B
ắt cá không cần lưới, mồi. Ăn, làm bếp và cả “chuyện ấy” đều diễn ra trên võng,… Đó là một số điều lạ mà tôi biết thêm khi sống với thổ dân Matsés.
Tôi thức dậy khi ánh nắng sớm len qua vách nứa chiếu thẳng vào mặt. Người trong làng có lẽ đã vào rừng cả, xung quanh chỉ còn tiếng gà gáy le te và đàn vẹt đuôi dài vẫn cãi nhau ỏm tỏi ngoài mé sông. Yên bình quá!
Manquid, trưởng làng San Juan, bưng cho tôi một gói lá chuối to bọc mấy củ khoai mì và vài con cá nướng. Người Matsés không ăn đường (do không có để dùng), không sử dụng dầu ăn và muối cũng rất hiếm. Khi bắt được cá, họ chỉ bỏ lên lá chuối và nướng, ăn với khoai mì. “Bữa ăn thường ngày của người Matsés đấy. Mày là khách nên dùng dĩa và nĩa, còn chúng tao thì như thế này thôi”, nói rồi ông dùng tay bốc ăn ngon lành.
“Đi bắt cá không?”, Manquid hỏi tôi. Bà vợ thứ hai đang nghiền chuối (nước chuối ép là thức uống phổ biến của người Matsés), thấy chồng chuẩn bị đi, cũng bỏ dở rồi vội vã chạy theo.
- Người Matsés hiện sống chủ yếu bằng trồng trọt và săn bắn. Ngoài việc trồng khoai mì, lượm củi, nấu ăn, khi chồng đi săn bắt, vợ cũng phải đi theo. Nếu bắt được cá, bắn được thú thì vợ sẽ mang về. - Manquid cho biết.
- Ủa? Tại sao đi bắt cá mà không mang theo cần câu hoặc lưới? - Tôi thắc mắc.
Manquid khoát tay:
- Không cần đâu, ra đến đó sẽ biết.
Điểm bắt cá là một con suối nhỏ lẩn khuất trong rừng. Manquid đi loanh quanh, đào bới một lát, rồi ôm về một đống rễ cây, ngồi giã nát ra. Rồi Manquid mang đống rễ đã được giã khuấy xuống suối làm khuấy động, trắng cả một khúc suối. Trong khi đó, bà vợ đứng phía dưới dòng nước, cách đó chừng vài chục mét, khua chân liên tục như trẻ nghịch nước.
- Khua chân để cá sợ mà bơi ngược lên chỗ Manquid. Chất độc từ rễ cây đó sẽ lan ra trong nước làm cá thiếu ôxy không thở được. – Hector, người dẫn đường, nhà tự nhiên học, giải thích cho tôi.
Thật vậy, khoảng 10 phút sau, cá phơi bụng nổi lên, vợ Manquid chỉ việc dùng vợt để vớt.
- Yên tâm đi, chất này chỉ có tác dụng với cá, người ăn vào không sao đâu. - Manquid trấn an.
Trời hầm hập, cánh rừng già bạt ngàn lặng phắc, không một lay động. Nóng và ẩm đến điên người. Từ con suối bắt cá về nhà chỉ chừng nửa tiếng đi bộ mà tôi muốn lả đi, mồ hôi túa ra nhớp nháp. Tôi nhờ Hector giữ đồ, rồi xuống suối tắm. Trời nóng mà được ngâm mình trong dòng suối mát lạnh thì còn gì bằng. Tôi đang nằm ngửa, lim dim mắt tận hưởng thì Hector bỗng hét lớn:
- Tập, coi chừng!
Một con rắn thân có khoang màu đỏ, vàng, đen, dài gần một mét, to bằng cổ tay đang nhẹ nhàng rẽ nước. Tôi điếng hồn. Bài học cơ bản về đi rừng vụt hiện lên trong đầu “Những gì càng sặc sỡ, bắt mắt thì càng phải đề phòng”. Trên bờ, Hector tiếp tục la lên:
- Đừng động đậy!
Tôi đứng im, giơ hai tay lên trời. Nín thở. Con rắn bơi trong nước, trườn cái thân nhám nhúa cạ sát ngực tôi, rồi tiếp tục hành trình của mình…
Đợi tôi lên bờ và hoàn hồn, Hector mới nói: “Đó là con rắn đỏ (coral snakes), người dân ở đây gọi là Naka Naka. Đây là một trong những loài rắn sặc sỡ và có nọc độc ghê gớm nhất rừng nhiệt đới Amazon. Một cú đớp của nó có thể giết chết con mồi trong tích tắc”. Hú vía.
