[TIÊU ĐỀ CHƯƠNG]: NONE
Khi chàng trở lại xứ Brittany, đến thành Carhaix, có cơ sự xảy ra là Tristan, trong một lần cưỡi ngựa đi cứu viện cho Kaherdin, người bạn chí cốt của mình, đã rơi vào ổ phục kích và bị trúng một mũi giáo độc; và dẫu nhiều thầy thuốc đã tới, chẳng một ai có thể chữa khỏi căn bệnh cho chàng. Rồi Tristan ngày càng suy kiệt, da dẻ tái nhợt, và thân hình chỉ còn trơ lại xương.
Bấy giờ chàng hiểu rằng sinh mệnh mình đang lụi tàn, rằng cái chết đã cận kề, và trong lòng chàng dâng lên niềm khao khát được gặp lại Iseult Xinh Đẹp thêm một lần nữa; nhưng chàng chẳng thể tìm nàng, bởi sóng nước biển khơi sẽ đoạt mạng chàng trong cơn suy yếu này, và làm thế nào Iseult có thể đến bên chàng đây? Trong nỗi buồn đau và quằn quại vì độc dược, chàng đành phó mặc cho tử thần định đoạt.
Chàng gọi riêng Kaherdin tới để giãi bày nỗi niềm cay đắng, bởi họ gắn bó với nhau bằng một tình nghĩa keo sơn; và vì Tristan không muốn có bất kỳ ai trong phòng ngoài Kaherdin, thậm chí cả những căn phòng bên cạnh, Iseult Tay Trắng liền sinh lòng nghi kỵ. Nàng đâm hoảng sợ và muốn tìm hiểu sự tình, bèn quay lại áp tai nghe ngén ở bức tường cạnh giường Tristan; và trong lúc nàng lắng nghe, một người hầu gái đã đứng canh chừng cho nàng.
Lúc bấy giờ, ở bên trong, Tristan đã dồn hết chút sức lực tàn tạ để gượng ngồi dậy, lưng tựa vào vách tường, còn Kaherdin thì ngồi khóc nghẹn ngào bên cạnh. Họ khóc cho tình bằng hữu thắm thiết sớm phải đứt đoạn, cho tình bạn thâm giao của họ: rồi Tristan kể cho Kaherdin nghe về tình yêu sâu nặng mà chàng dành cho người thiếu nữ Iseult kia, cùng với nỗi đoạn trường cay đắng trong suốt cuộc đời mình.
Tristan cất lời: “Hỡi người bạn hiền từ và cao quý, ta đang lưu lạc ở chốn đất khách quê người chẳng một họ hàng thân thích, ngoại trừ một mình ngươi; và chỉ có mình ngươi ở nơi này mới đem lại cho ta chút niềm khuây khoả. Đời ta sắp tận, ta chỉ ước ao được nhìn thấy Iseult Xinh Đẹp thêm một lần nữa. Ôi, phải chi ta tìm được một sứ giả chịu thay ta vượt trùng dương đến với nàng! Bởi giờ đây ta biết chắc nàng sẽ đến bên ta. Kaherdin, người anh em chí cốt của ta, ta nài xin tình nghĩa giữa chúng ta; hãy giúp ta chuyến này, nếu ngươi mang được lời nhắn của ta đi, ta nguyện sẽ thần phục ngươi và trân trọng ngươi trên hết thảy mọi người.”
Khi thấy Tristan suy sụp đến tột cùng, lòng Kaherdin khôn nguôi thổn thức và chàng cất lời:
“Bạn hiền ơi, xin đừng khóc; ta sẽ làm bất cứ điều gì ngươi mong muốn, dẫu có phải đối mặt với cái chết ta cũng xin vì ngươi mà làm. Sẽ chẳng có gian truân hay đớn đau nào ngăn được ta thực hiện tâm nguyện ấy trong khả năng của mình. Hãy trao cho ta lời nhắn của ngươi, ta sẽ chuẩn bị lên đường ngay.”
