự giản dị và dung nhan kiều diễm của nàng.
Một ngày nọ, khi ánh bình minh vừa ló dạng, một lính canh từ trên tháp bỗng hoảng hốt chạy qua các sảnh đường và hét lớn:
“Hỡi các lãnh chúa, ngài đã ngủ quá giấc rồi; hãy thức dậy đi, quân địch đang tổng tấn công đấy.”
Các hiệp sĩ và thị dân lập tức mặc giáp, chạy ào lên tường thành và trông thấy những chiếc mũ trụ đang lấp lánh ngoài đồng bằng, những lá cờ đuôi nheo tung bay sắc đỏ rực như ngọn lửa, cùng toàn bộ đại quân của Riol trong đội hình chỉnh tề. Bấy giờ, Công tước và Kaherdin liền triển khai đội kỵ binh ngay trước các cổng thành. Từ khoảng cách một tầm cung, họ lao mình thúc ngựa xông lên, đồng thời hạ thấp ngọn giáo trong khi những mũi tên trút xuống người họ như mưa mùa xuân.
Lúc bấy giờ, Tristan là một trong những người cuối cùng mặc giáp theo tiếng gọi của lính canh. Chàng thắt đôi giày thép, mặc áo giáp lưới, mang giày có chạc vàng, khoác áo giáp xích và đội mũ trụ trùm lên cổ áo giáp, rồi phóng ngựa thúc giục với chiếc khiên trước ngực, miệng hô vang:
“Carhaix!”
Khi lao tới, chàng thấy Công tước Riol đang phóng ngựa lao thẳng về phía Kaherdin với dây cương thả lỏng, Tristan bèn chen vào giữa. Thế là họ đối đầu nhau, Tristan và Công tước Riol. Ngay trong cú va chạm mạnh mẽ ấy, ngọn giáo của Tristan gãy vụn, nhưng ngọn giáo của Riol lại đâm phăng vào chiến mã của Tristan ngay tại phần giáp ngực, quật ngã chú ngựa xuống đất.
Nhưng Tristan, trong tư thế đứng thẳng, rút gươm ra – thanh gươm sáng loáng của chàng – và thét lên:
“Đồ hèn nhát! Đây chính là cái chết dành cho kẻ dám ra tay hạ sát ngựa trước khi đánh gục chủ nhân của nó.”
Nhưng Riol đáp trả:
“Ta nghĩ ngươi đang nói dối đấy, hỡi lãnh chúa!”
Rồi hắn lao vào tấn công chàng.
Khi lướt qua, Tristan vung gươm giáng một cú trời giáng xuống mũ trụ của đối phương mạnh đến mức đánh bay cả chóp mũ lẫn kính chắn mũi. Tuy nhiên, thanh gươm lại trượt trên phần giáp vai, quét qua con ngựa và giết chết nó, buộc Bá tước Riol phải tuột khỏi bàn đạp, nhảy phốc xuống đất và chạm chân xuống nền đất cứng. Giờ đây Riol cũng đã đứng trên mặt đất, và cả hai ác chiến dữ dội trong bộ giáp đã rách tươm, những chiếc khiên rách bươm, mũ trụ lỏng lẻo cùng những thanh gươm mẻ đứt đoạn. Cuối cùng, Tristan vung gươm chém trúng ngay phần quai mũ của Riol khiến nó bật tung. Cú đánh mạnh đến nỗi viên bá tước ngã khuỵu xuống cả hai tay lẫn đầu gối. Khi hắn vừa chồm dậy, Tristan lại bồi thêm một cú đánh trời giáng khác chẻ đôi chiếc mũ trụ, xuyên qua cả phần đỉnh đầu và chạm đến hộp sọ. Lúc bấy giờ Riol mới hoảng hốt van xin tha mạng, và Tristan bèn tước lấy thanh gươm của hắn.
Thế là hắn hứa sẽ bước vào đồn lũy của Công tước Hoël để thề trung thành một lần nữa, đồng thời bồi thường những gì hắn đã tàn phá. Theo lệnh của hắn, trận chiến dừng lại, và đại quân của hắn lủi thủi rút lui trong thất bại.
Khi những người chiến thắng đã khải hoàn trở về, Kaherdin liền thưa với cha mình rằng:
“Thưa phụ vương, xin hãy giữ Tristan lại bên mình. Chẳng có hiệp sĩ nào tài ba hơn chàng đâu, và xứ sở của chúng ta đang rất cần một lòng dũng cảm nhường ấy.”
Thế là, sau khi bàn bạc cùng các bá tước của mình, Công tước quay sang nói với Tristan:
“Bạn ta ơi, ta nợ ngươi cả giang sơn này, nhưng ta sẽ trả đủ món nợ ấy nếu ngươi chịu nhậm lấy con gái ta – Iseult có đôi bàn tay trắng, người mang dòng máu cao quý của các vị vua chúa và những đời công tước tiền nhiệm.”
Và Tristan đáp lời:
“Thưa Phụ vương, con xin nhận nàng.”
Ngày cưới từ đó được ấn định. Công tước đến cùng các bằng hữu, Tristan cũng đến cùng phe cánh của mình; và ngay trước cửa tu viện, trước sự chứng kiến của tất cả mọi người, Tristan đã kết hôn với Iseult có đôi bàn tay trắng theo đúng giáo luật của Giáo hội.
Thế nhưng, vào chính đêm đó, khi các gia nhân đang cởi áo cho Tristan, tình cờ khi họ rút tay áo ra đã kéo tuột và làm rơi chiếc nhẫn bằng ngọc bích xanh – chiếc nhẫn của Iseult Xinh Đẹp – khỏi ngón tay chàng. Nó va vào nền đá kêu lanh lảnh, và Tristan cúi xuống nhìn thấy nó. Trái tim chàng bỗng bừng tỉnh và chàng nhận ra mình đã làm điều sai quấy. Bởi chàng sực nhớ lại ngày mà Iseult Xinh Đẹp đã trao cho mình chiếc nhẫn ấy. Đó là chốn thung lũng rừng sâu nơi vì chàng mà nàng đã cùng trải qua quãng đời gian khó; và trong đêm ấy, chàng như nhìn lại túp lều trong rừng Morois thuở nào. Chàng hằn học với chính bản thân vì đã từng có lúc buộc tội nàng phản bội, bởi giờ đây chính bản thân chàng mới là kẻ phụ tình. Chàng cũng mang lòng tự trách và xót xa khôn nguôi cho người vợ mới này, cùng sự ngây thơ và dung nhan kiều diễm của nàng. Này xem, hai nàng Iseult ấy đã bước vào cuộc đời chàng vào một thời điểm ngang trái làm sao, và chàng đã phụ bạc cả hai người!
Khi nghe tiếng thở dài của chàng, Iseult có đôi bàn tay trắng liền cất lời:
“Hỡi phu quân yêu dấu, thiếp đã làm điều gì sai quấy khiến ngài phiền lòng chăng? Ngài không thể thốt với thiếp dù chỉ một lời hay sao?”
Nhưng Tristan đáp rằng: “Nàng ơi, xin đừng giận ta; bởi xưa kia ở một xứ sở khác, ta từng chiến đấu với một con rồng hung ác và suýt mất mạng. Khi ấy ta đã cầu nguyện với Mẹ Thiên Chúa và thề với Người rằng, nếu có ngày phải kết hôn, ta sẽ dành những đêm đầu tiên trong tuần trăng mật để cầu nguyện và trong sự im lặng.”
“Ôi,” Iseult nói, “đó quả là một lời thề tốt đẹp.”
Và Tristan cứ thế thức trắng suốt đêm thâu.