Tuyển Tập Tiểu Luận

Lượt đọc: 183 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tự Lực

❊ ❊ ❊

"Ne te quæsiveris extra."[145]

"Man is his own star; and the soul that can

Render an honest and a perfect man,

Commands all light, all influence, all fate;

Nothing to him falls early or too late.

Our acts our angels are, or good or ill,

Our fatal shadows that walk by us still."[146]

Cast the bantling on the rocks,

Suckle him with the she-wolf's teat;

Wintered with the hawk and fox,

Power and speed be hands and feet.[147]

Hôm nọ, tôi đọc được mấy vần thơ do một họa sĩ tên tuổi sáng tác; chúng rất độc đáo chứ không hề rập khuôn. Tâm hồn ta luôn nghe thấy một lời nhắc nhở trong những vần thơ như thế, bất kể chủ đề là gì. Cảm xúc mà chúng truyền tải có giá trị hơn bất kỳ tư tưởng nào mà chúng có thể chứa đựng. Tin tưởng vào suy nghĩ của chính mình, tin rằng điều gì là chân lý đối với bạn trong sâu thẳm cõi lòng thì cũng là chân lý đối với mọi người — đó chính là thiên tài.[148] Hãy nói lên niềm xác tín tiềm ẩn trong bạn, và nó sẽ trở thành chân lý phổ quát;[149] bởi vì điều thấu kính bên trong rồi sẽ đến lúc hiện ra bên ngoài — và suy nghĩ đầu tiên của chúng ta sẽ được vọng lại bởi những tiếng kèn trong Ngày Phán Quyết. Dù tiếng nói của tâm trí quen thuộc với mỗi người đến đâu, thì công lao lớn nhất mà chúng ta quy cho Moses, Plato,[150] và Milton[151] chính là việc họ coi nhẹ sách vở truyền thống, không nói những gì người đời nghĩ mà nói những gì chính họ nghĩ. Con người nên học cách nhận biết và dõi theo tia sáng lóe lên trong tâm trí mình từ cõi thâm u, hơn là ánh hào quang từ bầu trời sao của các bậc thi sĩ và hiền triết. Thế nhưng, người ta lại phớt lờ suy nghĩ của chính mình chỉ vì nó là của chính mình. Trong mọi tác phẩm thiên tài, chúng ta đều nhận ra những suy nghĩ từng bị mình chối bỏ:[152] chúng quay trở lại với ta mang theo một vẻ uy nghi xa cách nào đó. Các tác phẩm nghệ thuật vĩ đại không mang lại bài học nào thấm thía hơn điều này đối với chúng ta. Chúng dạy ta kiên định với ấn tượng tự phát của mình bằng sự cương quyết đầy hóm hỉnh, nhất là khi[153] toàn bộ đám đông đang đồng thanh phản đối. Bằng không, ngày mai một kẻ xa lạ sẽ dùng sự khôn ngoan tuyệt đỉnh để nói chính xác những gì chúng ta vẫn luôn suy nghĩ và cảm nhận từ trước tới nay, và rồi chúng ta sẽ phải ngậm ngùi đón nhận ý kiến của chính mình từ kẻ khác trong sự hổ thẹn.

Trong quá trình trưởng thành của mỗi người, sẽ có lúc đi đến xác tín rằng lòng đố kỵ là sự dốt nát; sự bắt chước là hành vi tự sát;[154] rằng anh ta phải chấp nhận con người mình, dù hay dù dở, như một phần số của bản thân; rằng dẫu vũ trụ bao la đầy rẫy những điều tốt đẹp, chẳng có hạt lúa mì nuôi dưỡng nào đến với anh ta ngoại trừ qua giọt mồ hôi lao động trên mảnh đất được giao cho anh ta cày cấy. Sức mạnh ngự trị trong con người anh ta là một điều mới mẻ trong tạo hóa, và không ai ngoài anh ta biết rõ mình có thể làm được gì, bản thân anh ta cũng chẳng thể biết cho đến khi thử sức. Không phải vô cớ mà một gương mặt, một tính cách, một sự việc lại để lại ấn tượng sâu đậm trong anh ta, trong khi những thứ khác thì không. Những nét chạm trổ trong ký ức ấy không phải không có sự hòa hợp được định sẵn từ trước. Con mắt được đặt ở nơi một tia sáng chiếu vào, để nó có thể làm chứng cho tia sáng đặc biệt ấy. Chúng ta mới chỉ bộc lộ một nửa con người mình,[155] và cảm thấy hổ thẹn với ý niệm thiêng liện mà mỗi người chúng ta đại diện. Ta hoàn toàn có thể tin tưởng rằng nó sẽ mang lại kết quả cân đối và tốt đẹp, miễn là ta trao truyền nó một cách thành tâm, nhưng Chúa sẽ không để công trình của Ngài được phơi bày bởi những kẻ hèn nhát. Con người cảm thấy nhẹ nhõm và vui tươi khi đã đặt trọn tâm huyết vào công việc và làm hết sức mình; nhưng những gì anh ta nói hay làm ngoài điều đó sẽ chẳng mang lại cho anh ta chút bình yên nào. Đó là một sự giải thoát nhưng lại không thực sự giải thoát. Trong nỗ lực ấy, thiên tài rời bỏ anh ta; không nàng thơ nào bầu bạn; chẳng có phát minh, chẳng còn hy vọng.