Võng dĩ nhiên là để nằm. Đúng, nhưng chưa đủ. Với người Matsés, chiếc võng đan từ sợi cây chambira (một họ cây dừa) đóng vai trò quan trọng hơn rất nhiều. Ngay tại bếp, nếu để ý sẽ thấy luôn có một chiếc võng sát đất. Họ ngồi trên võng, chồm lên bếp lửa để nấu ăn. Đến bữa, mỗi người gói đồ ăn vào lá chuối, tự bưng lên võng của mình rồi bốc ăn. Thậm chí, quan hệ tình dục cũng diễn ra... trên võng. (Điều này tôi đã hỏi nhiều người Matsés và họ đều khẳng định điều đó). Tài thật!

- Nằm trên võng để đề phòng côn trùng, rắn rít. Ngày nay, nhiều người đã ngủ mùng (do chính phủ cung cấp), nhưng võng vẫn là thứ không thể thiếu của người Matsés. - Denis cho biết.
Hiện nay, tuy chưa có điện nhưng người Matsés cũng được chính phủ hỗ trợ khá nhiều: cung cấp mùng màn, áo quần,… Nhưng mọi thứ đều có cái giá của nó. Dù đã khoanh vùng khu bảo tồn cho những bộ lạc ít người, nhưng chính phủ Peru vẫn đang cắt dần đất đầu nguồn để bán cho các công ty dầu mỏ. Hành động này đã làm ô nhiễm nguồn nước, nguồn sống chính của các bộ lạc, khiến đời sống của họ bị đe dọa thật sự. Chưa kể, nền văn minh đem lại sự thuận lợi, tiện nghi trong cuộc sống, nhưng đồng thời cũng lấy đi bản sắc truyền thống của người Matsés. Tại San Juan và Buen Peru, nơi người Matsés tập trung sinh sống, hầu hết họ đều mặc áo thun, quần jean, váy vải,… Phụ nữ không còn ghim trên miệng những sợi lông dài như những con báo gấm, không mặc váy đan bằng sợi cây chambira, thanh niên không còn xăm mặt làm chiến binh như cha ông họ.

Văn minh có sự cám dỗ kỳ lạ. Thanh niên Matsés rủ nhau lũ lượt rời bỏ làng của mình để ra Angamos, nơi có bóng đèn điện, có đầu đĩa nhạc CD (dù chỉ chạy bằng bình ắc quy)… Lidya, 23 tuổi, đã có một con, đang xúng xính bận thử những chiếc váy hoa sặc sỡ bằng vải rẻ tiền mới đổi được ở Angamos bằng một bao đầy ắp rùa. Khi tôi hỏi về sự “pha tạp” quá nhanh của thanh niên Matsés hiện nay, cô hỏi ngược lại:
- Anh cũng là thanh niên, lại có hiểu biết. Vậy cho anh ở trần, bận váy chambira mãi như chúng tôi, anh có đồng ý không?
Chỉ vậy thôi, mà tôi không thể trả lời. Biết là mình không thể ích kỷ muốn họ phải tiếp tục “ăn lông, ở lỗ” mãi, nhưng lòng vẫn không khỏi buồn. Ừ, dù sao tôi cũng chỉ là một người kể chuyện đường xa tò mò thôi mà… Biết tôi rất muốn tìm hiểu cuộc sống của người Matsés nguyên thủy, Denis nói:
- Tôi có ông bác bỏ làng vào sống trong rừng sâu vì không muốn tiếp xúc với thế giới văn minh. Để tôi vào hỏi thử xem ông ấy có chịu gặp anh không.
Nói đoạn, anh dắt con dao dài vào người quày quả đi. Tối mịt, Denis trở về, mặt hớn hở:
- Ổng chịu rồi, mai lên đường.
Phải thừa nhận một thực tế rằng, đây không phải là thế kỷ 15, để chúng ta được làm Christopher Columbus khám phá ra châu Mỹ. Chúng ta lại càng không phải là một trong số rất ít những nhà thám hiểm thật sự với những kỹ năng và phương tiện hỗ trợ đặc biệt như trong National Geographic hoặc Discovery… Vì thế, đừng ngây thơ nghĩ rằng mình sẽ khám phá được một nơi nào đó còn “hoang sơ” và “thuần chủng” 100%, nơi văn minh chưa hề chạm đến. Thời đại bây giờ, khi bạn đọc được thông tin về một nơi nào đó, có nghĩa là nơi đó đã bị “ô nhiễm” văn minh, chỉ là ít hay nhiều mà thôi.