Tristan đáp lời:
“Tạ ơn bạn; đây là điều ta khẩn cầu: hãy nhận lấy chiếc nhẫn này, nó là tín vật giữa nàng và ta; và khi ngươi đặt chân đến vương quốc của nàng, hãy giả dạng làm một thương gia ở chốn triều đình, bày bán những tấmụ lụa là gấm vóc, nhưng hãy tìm cách để nàng trông thấy chiếc nhẫn, bởi khi ấy nàng sẽ tìm ra mưu mẹo để nói chuyện riêng với ngươi. Đoạn, hãy nhắn với nàng rằng lòng ta vẫn luôn hướng về nàng; hãy nói rằng chỉ có mình nàng mới đem lại cho ta niềm an ủi; hãy nói rằng nếu nàng không đến, ta sẽ chết. Nhắn với nàng hãy nhớ lại quãng thời gian xưa cũ, những nỗi muộn phiền khôn xiết, cùng muôn vàn niềm hoan hỉ trong mối tình thuỷ chung và dịu dàng của chúng ta. Và hãy nhắc nàng nhớ đến chén rượu mà chúng ta đã cùng nhau cạn chén giữa đại dương bao la. Bởi chúng ta đã cùng nhau uống chén rượu định mệnh ấy. Hãy nhắn nàng nhớ đến lời thề trọn đời chỉ một lòng một dạ với ách tình duy nhất, vì ta đã luôn giữ trọn lời thề ấy.”
Thế nhưng, ở phía bên kia bức tường, Iseult Tay Trắng đã nghe trọn vẹn những lời ấy; và Tristan vẫn tiếp tục giãi bày:
“Hãy mau lên, bạn ơi, và nhanh chóng trở về, kẻo ngươi sẽ chẳng còn kịp nhìn thấy ta nữa. Hãy hẹn kỳ hạn là bốn mươi ngày, và hãy trở về cùng Iseult Xinh Đẹp. Đừng hé lộ gì với em gái ngươi, hoặc cứ bảo rằng ngươi đi tìm thầy thuốc. Hãy lấy con thuyền tuyệt đẹp của ta, và mang theo hai lá buồm, một trắng, một đen. Lúc ngươi quay về, nếu đón được Iseult, hãy giương cao cánh buồm trắng; còn nếu không đón được nàng, hãy giương buồm đen. Giờ ta chẳng còn gì để dặn dò nữa, nguyện xin Chúa phù hộ và đưa ngươi trở về bình an.”
Nương theo ngọn gió thuận chiều đầu tiên, Kaherdin khơi ra biển lớn, nhổ neo buông buồm, lướt đi trong làn gió nhẹ xé rẽ muôn trùng sóng nước. Họ mang theo vô số hàng hóa quý giá, nào lụa nhuộm những màu sắc hiếm hoi, đồ men sứ Touraine cho đến những chai rượu vang vùng Poitou, bởi Kaherdin tin rằng dùng mưu kế này mới có thể tiếp cận được Iseult. Ròng rã tám ngày đêm giương buồm lướt gió, họ đã đến vùng Cornwall.
Cơn thịnh nộ của người phụ nữ quả thực là một điều đáng sợ, khiến bất kỳ nam nhân nào cũng phải khiếp vía, bởi sự trả thù của nàng sẽ dữ dội tương đương với tình yêu nàng trao gửi; tình yêu và lòng căm hận ở họ đến rất nhanh, nhưng thù hận lại sống lâu hơn tình yêu; họ có thể đùa giỡn với ách ái tình, chứ tuyệt đối không đùa giỡn với sự thù hằn. Thế là Iseult Tay Trắng, người đã nghe rõ từng lời một và từng dành trọn tình yêu sâu đậm cho Tristan, nay đang chờ thời cơ để trút cơn thịnh nộ lên chính người mà nàng yêu thương nhất trên đời này. Nhưng nàng che giấu tất cả mọi tâm cơ; và khi cánh cửa mở ra lần nữa, nàng bước đến bên giường Tristan, ân cần chăm sóc thức ăn cho chàng như một người tình đúng nghĩa, dị dàng cất lời thăm hỏi, trao lên môi chàng nụ hôn nồng thắm, rồi gặng hỏi xem liệu Kaherdin có mau chóng trở về cùng vị thầy thuốc nào để cứu chữa cho chàng hay không… thế nhưng suốt cả ngày dài, tâm trí nàng chỉ mải chìm đắm trong ý nghĩ trả thù.
Về phần Kaherdin, chàng cứ thế chèo thuyền miệt mài cho đến khi thả neo tại bến cảng Tintagel. Chàng bước lên bờ, mang theo một tấm vải dệt hoa văn quý hiếm cùng một chiếc cốc được chạm trổ tinh vi, tiến đến dâng lên vua Mark, đồng thời nhã nhặn cầu xin nhà vua ban sự che chở và cho phép mình được buôn bán trong lãnh địa của ngài; và Nhà vua đã ban ơn huệ cho phép chàng giao thương trước mặt toàn thể triều thần.