Hãy tin vào chính mình:[156] mọi trái tim đều rung lên theo sợi dây thép ấy. Hãy chấp nhận vị trí mà sự quan phòng thiêng liêng đã dành sẵn cho bạn, xã hội của những người cùng thời, và mạch liên kết của các sự kiện. Những vĩ nhân vẫn luôn làm như vậy, và phó thác bản thân một cách ngây thơ vào thiên hướng của thời đại họ, bộc lộ nhận thức của họ rằng đấng tối cao đáng tin cậy tuyệt đối luôn ngự trị trong tim họ, dẫn dắt đôi tay họ, và chiếm ưu thế trong toàn bộ sinh linh của họ. Và giờ đây chúng ta đã là những người trưởng thành, phải đón nhận định mệnh siêu việt ấy với tâm thế cao cả nhất; không phải như những đứa trẻ vị thành niên hay kẻ bệnh tật ẩn mình trong góc khuất được bảo bọc, không phải những kẻ hèn nhát chạy trốn trước cuộc cách mạng, mà là những người dẫn đường, những đấng cứu thế và ban ơn, tuân theo nỗ lực của Đấng Tối Cao, và tiến bước vào chốn Hỗn Mang[157] cùng Đêm Tối.

Biết bao lời tiên tri tuyệt đẹp mà tự họa mang lại cho chúng ta qua chủ đề này, hiện hữu trên gương mặt và cách hành xử của trẻ nhỏ, trẻ sơ sinh, và thậm chí cả loài vật! Tâm trí bị chia rẽ và nổi loạn ấy, sự hoài nghi đối với một cảm xúc chỉ vì lý trí ta đã tính toán sức mạnh và phương tiện chống lại mục đích của mình — trẻ thơ không hề có những điều đó.[158] Vì tâm trí chúng toàn vẹn, ánh nhìn của chúng vẫn chưa bị khuất phục, và khi nhìn vào khuôn mặt chúng, chúng ta cảm thấy bối rối. Thời thơ ấu không tuân theo bất kỳ ai: tất cả đều phải tuân theo nó, đến mức một đứa trẻ thường khiến bốn hay năm người lớn[159] phải bập bẹ và nô đùa theo nó. Cứ thế, Thượng đế đã ban cho tuổi trẻ, tuổi dậy thì và tuổi trưởng thành sức hấp dẫn và vẻ quyến rũ riêng có, khiến nó trở nên đáng ghen tị, duyên dáng và những yêu sách của nó không thể bị gạt bỏ, miễn là nó biết đứng trên đôi chân của mình. Đừng nghĩ rằng tuổi trẻ không có sức mạnh, chỉ vì nó chưa thể trò chuyện với bạn và tôi. Lắng nghe kìa! ở căn phòng bên cạnh, giọng nói của cậu bé ấy đủ rõ ràng và dứt khoát. Dường như cậu ta biết cách nói chuyện với những người cùng trang lứa. Dù rụt rè hay táo bạo đi nữa, cậu ta sẽ biết cách khiến chúng ta, những kẻ bề trên, trở nên vô cùng thừa thãi.

Sự thản nhiên[160] của những cậu bé chắc chắn có bữa cơm để ăn, và tỏ ra khinh miệt không kém gì một vị chúa tể trước bất kỳ hành động hay lời nói nào nhằm lấy lòng người khác, chính là thái độ lành mạnh của bản chất con người. Một cậu bé trong phòng khách cũng giống như đám đông ở tầng ghế dưới trong nhà hát;[161] độc lập, vô trách nhiệm, đứng từ góc nhìn của mình quan sát những con người và sự việc lướt qua, cậu phán xét và kết tội họ theo năng lực thực tế của họ, bằng cách nhanh chóng và dứt khoát của tuổi trẻ: tốt, xấu, thú vị, ngớ ngẩn, hùng biện, phiền phức. Cậu chẳng bao giờ bận tâm về hậu quả hay lợi ích;[162] cậu đưa ra một phán quyết độc lập và chân thực. Bạn phải lấy lòng cậu: chứ cậu không lấy lòng bạn. Nhưng người lớn tuổi lại bị giam cầm trong chính ý thức của mình. Ngay khi vừa hành động hay cất lời một cách vang dội,[163] anh ta đã trở thành một người bị ràng buộc, bị theo dõi bởi sự đồng cảm hoặc lòng căm thù của hàng trăm con người, những kẻ mà tình cảm giờ đây phải được anh ta tính đến. Không có dòng sông Quên[164] nào xóa nhòa được điều này. Ồ, ước gì anh ta có thể trở lại trạng thái trung lập! Kẻ nào có thể tránh được mọi sự ràng buộc như thế, và sau khi quan sát, lại tiếp tục quan sát từ sự ngây thơ vô tư, không thiên vị, không thể mua chuộc và không sợ hãi ấy, sẽ luôn là một nhân vật đáng gờm. Anh ta sẽ thốt ra những ý kiến về mọi vấn đề đang diễn ra, và vì những ý kiến ấy được nhìn nhận không phải là chuyện riêng tư mà là điều tất yếu, chúng sẽ cắm sâu như những mũi tên vào tai người đời và khiến họ phải sợ hãi.

