C
hưa đến 100 năm, với bàn tay và công cụ thô sơ, người Inca đã làm nên một kỳ tích: Xây dựng một hệ thống đường với tổng chiều dài gần 23.000 km, tức hơn một nửa chiều dài đường xích đạo. Pedro de Cieza de Leon, một người lính Tây Ban Nha năm 1540 đã thốt lên: “Tôi không tin có bất kỳ một con đường nào khác có thể sánh với con đường này, con đường chạy xuyên qua các thung lũng sâu rồi đến các đỉnh núi cao (hơn 5.000 mét so với mực nước biển), len lỏi qua tuyết, đầm lầy, đá…”.
Trong hàng ngàn con đường được xây dựng thời kỳ tiền Columbus tại châu Mỹ, cung đường Inca là đáng chú ý hơn cả. Trong đó, nổi tiếng và được giới ba lô chuyên nghiệp ao ước có cơ hội được đi nhất là đoạn đường từ Ollantaytambo (kilomet số 82) đến Machu Picchu, một trong bảy kỳ quan thế giới mới. Tuy chỉ dài 45 km, nhưng đoạn đường này đi qua rất nhiều công trình kiến trúc có một không hai còn sót lại của nền văn minh Inca.
Xuất phát từ kilomet số 82 ở độ cao 2.600 mét, ngày đầu tiên chỉ như bước khởi động nhẹ nhàng: 12 km đường núi để tập kết ở độ cao 3.000 mét, tức cao gấp đôi Đà Lạt. Chúng tôi vượt qua sông Urubamba bằng chiếc cầu treo để chính thức bước vào con đường Inca. Sam, bạn đồng hành ngưòi Canada, chỉ vào hai trụ bê tông to đùng và mấy sợi dây thép to bằng ngón chân cái của chiếc cầu treo, rồi nheo mắt trêu ghẹo: “ Ồ! Người Inca thật văn minh, từ thế kỷ 15 đã biết dùng bê tông và thép để làm cầu rồi”.
Henry, người dẫn đường, có vẻ hơi ngượng:
- À, chiếc cầu treo này đã được phục chế để đảm bảo an toàn cho 500 lượt người mỗi ngày. Cầu treo nguyên bản của người Inca được làm từ các sợi dây thừng bện bằng cuống hoa khô của loại cỏ q’oya, đường kính đến 20 cm, rồi căng ra các trụ đá hai bên bờ sông. Ở phía Tây Cuzco, kinh đô cũ của người Inca, còn có chiếc cầu treo bắc qua sông Apurimac dài đến 60 mét. Tiếc là đến nay đã không còn nữa.

Con đường Inca như con rắn khổng lồ len lỏi qua những khe núi bên cạnh dòng sông Urubamba đang cuồn cuộn chảy xiết qua các ghềnh đá để trườn lên những ngọn núi phủ đầy tuyết trắng trước mặt. Đi chừng vài tiếng, từ xa đã thấy hiện ra sừng sững những ruộng bậc thang với hàng chục bậc, những khu nhà lớn “cắn” thẳng vào một góc núi (tất cả được xây bằng đá): Llactapata. Đây chính là một trong 2.000 kho lương thực, trạm nghỉ do nhà nước Inca tổ chức dọc hệ thống đường Inca.
Nhìn vào sự đồ sộ của Llactapata, tôi mới thật sự tin những gì đã đọc trong sách: “Dọc tuyến đường Inca có những kho lương thực có thể đáp ứng cho 25 ngàn người cùng một lúc. Vì thế, quân của đế chế Inca có thể tiến quân, xâm chiếm các bộ tộc khác mọi lúc, mọi nơi”.
4 giờ rưỡi sáng, chúng tôi được đánh thức bằng một ly trà coca nóng (nấu từ lá coca, loại dùng để sản xuất cocain). Henry, người dẫn đường, cười động viên: “Uống đi! Nước tăng lực của người Inca đấy! Uống để có sức vượt đèo”. Đúng như lời Henry cảnh báo, đây chính là ngày kinh khủng của hành trình: vượt qua đèo “Người đàn bà chết” cao 4.215 mét so với mực nước biển. Hàng ngàn bậc thang bằng đá cứ thế nối tiếp nhau lẫn vào trong mây lên cao, cao mãi…
Henry dừng lại giữa đèo, đưa cho các porter trong đoàn một vốc lá coca. Họ vui ra mặt. Các porter trịnh trọng mặt ngửa lên trời, thổi nhẹ vào mấy chiếc lá coca cầm trong tay để thể hiện sự kính trọng, cảm ơn đối với núi, trời rồi bỏ vào miệng nhai.
“Nhai lá coca sẽ giúp họ không cảm thấy đói khát, mệt mỏi”, Henry giải thích rồi đưa tôi thử. Chẳng có mùi vị gì đặc biệt, nhưng quả thật, sau khi nhai, tôi cảm thấy phấn chấn hơn, leo dốc đỡ mệt hơn. Sau này tôi mới biết lá coca giúp tạo sự thăng bằng cho cơ thể khi thiếu ôxy ở độ cao hơn 4.000 mét.