Đoạn, Kaherdin tiến lên dâng tặng Hoàng hậu một chiếc khuy áo bằng vàng ròng; và chàng thưa rằng: “Tâu Hoàng hậu, sắc vàng của chiếc khuy này thật tuyệt hảo.”
Rồi rút chiếc nhẫn của Tristan từ trên ngón tay xuống, chàng đặt nó sóng đôi bên cạnh món trang sức và cất lời:
“Xin Người hãy ngắm xem, vàng làm khuy áo quả là thứ vàng tinh khiết hơn; thế nhưng chiếc nhẫn kia cũng mang giá trị chẳng kém phần.”
Khi Iseult nhận ra chiếc nhẫn ấy là vật gì, tim nàng bỗng đập loạn nhịp, sắc mặt biến đổi hoàn toàn, và vì sợ hãi những lời sắp được thốt ra tiếp theo, nàng liền kéo riêng Kaherdin ra một góc gần ô cửa sổ, vờ như để ngắm nghía và ngả giá cho thuận mua vừa bán; lúc bấy giờ Kaherdin mới thì thầm vào tai nàng:
“Thưa Điện hạ, Tristan đang lâm trọng bệnh vì trúng mũi giáo độc và sắp sửa qua đời. Chàng nhắn gửi rằng chỉ có một mình Người mới có thể đem lại cho chàng sự an ủi, và xin Người hãy nhớ lại những nỗi đoạn trường khôn xiết mà hai người từng gánh chịu cùng nhau. Xin Người hãy giữ lấy chiếc nhẫn này—nó thuộc về Người.”
Nhưng Iseult đáp lời trong giọng nói đã nghẹn ngào, yếu ớt:
“Bạn hền, ta sẽ đi theo ngươi; hãy chuẩn bị thuyền sẵn sàng vào lúc rạng sáng mai.”
Và vào khoảnh khắc rạng đông ngày hôm sau, họ nhổ neo, giương cột, căng buồm, con thuyền nhỏ vui mừng rời khỏi bến bờ.
Trong khi ấy, tại Carhaix, Tristan mỏi mòn nằm ngóng trông sự trở về của Iseult. Chẳng còn thứ gì có thể lấp đầy tâm trí chàng nữa, nếu chàng vẫn đang thoi thóp sống thì đó chỉ vì ngóng đợi bóng hình nàng; từng ngày qua đi, chàng liên tục sai người ra bờ biển túc trực để ngóng xem có con thuyền nào cập bến, và để dò hỏi màu sắc của cánh buồm. Chẳng còn bận tâm nào khác sót lại trong cõi lòng chàng lúc bấy giờ.
Chàng sai người khiêng mình ra mỏm đá Penmarks, nơi phóng tầm mắt bao quát cả khoảng biển rộng lớn, và suốt cả ban ngày, chàng đăm đăm hướng ánh nhìn xa xăm ngoài khơi xa.
Giờ đây, xin hãy lắng nghe một câu chuyện đầy bi thương và xót xa cho những ai từng biết yêu thương. Iseult đã ở rất gần; mỏm đá Penmarks đã thấp thoáng hiện ra đằng xa, con thuyền đang rẽ sóng lao đi phơi phới, thì bất thình lình một cơn bão biển đột ngột kéo đến, cuồn cuộn gầm thét, quật thẳng vào cánh buồm, xoay ngược con thuyền vòng tròn khiến các thủy thủ buộc phải xoay trở và đành bất đắc dĩ xuôi theo chiều gió bão cuồng nộ. Gió gào thét dữ dội, sóng cao cuồn cuộn đổ ập, bầu trời đặc quánh lại trong bóng tối, biển khơi cũng sầm sẫm một màu u ám, những trận mưa quất rát từng hồi. Cột buồm gãy rắc, dây chằng đứt tung; họ đành hạ buồm xuống, phó mặc cho gió cuồng nước lũ cuốn đi. Thật là một cơ duyên bất hạnh khi họ đã quên kéo chiếc thuyền nhỏ lên boang; nó chòng chành bám theo sau đuôi tàu, để rồi một ngọn sóng khổng lồ chồm tới đánh đứt phăng đi mất.
Bấy giờ Iseult cất tiếng kêu khóc: “Chúa không muốn ta còn sống để được nhìn thấy chàng, người tình của ta, dù chỉ một—thậm chí chỉ một lần nữa thôi. Chúa định đoạt bắt ta phải chôn vùi thân mình dưới đáy đại dương này. Ôi Tristan, phải chi ta được cất lời cùng anh dẫu chỉ thêm một lần, thì dẫu có chết đi sau đó ta cũng chẳng mảy may tiếc nuối. Nhưng giờ đây, hỡi tình yêu của ta, ta chẳng thể đến bên anh được nữa; bởi đó là ý Chúa, và đó chính là nỗi đau đớn tột cùng xé tâm can ta.”