Đó là những tiếng nói mà chúng ta nghe thấy trong chốn tĩnh lặng, nhưng chúng dần trở nên mờ nhạt và không thể nghe thấy khi ta bước chân vào thế giới ngoài kia. Xã hội ở khắp mọi nơi đang cấu kết với nhau để chống lại nhân vị của từng thành viên trong đó. Xã hội là một công ty cổ phần, nơi các thành viên thỏa thuận, nhằm đảm bảo tốt hơn miến cơm manh áo cho từng cổ đông, sẵn sàng từ bỏ sự tự do và văn hóa của kẻ ăn kẻ bã. Đức hạnh được đòi hỏi nhiều nhất chính là sự tòng phục. Sự tự lực chính là điều nó căm ghét. Nó không yêu chuộng thực tế và sự sáng tạo, mà chỉ thích danh xưng và thói tục.

Kẻ nào muốn làm người thì phải là một kẻ không chịu tòng phục.[165] Kẻ nào muốn hái những nhành cọ bất tử không được để cho danh nghĩa của sự thiện cản trở, mà phải tự mình khám phá xem đó có thực sự là sự thiện hay không.[166] Cuối cùng, chẳng có gì là thiêng liêng ngoài sự chính trực của tâm trí bạn. Hãy tha thứ cho chính mình,[167] và bạn sẽ nhận được sự ủng hộ của thế giới. Tôi nhớ đến câu trả lời mà khi còn khá trẻ, tôi đã được thúc giục để nói với một vị cố vấn đáng kính, người hay quấy rầy tôi bằng những giáo lý cũ kỹ đáng quý của nhà thờ. Khi tôi nói: "Tôi can gì đến sự thiêng liêng của truyền thống, nếu tôi sống hoàn toàn từ nội tâm của mình?", bạn tôi liền gợi ý: "Nhưng những thôi thúc này có thể đến từ địa ngục, chứ không phải từ thiên đường." Tôi đáp lại: "Chúng không có vẻ là như vậy; nhưng nếu tôi là con của quỷ dữ, thì tôi sẽ sống theo cách của quỷ dữ." Không luật lệ nào có thể là thiêng liêng đối với tôi ngoại trừ luật của bản tính tôi. Thiện và ác chỉ là những cái tên rất dễ hoán đổi cho cái này hay cái kia;[168] điều đúng đắn duy nhất là những gì phù hợp với thể tạng tôi, điều sai trái duy nhất là những gì chống lại nó. Một con người phải đứng vững trước mọi sự chống đối, tựa như mọi thứ đều chỉ mang tính danh nghĩa và phù du ngoại trừ chính anh ta. Tôi cảm thấy xấu hổ khi nghĩ đến việc chúng ta dễ dàng khuất phục trước các phù hiệu và danh xưng, trước những xã hội lớn lao và các thể chế đã chết. Mỗi cá nhân lịch sự và có cách ăn nói trau chuốt đều tác động và chi phối tôi nhiều hơn mức cần thiết. Tôi phải ngẩng cao đầu, sống tràn đầy sức sống, và nói lên sự thật trần trụi bằng mọi cách. Nếu sự hiểm ác và thói hư vinh khoác lên mình chiếc áo của lòng nhân ái, liệu điều đó có được bỏ qua không? Nếu một kẻ cuồng tín đầy phẫn nộ ôm lấy sự nghiệp cao cả của phong trào Giải phóng nô lệ này, và mang đến cho tôi tin tức mới nhất của hắn từ Barbados,[169] sao tôi không thể nói với hắn rằng: "Hãy yêu thương đứa con thơ của mình đi; hãy yêu lấy người tiều phu của mình: hãy hòa nhã và khiêm tốn; hãy giữ lấy đức tính ấy; và đừng bao giờ tô vẽ cái tham vọng cay nghiệt, thiếu bác ái của mình bằng sự dịu dàng khó tin dành cho những người da đen ở tận một ngàn dặm xa xôi. Tình yêu xa vời của ngươi thực chất chỉ là sự cay độc ở nhà." Lời chào hỏi ấy thật thô lỗ và kém duyên, nhưng sự thật còn đẹp đẽ hơn vẻ ra vẻ yêu thương. Sự thiện của bạn phải có chút sắc bén — bằng không thì đó chẳng phải là thiện. Học thuyết về sự căm thù phải được ra giảng như một sự đối trọng với học thuyết tình yêu khi học thuyết ấy trở nên èo uột và rên rỉ. Tôi lánh xa cha mẹ, vợ con và anh em, khi thiên hướng gọi mời. Tôi muốn viết lên khung cửa ra vào hai chữ: Ngẫu hứng.[170] Tôi hy vọng rốt cuộc nó còn hơn cả một thứ ngẫu hứng tầm thường, nhưng chúng ta không thể dành cả ngày chỉ để giải thích. Đừng mong tôi phải nêu lý do vì sao tôi tìm kiếm hay vì sao tôi từ chối giao du. Rồi tiếp đó, đừng bảo tôi, như một người tốt đã làm hôm nay, về nghĩa vụ phải sắp xếp cho tất cả những người nghèo có được hoàn cảnh sống tốt đẹp. Bọn họ có phải là người nghèo của tôi đâu? Tôi nói cho ngươi biết, hỡi tên nhà từ thiện ngớ ngẩn, rằng tôi tiếc nuối từng đồng đô la, từng xu cắc tẻ mà tôi bố thí cho những kẻ chẳng thuộc về tôi và tôi cũng chẳng thuộc về họ. Có một tầng lớp con người mà bằng mọi sự tương thông tâm linh, tôi đã gắn kết toàn bộ tâm can; vì họ, tôi sẵn sàng vào tù nếu cần thiết; nhưng những quỹ từ thiện đại chúng tạp nhạp của các vị; việc cho những kẻ ngốc tiền ăn học đại học; việc xây dựng những ngôi nhà cầu nguyện vô nghĩa như bao nơi đang tồn tại; của bố thí cho những kẻ nát rượu; và hàng ngàn Hội Cứu trợ — dẫu tôi thú nhận trong hổ thẹn rằng đôi khi tôi vẫn mềm lòng mà dâng hiến đồng đô la ấy, thì đó vẫn là một đồng đô la tội lỗi mà một ngày nào đó tôi sẽ đủ bản lĩnh để từ chối không cho đi.