Cách đây hơn 500 năm, người Inca không biết đến ngựa, cũng chẳng biết đến bánh xe. Phương tiện giao thông, liên lạc duy nhất là đôi chân. Họ truyền tin bằng cách “chạy tiếp sức”. Khi nhận được thông tin, các chasquis (người truyền tin) sẽ chạy hết tốc lực đến trạm kế tiếp cách đấy khoảng 1 - 2 km. Một chasquis khác sẽ nhận thông tin và tiếp tục chạy đến trạm tiếp theo. Bằng cách này, mọi thông tin được truyền đi đến mọi miền đất nước với tốc độ đáng kinh ngạc: 400 km/ngày.
Chúng tôi cũng “lết” lên được đến đỉnh “Người đàn bà chết” cao 4.215 mét lúc gần 1 giờ trưa. Sáu tiếng đồng hồ cho… 9 km.
Trước khi rời khỏi đèo, Henry và các porter yêu cầu chúng tôi nắm tay nhau, kết lại thành vòng tròn. “Đây là vòng tròn tình thương. Chúng ta hãy cùng gởi sự tôn kính đến thần núi Veronica, ngọn núi cao 5.800 mét phủ tuyết trắng xóa trước mặt. Chính ngài sẽ tiếp thêm sức mạnh, phù hộ cho chuyến đi chúng ta được bình an”. Rồi không ai bảo ai, Henry cùng các porter cùng cất lên lời cầu nguyện bằng tiếng Quechua với vẻ rất thành kính.
Chính trong khoảnh khắc này, tôi mới chợt nhận ra, Tây Ban Nha đã thất bại trong nỗ lực đồng hóa Peru, thuộc địa của mình. Sau hơn 500 năm, dù tiếng Tây Ban Nha đã trở thành quốc ngữ tại Peru, dù những công trình kiến trúc ở Peru đều ít nhiều mang phong cách Tây Ban Nha, nhưng bản sắc văn hóa, những lễ nghi, niềm tin vào các đấng linh thiêng trong thiên nhiên của người xưa vẫn luôn trường tồn. Peru mãi là Peru.

Chẳng còn gì nghi ngờ, anh hùng trên con đường
Inca chính là các porter. Chính họ phải cõng trên vai lều, bạt, thức ăn cho cả đoàn. Cùng đi, nhưng họ phải đến trước để nấu ăn, căng lều cho khách. Khi khách đi ngủ, họ lại phải lụi cụi xuống suối rửa chén bát, sửa soạn đồ ăn cho bữa tiếp theo…
Leo dốc đã khó, xuống dốc còn khó hơn. Đường đèo bé tí, dốc dựng đứng. Vừa qua cơn mưa, hàng ngàn bậc đá phủ rêu trơn như bôi mỡ, lơ đểnh một tí là có thể trượt chân, lăn xuống vực bên cạnh dễ như bỡn. Vậy mà các porter với túi đồ khổng lồ nặng vài chục ký trên lưng vẫn chạy xuống dốc như đang làm xiếc với tốc độ kinh hồn.
Henry cho biết: “Trong một cuộc thi chạy gần đây từ kilomet số 82 đến Machu Picchu do chính quyền Peru tổ chức, một porter người Quechua chỉ tốn… 5 giờ 45 phút để hoàn thành con đường mà chúng ta mất gần 4 ngày để vượt qua!”.
Peru đang vào đông, trời lạnh căm, mấy người trong đoàn ai nấy đều run lập cập, miệng xuýt xoa dù áo ấm sù sụ, giày đến 3 - 4 lớp vớ. Trong khi đó, các porter chỉ mặc hai chiếc áo thun cũ mèm, đôi chân trần nứt nẻ, đen đúa, móng chân hãy còn vết phèn, chỉ mang độc một đôi dép lốp (như dép râu bộ đội ở Việt Nam).
Thấy người porter già mang trên lưng đống đồ to đùng đang cặm cụi bò lên dốc trong nắng chiều, theo quán tính mỗi khi chụp hình, tôi nói với người porter: “Tôi chụp hình nhé. Cười lên nào”. Ông già quay lại, gương mặt sạm đen đầy nếp nhăn đầm đìa mồ hôi hướng về máy chụp hình cố gắng gượng cười. Lúc đó tôi mới thấy hối hận vì mình quá vô tâm. Nghĩ lại quá tàn nhẫn. Một thằng thanh niên khỏe mạnh, trên lưng chỉ có máy chụp hình và một số đồ linh tinh nặng chừng chục ký, một ông già 50 tuổi với đống đồ không dưới 30 ký đang đè nặng trên vai. Vẫn biết là phân công xã hội. Vẫn biết thồ hàng là công việc của porter. Nhưng nghĩ lại vẫn thấy xót xa. Gánh đồ vài chục ký mỗi chuyến thồ hàng xem ra hãy còn nhẹ hơn nhiều so với gánh nặng cuộc sống…