Và Nàng cứ thế than khóc ai oán chừng nào cơn bão còn hoành hành; nhưng rồi sau năm ngày đêm, bão tố cũng dịu dần. Kaherdin giương cao cánh buồm, một cánh buồm trắng phau vươn thẳng lên tận đỉnh cột buồm trong niềm hân hoan khôn tả; cánh buồm trắng ngần để Tristan có thể nhận ra từ tận đằng xa: và từ phía xa xa, Kaherdin đã lờ mờ nhìn thấy vóc dáng xứ Brittany ẩn hiện như một làn mây. Nào ngờ vừa lúc những việc ấy vừa được trông thấy và hoàn tất thì trời bỗng lặng gió, mặt biển phẳng lì không chút gợn sóng. Cánh buồm chẳng còn căng gió nổi, các thủy thủ luân phiên chèo chống con thuyền lúc nhô lên lúc hụp xuống theo nhịp triều dâng, vô vọng bơi xuôi chèo ngược hết lần này đến lượt khác. Họ có thể trông thấy bờ biển ở đằng xa, nhưng ngọn bão dữ đã cuốn mất chiếc thuyền nhỏ khiến họ chẳng thể nào cập bờ nổi. Vào đêm thứ ba, Iseult mơ thấy một giấc mơ kỳ lạ: rằng nàng đang ôm trong lòng chiếc đầu heo làm vấy bẩn váy áo nàng đẫm máu; và lúc bấy giờ nàng thấu hiểu rằng mình sẽ chẳng bao giờ còn được gặp lại người tình khi anh còn sống nữa.
Lúc này, Tristan đã quá ư suy kiệt nên chẳng thể tự mình ra mỏm đá Penmarks ngóng trông được nữa, và ròng rã bao ngày dài đằng đẵng giam mình trong bốn bức tường, cách biệt với bờ biển, chàng chỉ biết ôm nỗi sầu muộn vì Iseult mãi chẳng chịu về. Ôm nỗi niềm đau khổ và đơn độc, chàng rên rỉ thở dài trong sự thổn thức khôn nguôi: khao khát đến kiệt quệ đã đẩy chàng đến sát ranh giới cái chết.
Cuối cùng, ngọn gió cũng thổi lộng trở lại và cánh buồm trắng xuất hiện rành rành trước mắt. Đúng vào khoảnh khắc ấy, Iseult Tay Trắng đã ra tay thực hiện màn trả thù của mình.
Nàng bước vào căn phòng nơi Tristan đang nằm, và cất giọng thông báo:
“Bạn hiền, Kaherdin đã về kìa. Ta đã thấy thuyền của chàng ngoài khơi xa. Con thuyền đang chật vật tiến vào—nhưng ta nhận ra nó; nguyện xin chàng mang về thứ có thể chữa lành cho anh, bạn tôi ơi.”
Tristan toàn thân run rẩy, cất tiếng hỏi:
“Người bạn xinh đẹp của tôi, nàng chắc chắn đó đích thị là thuyền của chàng chứ? Hãy nói cho ta hay sắc thái cánh buồm thế nào đi?”
“Em nhìn thấy rất rõ ràng. Họ đã buông và giương nó lên thật cao, bởi gió thổi rất hiu hắt. Còn về màu sắc của nó, ôi chao, nó mang một màu đen tuyền.”
Nghe vậy, Tristan liền quay mặt vào vách tường, thều thào: “Ta chẳng thể níu kéo sự sống này thêm được nữa.” Chàng thì thầm ba lần: “Iseult, người bạn tri kỷ của tôi.” Và thốt lên lần thứ tư, chàng trút hơi thở cuối cùng.