Theo đánh giá phổ biến, các đức hạnh thường là ngoại lệ chứ không phải quy tắc. Ở đó có con người và những đức hạnh của anh ta. Người ta làm cái gọi là việc thiện, như một chút lòng dũng cảm hay lòng bác ái, cũng giống như cách họ đóng tiền phạt để chuộc lỗi vắng mặt trong buổi duyệt binh hằng ngày vậy. Công việc của họ được thực hiện như một lời xin lỗi hoặc sự giảm nhẹ cho việc họ đang sống trên đời — giống như cách những người bệnh tật và tâm thần trả tiền phòng trọ đắt đỏ. Các đức hạnh của họ thực chất chỉ là những hình phạt chuộc tội. Tôi không muốn chuộc tội, tôi muốn sống. Cuộc đời tôi là vì chính nó chứ không phải để làm vật trưng bày. Tôi thà rằng nó mang một âm hưởng trầm lắng hơn, miễn là chân thật và quân bình, còn hơn là rực rỡ mà bấp bênh. Tôi muốn nó lành mạnh và ngọt ngào, chứ không cần đến kiêng khem hay trích huyết.[171] Tôi đòi hỏi bằng chứng tiên quyết rằng bạn là một con người, và từ chối cái lối viện dẫn từ con người sang hành động của anh ta. Tôi thừa nhận rằng đối với bản thân mình, chẳng có gì khác biệt giữa việc tôi làm hay không làm những hành động được coi là cao cả ấy. Tôi không thể đồng ý bỏ tiền ra mua một đặc quyền trong khi mình có quyền lợi nội tại. Dù các ân huệ của tôi có ít ỏi và tầm thường đến đâu, tôi thực sự đang hiện hữu, và để tự khẳng định bản thân hay để trấn an đồng loại, tôi chẳng cần đến bất kỳ lời chứng thực thứ cấp nào.

Những gì tôi phải làm mới là điều duy nhất liên quan đến tôi, chứ không phải suy nghĩ của thiên hạ. Quy tắc này, vốn dĩ vô cùng gian nan trong cả đời sống thực tế lẫn đời sống trí tuệ, có thể coi là ranh giới phân định hoàn toàn giữa sự vĩ đại và sự hèn hạ. Nó càng khó khăn hơn bởi vì bạn sẽ luôn tìm thấy những kẻ tưởng rằng họ biết rõ bổn phận của bạn hơn chính bạn. Sống theo quan điểm của thế gian thì dễ; sống theo quan điểm của riêng ta trong chốn tĩnh lặng cũng dễ; nhưng vĩ nhân chính là người giữa chốn đông người vẫn giữ được sự độc lập của chốn tĩnh lặng với một tâm hồn hoàn toàn thanh thản.[172]

