Đ
ảo chúng tôi ở phải buộc vào một tảng đá thật lớn để neo lại. Bữa nọ, gió to quá, bứt dây neo, nguyên cái đảo trôi qua tận Bolivia…”. Với vẻ mặt nghiêm trang, Javier, hướng dẫn viên trẻ người Peru, kể về nơi anh ta ở một cách say sưa. Chúng tôi không ai nhịn được cười, không ngờ ở Peru cũng có người như “bác Ba Phi”, nói dóc như thật. Javier có vẻ phật lòng, anh nói: “Có dám đánh cược không? Tôi sẽ dẫn các anh đến đấy”. Ừ, thì cược!…
Không chỉ riêng tôi, những người bạn nước ngoài khác cũng háo hức và sốt ruột chờ xem “cái đảo biết trôi” của Javier. Thì ra nó nằm ngay trên hồ Titicaca nổi tiếng. Đây là hồ cao nhất thế giới có thể đi thuyền được (cao 3.813 mét so với mực nước biển). Giữa mặt hồ xanh thẳm, rộng ngút tầm mắt, hòn đảo Javier ở nằm lẫn giữa đám lau sậy um tùm, cao quá đầu người. Vừa đặt bước chân đầu tiên từ thuyền xuống đảo, bàn chân tôi bỗng bị lún xuống. Quá bất ngờ, tôi loạng choạng muốn té. Đoán được trước, Javier đã nhanh nhẹn đưa tay đỡ lấy: “Đừng sợ, sẽ còn nhiều điều bất ngờ chờ đợi anh tại quần đảo Uros này”.
Quần đảo Uros kỳ lạ gồm khoảng 43 đảo có một không hai trên thế giới này được hình thành từ những lớp totora (lau sậy) chết đóng thành từng mảng dày. Sau đó, người dân phủ xen kẽ những lớp lau sậy mới lên cho đến khi chiều dày đạt 1 – 2 mét rồi dựng nhà sinh sống trên đó. Vì thế, cả hòn đảo giống như một cái bè nổi khổng lồ bằng lau sậy, bước chân đi trên mặt đất nghe cứ xốp xốp như đi trên nệm bông.
“Thế đảo có trôi không?”, câu hỏi quyết định thắng thua với Javier đã đến. Ông trưởng đảo Marcos khẳng định: “Có chứ, những ngày gió mạnh, thổi bứt dây chằng, sáng sớm mở mắt tỉnh dậy sẽ thấy mình ở Bolivia. Vì thế, người Uro chúng tôi phải cột đảo thật chắc vào một tảng đá lớn để cố định vị trí”.

Trưởng đảo Marcos dẫn tôi vòng quanh giang sơn của ông. Nói là đảo cho oai, thực ra nó nhỏ như cái cù lao, bề dài mỗi chiều không quá 300 mét. Mỗi đảo chỉ có khoảng trên dưới 10 hộ sinh sống, chủ yếu là tự cung, tự cấp bằng nguồn cá đánh bắt trên hồ.
Với tay bẻ một cây sậy non mọc sát mép nước, Marcos bỏ vào miệng ăn ngon lành rồi đưa tôi thử: “Ăn thử món ăn truyền thống của người Uro xem nào”. Món lõi sậy non của người Uro giòn giòn, nhạt nhạt, chẳng ngon tí nào, nhưng công dụng của nó làm tôi ngạc nhiên: làm lều ở, thuyền đánh cá; sậy khô làm chất đốt; rễ sậy còn là vị thuốc khá hữu hiệu để chữa đau bụng, đau răng,…
Đang nói chuyện với tôi, bỗng nghe có tiếng kèn đâu đó vẳng lên, Marcos lấy cái vỏ ốc trong người ra, trèo lên cái chòi canh cao nghệu trên đảo rồi thổi lên mấy tiếng đáp trả. “Chút nữa có người ở đảo bên cạnh đến hỏi vợ cho con trai họ. Bữa trước, họ đã mang lễ vật (thường chỉ là bánh mì và một số thực phẩm) sang ra mắt chào hỏi. Hôm nay, là lần cuối, họ sẽ mang rượu và lá coca rắc xung quanh lều đôi vợ chồng mới như một lời tạ ơn gởi đến Đất Mẹ. Đêm nay chắc sẽ vui lắm, lại uống mừng đến sáng rồi.”…