Bấy giờ khắp dinh thự, các hiệp sĩ và những người bạn chiến hữu của Tristan khóc oà lên nức nở, họ nâng thân thể chàng ra khỏi giường, đặt lên một tấm thảm quý giá và phủ lên di thể chàng một tấm vải liệm. Thế nhưng ngoài khơi xa, gió bão bất ngờ lồng lộng thổi mạnh; ngọn gió quật thẳng căng buồm đẩy con thuyền lao vút vào bờ, và Iseult Xinh Đẹp đã đặt chân lên mảnh đất này. Nàng nghe thấy những tiếng khóc than vang vọng khắp các con phố, tiếng chuông tang đổ hồi từ các ngôi thánh đường và ngọn tháp nhà thờ; nàng bèn cất tiếng hỏi người dân ý nghĩa của những hồi chuông chiêu hồn cùng dòng lệ nghẹn ngào ấy. Một lão già đáp lời nàng:
“Thưa Bà, chúng tôi đang phải chịu đựng một nỗi đau thương tột cùng. Tristan, người luôn trượng nghĩa và thuỷ chung nhường ấy, đã qua đời. Chàng là người rộng lượng với kẻ nghèo khó; luôn hết lòng vì những mảnh đời bất hạnh. Đó là thảm họa lớn lao nhất từng giáng xuống mảnh đất này.”
Nhưng Iseult, khi nghe những lời ấy, bàng hoàng đến mức chẳng thể thốt lên nổi một lời nào. Nàng cứ thế bước thẳng về phía cung điện theo lối đi, chiếc áo choàng xộc xệch bơ vơ trong gió. Người dân xứ Brittany ngạc nhiên ngó theo bóng nàng; chưa bao giờ họ được chứng kiến một người phụ nữ nào kiều diễm đến nhường này, và họ thì thầm bảo nhau:
“Nàng là ai, và từ đâu đến thế này?”
Sát bên di thể Tristan, Iseult Tay Trắng đang quỵ gối, tâm trí hoảng loạn vì tội ác do chính mình gây ra, miệng liên tục gọi tên và khóc than thảm thiết bên người đã khuất. Iseult kia bước vào, cất lời bảo:
“Thưa Bà, hãy đứng lên để tôi được đến bên chàng; tôi có quyền khóc thương chàng nhiều hơn bất kỳ ai—xin hãy tin tôi. Tôi yêu chàng nhiều hơn.”
Và khi đã quay mặt về hướng Đông thành kính cầu nguyện với Chúa, nàng nhẹ nhàng dịch chuyển di thể Tristan sang một bên rồi nằm xuống sát cạnh người chết, ngay bên cạnh người bạn đời yêu quý của mình. Nàng ôm chầm lấy khuôn mặt và bờ môi chàng, siết chặt thân thể chàng trong vòng tay; và rồi nàng trút bỏ linh hồn, lịm tắt hơi thở ngay bên cạnh người tình với nỗi đau đớn khôn cùng.
Khi Vua Mark hay tin về cái chết của đôi uyên ương ấy, ngài đã vượt biển đến tận xứ Brittany; ngài cho đẽo hai cỗ quan tài dành riêng cho Tristan và Iseult, một chiếc bằng đá thạch anh cho Iseult, và một chiếc bằng ngọc beryl cho Tristan. Đoạn, ngài đưa những nhục thể trân quý ấy lên thuyền trở về Tintagel, rồi cho xây dựng những ngôi mộ của họ quây quần hai bên tả hữu khu nhà nguyện. Thế nhưng chỉ sau một đêm, từ ngôi mộ của Tristan bỗng mọc lên một nhành tầm xuân xanh mướt ngập tràn lá cành, cành lá vươn cao mạnh mẽ toả hương thơm ngát. Nhành cây leo qua vách nhà nguyện rồi rễ lại đâm sâu bám chặt vào phần mộ của Iseult. Mặc cho dân làng đã ba lần chặt bỏ, nó vẫn cứ ba lần đâm chồi nảy lộc tươi tốt và mạnh mẽ nhường ấy. Khi người ta kể lại điều kỳ diệu ấy cho Vua Mark nghe, ngài liền hạ lệnh cấm tiệt không ai được phép chặt nhành tầm xuân đó thêm lần nào nữa.
Những thi sĩ tài danh thuở xưa, Beroul và Thomas of Built, Gilbert cùng Gottfried đã kể lại câu chuyện này dành riêng cho những ai biết yêu và chỉ thế thôi, và qua ngòi bút của tôi, họ khẩn khoản cầu xin các bạn hãy dâng lời cầu nguyện. Họ gửi lời chào đến những ai đang chìm trong u sầu, những tâm hồn trắc ẩn, những kẻ lỡ làng muộn phiền và những ai đang khao khát ái tình. Nguyện xin tất cả những ai tìm đến đây đều nhận được sự kiên cường để chống lại sự đổi thay bội bạc, lòng khinh miệt, nỗi đau mất mát và mọi cay đắng ngọt bùi của tình yêu.
HẾT
In bởi BALLANTYNE, HANSON & Co. tại Paul’s Work, Edinburgh