Sự phản đối việc tòng theo những lề thói đã trở nên khô cứng đối với bạn nằm ở chỗ, nó làm phân tán sức mạnh của bạn. Nó phí phạm thời gian của bạn và làm mờ nhạt dấu ấn cá tính của bạn. Nếu bạn duy trì một giáo hội đã tàn lụi, đóng góp cho một hội Kinh Thánh đã nguội lạnh, bỏ phiếu cho một đảng phái lớn dù là ủng hộ hay chống lại chính phủ, bày biện bàn tiệc như những kẻ quản gia thấp hèn — đằng sau tất cả những lớp bình phong ấy, tôi rất khó nhận ra con người đích thực của bạn là ai. Và dĩ nhiên, một lượng lớn sức lực đã bị rút khỏi cuộc sống đích thực của bạn. Nhưng hãy cứ làm công việc của mình, và tôi sẽ hiểu bạn.[174] Hãy làm công việc của mình, và bạn sẽ tái tạo được sức mạnh cho chính mình. Con người ta phải ngẫm xem trò bịt mắt bắt dê này chính là trò chơi tòng phục. Nếu tôi biết giáo phái của bạn, tôi có thể đoán trước luận điểm của bạn. Tôi nghe một nhà thuyết giáo xướng lên câu kinh và chủ đề về sự thực dụng của một trong những thiết chế trong giáo hội của ông ta. Chẳng phải tôi đã biết trước rằng ông ta hoàn toàn không thể thốt ra một lời nào mới mẻ và tự phát hay sao? Chẳng phải tôi thừa biết rằng, dẫu có ra điều bày tỏ sự săm soi kỹ lưỡng các căn nguyên của thiết chế ấy, ông ta cũng chẳng đời nào làm thế? Chẳng phải tôi biết rõ rằng ông ta đã tự thề với lòng mình là sẽ chỉ nhìn về một phía — phía được phép, không phải với tư cách một con người, mà như một vị mục sư giáo xứ? Ông ta chẳng khác nào một luật sư được thuê mướn, và những điệu bộ tôn nghiêm nơi tòa án ấy[176] chỉ là thứ giả tạo rỗng tuếch nhất. Chà, hầu hết mọi người đều tự bịt mắt mình bằng chiếc khăn tay này hay chiếc khăn tay khác,[177] và bấu víu vào một trong những cộng đồng quan điểm ấy.[178] Sự tòng phục này không khiến họ trở thành kẻ dối trá trong một vài chi tiết, hay là tác giả của vài lời nói dối nhỏ nhặt, mà là kẻ dối trá trong mọi chi tiết. Mọi chân lý của họ đều không hoàn toàn chân thật. Con số hai của họ không phải là con số hai đích thực,[88] con số bốn của họ không phải là con số bốn đích thực; để rồi mọi lời họ thốt ra đều khiến chúng ta chán ngán, và ta chẳng biết phải bắt đầu từ đâu để uốn nắn họ lại cho đúng. Trong khi đó, tự nhiên chẳng chần chừ gì trong việc trang bị cho chúng ta bộ đồng phục tù nhân của phe nhóm mà chúng ta gia nhập. Chúng ta dần mang cùng một khuôn mặt và vóc dáng, và từng bước acqui được cái biểu cảm ngu ngơ dịu dàng nhất. Có một trải nghiệm đầy hổ thẹn cụ thể mà lịch sử chung cũng không thể nào tránh khỏi; ý tôi là "gương mặt ngu ngốc của sự ca tụng", cái nụ cười gượng gạo mà chúng ta bày ra giữa đám đông khi cảm thấy không thoải mái để hưởng ứng một cuộc trò chuyện chẳng có chút hứng thú nào. Các cơ bắp, không phải chuyển động tự nhiên, mà bị điều khiển bởi một thứ ý chí thấp hèn và lấn lướt, trở nên căng cứng quanh đường viền khuôn mặt cùng cảm giác vô cùng khó chịu.

Vì thói không tòng phục, thế giới sẽ trừng phạt bạn bằng sự bất mãn của nó.[179] Và do đó, con người phải biết cách đánh giá một bộ mặt khó đăm đăm. Những kẻ đứng ngoài liếc nhìn anh ta trên phố hay trong phòng khách của bạn bè. Nếu sự tòm thèm ấy bắt nguồn từ lòng khinh miệt và sự kháng cự giống như của chính anh ta, anh ta có lẽ nên cúi đầu buồn bã bước về nhà; thế nhưng, những gương mặt cau có của đám đông, cũng giống như những gương mặt vui vẻ của họ, chẳng có nguyên nhân sâu xa nào cả, mà chỉ được trưng ra hay cất đi tùy theo chiều gió thổi và sự chỉ đạo của báo chí.[180] Mặc dù vậy, sự bất mãn của đám đông vẫn đáng sợ hơn nhiều so với sự bất mãn của viện nguyên lão và trường đại học. Một người kiên định hiểu rõ thế giới hoàn toàn có thể dễ dàng chịu đựng cơn thịnh nộ của tầng lớp trí thức. Cơn thịnh nộ của họ rất mực đoan trang và thận trọng, bởi vì bản thân họ rất dễ bị tổn thương nên rất nhát gan. Nhưng[89] khi sự phẫn nộ của quần chúng hòa vào cơn giận nữ tính của họ, khi những kẻ vô học và nghèo đói nổi giận, khi thứ sức mạnh thú tính vô tri nằm ở tầng đáy xã hội gầm gừ và nhăn nhó, thì cần phải có thói quen hào hiệp và tôn giáo mới có thể đối đãi với nó một cách cao cả như một chuyện vặt vãnh chẳng bận tâm.

Nỗi sợ hãi khác[181] ngăn cản chúng ta tin tưởng vào chính mình chính là sự nhất quán của bản thân;[182] sự tôn kính đối với hành động hay lời nói trong quá khứ, bởi vì ánh mắt của kẻ khác chẳng có dữ liệu nào khác để tính toán quỹ đạo của chúng ta[183] ngoài những việc ta đã làm trong quá khứ, và chúng ta thì ngần ngại không muốn làm họ thất vọng.