Dù gìn giữ những nét văn hóa đặc trưng, nhưng người dân đảo nổi Uros cũng không kém văn minh. Tuy lênh đênh trên mặt hồ, nhưng họ cũng có trường học, nhà thờ (dĩ nhiên, đều được dựng bằng cây sậy), có điện phát từ pin năng lượng mặt trời.
Chưa kể, họ làm du lịch cũng khá bài bản: bán những món đồ lưu niệm làm từ cây sậy, đặc trưng của vùng; làm hẳn mô hình thu nhỏ của đảo để giải thích cặn kẽ cho du khách. Chỉ cần bỏ khoảng 10 USD, khách sẽ được sống cùng dân bản xứ một ngày, cùng ăn, ở, tối khuya cùng đi câu cá…
Bây giờ tôi mới ngớ người ra, công nhận chiêu “khích tướng” rồi dụ khách đi theo tour của Javier thật cao thủ. Cả tôi và mấy người khách nước ngoài đều bị “xỏ mũi” một cách ngọt ngào. Nhưng dù sao, được đặt chân đến quần đảo lạ lùng nhất thế giới này cũng là kỷ niệm khó quên.
Thời hoàng kim của đế chế Inca chấm dứt khi người Tây Ban Nha xâm lược Peru vào giữa thế kỷ 16. Một số người Inca lui về nơi họ sinh ra, hồ Titicaca - nơi khởi sinh đế chế Inca hùng mạnh, một trong những cái nôi của nền văn minh Nam Mỹ - ẩn tích trên hai hòn đảo Amataní và Taquilé, gần như đoạn tuyệt hẳn với thế giới bên ngoài. Vì thế, dù chỉ cách thị trấn hiện đại Puno hơn hai tiếng tàu thủy, nhưng cuộc sống trên đảo Amataní vẫn bảo lưu như thể 100 năm trước.
Mặc dù tiếng Tây Ban Nha đã trở thành quốc ngữ tại Peru, nhưng người dân ở đây vẫn sử dụng tiếng Quechua, ngôn ngữ cổ thời Inca. Đàn ông vẫn còng lưng trên những mảnh ruộng bậc thang trồng khoai tây, lúa mì để có miếng ăn. Phụ nữ vẫn cặm cụi xe sợi, đan len để có cái mặc. Họ vẫn sống cuộc sống tự cung tự cấp như cha ông mình cách đây hàng trăm năm (có chăng là thêm chút tiền còm từ những người khách du lịch đến đảo ngủ lại).
Không gian ở đây yên tĩnh lạ lùng. Không xe hơi, không nước nóng, không điện thoại, chỉ có những đàn cừu alpaca thong thả gặm cỏ… Những ồn ào, tiện nghi hiện đại của cuộc sống hối hả bên ngoài dường như đã bị nước hồ Titicaca làm đóng băng lại. Amataní không có khách sạn. Du khách đến đây sẽ phải sống chung với các gia đình dân địa phương. Tôi và anh hướng dẫn viên ở chung nhà với Vanessa, cô gái 19 tuổi, cùng với người mẹ. Khi tôi đến, Vanessa và mẹ hãy còn trên rẫy, hàng xóm phải chạy lên kêu về.

Phòng tôi ở có nệm ba lớp (cũng làm từ cây sậy như quần đảo nổi Uros) và có điện, dù chỉ là một bóng đèn tù mù chạy bằng máy phát điện cổ lỗ sĩ. Phòng của Vanessa và mẹ chỉ thắp một cây đèn cầy lờ mờ. Nhà vệ sinh cũng có hai cái riêng biệt. Cái cho dân làng chỉ là một cái hố. Cái cho khách du lịch thì có hẳn bồn cầu. Một ngày đi bộ rã cả người nên lu nước lớn để sẵn trong phòng tắm, chúng tôi chỉ dội một loáng là cạn.
Vanessa và mẹ lẳng lặng xuống núi, hồi lâu sau mới khệ nệ khiêng thùng nước lên. Nước ngọt ở đảo phải hứng từng thùng từ dưới chân núi mang lên. Mẹ Vanessa cho biết: “Muốn khách du lịch đến ở, mỗi gia đình phải đạt được một số tiêu chuẩn nhất định về vệ sinh, điều kiện sinh hoạt. Điều đó quá xa vời với điều kiện hiện tại của chúng tôi. Vì thế, chúng tôi phải vay mượn rồi trả từ từ”.
Buổi tối, làng tổ chức đêm văn nghệ, ca hát, nhảy múa cho khách, chủ nhà cũng phải bận đồ đẹp để cùng vui. Ban nhạc là những bạn trẻ, lớn nhất có lẽ cũng chưa đến 18 tuổi. Ban ngày họ làm nương, đi học (ngay tại đảo), ban đêm trông chờ vào những đồng tiền tip từ khách du lịch. Cesar, một nhạc công 14 tuổi, khoe: “Mùa này là mùa du lịch nên khách đến nhiều. Tuần trước, chúng em chơi nhạc được bốn lần. Tiền tip mỗi đứa được 20 sol (khoảng 7 USD)”.
Khách nhảy nhót vui vẻ, mua bia uống, mời cả dân trong làng. Họ uống hết một cách nhanh chóng, vì như thế có nghĩa là họ lại bán thêm được một chai nước. Thấy tôi ngồi một mình, Vanessa tới mời nhảy. Tôi lắc đầu, mặt cô buồn hẳn: “Chúng tôi phải làm tất cả để khách vui, vì đó là nguồn thu nhập lớn của gia đình”. Cô cho biết mẹ cô cũng mặc đồ đẹp mời mọi người nhảy múa. Chân nhảy, miệng cười nhưng sao họ vẫn không giấu được nỗi buồn trong khóe mắt. Vanessa thổ lộ: “Ba tôi mới mất cách đây mấy ngày”…
Đảo Amataní hãy còn sót lại những di tích từ thời Inca trên hai đỉnh núi Mặt trăng và Mặt trời, nơi mà du khách nào đến cũng cố trèo lên để cầu xin sự sung túc cho bản thân và gia đình. Vanessa nói hai đỉnh núi đấy thiêng lắm, nhưng tôi không tin. Vì nếu thiêng thì mỗi khi khách du lịch đến, bà mẹ già của cô đâu phải cặm cụi leo lên theo chỉ với hy vọng bán được chút đồ thổ cẩm tự dệt của mình…