Nhưng tại sao bạn cứ phải ngoái đầu nhìn lại sau lưng? Tại sao lại cứ lê lết cái thây ma của ký ức này, chỉ vì sợ mâu thuẫn với điều gì đó[184] mà bạn từng tuyên bố ở nơi công cộng này hay nơi công cộng khác? Giả sử bạn tự mâu thuẫn với chính mình đi; thì sao nào? Có vẻ như quy tắc khôn ngoan là không bao giờ chỉ dựa dẫm vào trí nhớ của mình, thậm chí hiếm khi làm vậy ngay cả trong những hành động thuần túy thuộc về trí nhớ, mà phải mang quá khứ ra trước sự phán xét của hiện tại ngàn mắt, và sống mãi trong một ngày mới. Trong triết học siêu hình, bạn từng phủ nhận tính nhân vị của Thượng đế; thế nhưng khi những rung động sùng kính của tâm hồn xuất hiện, hãy dâng hiến cho chúng cả trái tim và cuộc đời, dẫu cho chúng có khoác lên Thượng đế hình hài và màu sắc đi nữa. Hãy vứt bỏ lý thuyết của bạn, giống như cách Joseph bỏ lại chiếc áo khoác trong tay ả đàn bà lẳng lơ, và chạy trốn.[185] Sự nhất quán ngớ ngẩn là con ngáo ộp của những tâm trí nhỏ bé, được tôn sùng bởi những chính trị gia, triết gia và nhà thần học tầm thường. Một tâm hồn vĩ đại hoàn toàn chẳng bận tâm đến sự nhất quán. Anh ta thà bận tâm đến cái bóng trên tường còn hơn. Hôm nay hãy nói những gì bạn nghĩ[90] bằng những lời lẽ đanh thép, và ngày mai lại nói những gì ngày mai suy nghĩ bằng những lời lẽ đanh thép ấy, dẫu cho nó mâu thuẫn với mọi điều bạn đã nói hôm nay. — "Ờ, thế thì chắc chắn ngươi sẽ bị hiểu lầm." — Việc bị hiểu lầm tồi tệ đến thế sao? Pythagoras[186] từng bị hiểu lầm, và Socrates,[187] và Jesus, và Luther,[188] và Copernicus,[189] và Galileo,[190] và Newton,[191] cùng mọi tâm hồn trong sáng và thông thái từng mang thể xác phàm trần. Trở nên vĩ đại là phải bị hiểu lầm.

Tôi cho rằng không ai có thể cưỡng lại bản tính của chính mình. Mọi bộc phát ý chí của họ đều nằm gọn trong quy luật sinh tồn của bản thể, cũng như sự nhấp nhô của dãy Andes[192] và Himalaya[193] trở nên tầm thường trước đường cong của hình cầu. Và việc bạn đo đạc hay thử thách anh ta ra sao cũng chẳng quan trọng. Tính cách giống như một bài thơ phối chữ hoặc một thể thơ Alexandrine;[194] — dù đọc xuôi, đọc ngược hay đọc chéo, nó vẫn diễn tả cùng một ý nghĩa. Trong cuộc sống điền viên đầy dịu êm và thành khẩn mà Thượng đế ban cho tôi này, hãy để tôi ghi chép lại từng ngày suy nghĩ chân thành của mình mà không cần nhìn trước ngó sau, và tôi tin chắc rằng, nó sẽ tự khắc đối xứng, dẫu tôi không hề dụng ý hay nhìn thấy điều đó. Sách của tôi phải mang hương thơm của rừng thông và vang vọng tiếng vo ve của côn trùng. Con én ngoài cửa sổ của tôi cũng sẽ dệt sợi rơm hay cọng cỏ mà nó ngậm trong mỏ vào tấm lưới của tôi. Chúng ta sống và được đánh giá đúng như bản chất thực sự của mình. Tính cách bộc lộ mạnh mẽ hơn cả ý chí của chúng ta. Con người tưởng rằng họ chỉ truyền đạt đức hạnh hay thói hư tật xấu qua những hành động tường tận, mà không nhận ra rằng đức hạnh hay thói hư tật xấu tỏa ra hơi thở trong từng khoảnh khắc.

Sẽ có sự tương đồng trong bất kỳ sự đa dạng nào của[91] hành động, miễn là mỗi hành động ấy đều chân thành và tự nhiên trong thời điểm của nó. Bởi vì xuất phát từ một ý chí duy nhất, các hành động sẽ mang tính hài hòa, dẫu thoạt nhìn chúng có vẻ khác biệt đến đâu. Những sự đa dạng này sẽ biến mất khi ta đứng ở một khoảng cách nhất định, ở một tầm cao tư duy nhất định. Một khuynh hướng duy nhất hợp nhất tất cả chúng. Chuyến hải trình của con tàu xuất sắc nhất là một đường zíc-zắc gồm hàng trăm cú đổi hướng.[195] Hãy nhìn đường đi ấy từ một cự ly đủ xa, nó sẽ tự duỗi thẳng thành xu hướng chung. Hành động chân chính của bạn sẽ tự giải thích cho chính nó, và sẽ giải thích cho những hành động chân chính khác của bạn. Sự tòng phục của bạn chẳng giải thích được điều gì cả. Hãy hành động một cách đơn độc, và những gì bạn từng làm một cách đơn độc trước đây sẽ minh oan cho bạn lúc này. Sự vĩ đại luôn hướng về tương lai. Nếu ngày hôm nay tôi có thể đủ kiên định để làm điều đúng và coi thường ánh mắt kẻ đời,[196] chắc hẳn tôi đã làm đủ nhiều việc đúng trong quá khứ để bảo vệ tôi bây giờ. Dù thế nào đi nữa, hãy làm điều đúng ngay lúc này. Hãy luôn coi thường những bề ngoài phù phiếm, và bạn sẽ luôn làm được điều đó. Sức mạnh của tính cách mang tính tích lũy. Tất cả những ngày tháng đức hạnh đã qua đều bồi đắp sức khỏe tinh thần của chúng vào đây. Điều gì tạo nên vẻ uy nghi của các anh hùng trong viện nguyên lão và trên chiến trường, thứ khiến trí tưởng tượng của chúng ta phải choáng ngợp? Đó là ý thức về một chuỗi những ngày tháng vĩ đại và những chiến thắng ở phía sau. Chúng chiếu một thứ ánh sáng hợp nhất lên kẻ đang dấn bước phía trước. Anh ta được tòng cận như thể có một đoàn hộ tống bằng thiên thần hiện hình. Chính điều đó đã thổi sức mạnh sấm sét vào giọng nói của Chatham,[197] nét uy nghi vào dáng đi của Washington, và ánh lửa nước Mỹ vào đôi mắt của Adams.[198] Danh dự rất đáng tôn kính đối với chúng ta bởi vì nó không phải là thứ phù du chết yểu. Đó luôn là đức hạnh nguyên thủy. Chúng ta tôn sùng nó ngày hôm nay bởi vì nó không thuộc về ngày hôm nay. Chúng ta yêu mến và tỏ lòng thành kính với nó, bởi vì nó không phải là cái bẫy giăng sẵn để câu lấy tình yêu[92] và lòng thành kính của chúng ta, mà nó tự thân tồn tại, tự nguồn sinh ra, và do đó mang một dòng dõi thuần khiết cổ xưa, ngay cả khi nó biểu hiện ở một người trẻ tuổi.

Tôi hy vọng vào những ngày này chúng ta đã chấm dứt được thói tòng phục và sự nhất quán. Hãy để những từ ngữ ấy bị tuyên bố tước đoạt và trở thành nực cười từ nay về sau. Thay vì tiếng chiêng gọi ăn tối, hãy để chúng ta nghe thấy tiếng còi hiệu từ cây sáo Sparta.[199] Mong rằng chúng ta sẽ không bao giờ phải cúi đầu và xin lỗi thêm lần nào nữa. Một vĩ nhân sắp đến nhà tôi dùng bữa. Tôi không muốn làm hài lòng ông ấy; tôi muốn ông ấy phải tìm cách làm hài lòng tôi. Tôi sẽ đứng đây vì nhân loại, và dẫu tôi muốn nó nhân hậu, tôi cũng muốn nó phải chân thật. Hãy mạnh dạn lăng mạ và quở trách sự tầm thường êm ả cùng thói mãn nguyện nhếch nhác của thời đại này, và ném thẳng vào mặt lề thói, thương trường cùng quan chức chân lý vốn là kết cục của toàn bộ lịch sử: rằng có một Tư Tưởng gia và Tác nhân chịu trách nhiệm vĩ đại đang hoạt động ở bất cứ nơi nào con người lao động; rằng một con người chân chính không thuộc về thời đại hay địa điểm nào khác, mà chính là tâm điểm của vạn vật. Nơi nào có anh ta, nơi đó có tự nhiên. Anh ta định đoạt bạn, định đoạt tất cả mọi người và mọi sự kiện. Thông thường, mọi người trong xã hội đều gợi cho chúng ta nhớ đến một thứ gì đó, hoặc một ai đó. Tính cách, thực tại, không gợi cho bạn nhớ đến bất cứ điều gì khác; nó thay thế cho toàn bộ tạo vật. Con người phải vĩ đại đến mức khiến mọi hoàn cảnh trở nên dửng dưng đối với mình. Mỗi con người chân chính là một nguyên nhân, một đất nước, và một thời đại; cần những khoảng không gian, con số và thời gian vô tận để hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh của mình; — và hậu thế dường như bước theo gót chân anh ta như một đoàn đoàn lớp lớp khách hàng. Một con người tên Caesar[200] ra đời, và từ nhiều thế hệ sau,[93] chúng ta có một Đế chế La Mã. Chúa Jesus ra đời, và hàng triệu tâm hồn lớn lên, bám chặt lấy thiên tài của Ngài, đến mức Ngài hòa làm một với đức hạnh và những giới hạn khả thể của con người. Một thể chế chính là cái bóng kéo dài của một con người; chẳng hạn Chủ nghĩa tu viện là cái bóng của ẩn sĩ Antony;[201] Phong trào Cải cách là của Luther; Chủ nghĩa Quaker là của Fox;[202] Chủ nghĩa Giám lý là của Wesley;[203] Phong trào bãi nô là của Clarkson.[204] Scipio,[205] người được Milton gọi là "đỉnh cao của Rome"; và toàn bộ lịch sử cuối cùng đều quy giản một cách rất dễ dàng thành tiểu sử của một vài con người kiên cường và nhiệt huyết.

Vậy thì, hãy để mỗi người nhận thức được giá trị của bản thân, và đặt vạn vật dưới chân mình. Đừng để anh ta rón rén, trộm cắp, hay len lỏi khắp nơi với dáng vẻ của một đứa trẻ nhận ơn phước, một kẻ hoang đàng hay một kẻ ăn nhờ ở đậu, trong thế giới vốn tồn tại vì chính anh ta. Thế nhưng con người ngoài phố kia, chẳng tìm thấy ở bản thân chút giá trị nào tương xứng với sức mạnh từng xây nên ngọn tháp hay tạc nên vị thần bằng cẩm thạch, lại cảm thấy nghèo hèn khi ngắm nhìn những thứ đó. Đối với anh ta, một cung điện, một bức tượng, một cuốn sách quý giá đều mang vẻ xa lạ và cự tuyệt, trông chẳng khác nào một cỗ xe ngựa lộng lẫy, và dường như cũng cất lời hỏi rằng: "Anh là ai thế, thưa Ngài?" Thế nhưng tất cả những thứ đó đều thuộc về anh ta, đang khẩn khoản mong anh ta chú ý, đang cầu xin các năng lực của anh ta hãy bước ra và chiếm lấy chúng. Bức tranh đang chờ đợi phán quyết của tôi; nó không có quyền ra lệnh cho tôi, mà chính tôi mới là người định đoạt giá trị ca tụng của nó. Câu chuyện ngụ ngôn phổ biến về kẻ nát rượu được vớt lên khi đang say mèm ngoài đường, được đưa về dinh thự của công tước, tắm rửa sạch sẽ, mặc quần áo đẹp rồi đặt lên chiếc giường của công tước, và khi tỉnh dậy, được đối đãi bằng mọi nghi thức tôn kính như một vị công tước, đồng thời được đoan chắc rằng trước đó hắn ta bị tâm thần[206] — câu chuyện ấy sở dĩ nổi tiếng là vì nó tượng trưng rất chuẩn xác cho tình cảnh của con người, kẻ vốn dĩ giống như một tên nát rượu ở trần gian, nhưng thỉnh thoảng lại tỉnh giấc, vận dụng lý trí của mình, và phát hiện ra bản thân thực chất là một vị hoàng tử đích thực.

Việc đọc sách của chúng ta mang tính đi xin ăn và nịnh bợ. Trong lịch sử, trí tưởng tượng đã phản bội chúng ta. Vương quyền và tước vị, quyền lực và điền trang là một thứ từ vựng hoa hùm hơn so với những con người bình thường John và Edward trong một ngôi nhà nhỏ cùng công việc hằng ngày; nhưng bản chất sự việc của cuộc đời đối với cả hai đều như nhau; tổng kết lại thì cả hai đều giống nhau tại vạch đích. Tại sao lại phải dành ngần ấy sự cung kính cho Alfred,[207] Scanderbeg,[208] và Gustavus?[209] Giả sử họ rất đức hạnh; liệu họ có làm cạn kiệt đức hạnh không? Một canh bạc lớn lao không kém đang chờ đợi hành động riêng tư của bạn hôm nay, chẳng khác nào những bước chân công khai và lừng lẫy của họ. Khi những con người bình thường hành động với những nhãn quan độc đáo, hào quang sẽ được chuyển dời từ hành động của các vị vua sang hành động của những quý ông chân chính.

Thế giới từng được giáo dưỡng bởi các vị vua của mình, những kẻ đã tạo ra sức hút mãnh liệt với ánh mắt của muôn dân. Nó đã được dạy bảo qua biểu tượng khổng lồ này về lòng tôn kính lẫn nhau vốn có giữa con người với con người. Niềm trung thành hân hoan mà ở khắp mọi nơi, người ta đã dung thứ cho vị vua, nhà quý tộc hoặc đại địa chủ bước đi giữa họ theo luật riêng của ông ta, tự đặt ra hệ chuẩn riêng cho con người và sự vật, rồi đảo ngược hệ chuẩn của họ, đền đáp những ân huệ không bằng tiền bạc mà bằng danh dự, và đại diện cho pháp lý trong chính con người ông ta, chính là ký hiệu tượng hình[210] mà qua đó họ ngấm ngầm biểu thị ý thức về quyền lợi và vẻ đẹp của chính mình, quyền lợi của mọi con người.

Sức hút mà mọi hành động nguyên bản tỏa ra sẽ được giải thích khi chúng ta truy tìm nguyên nhân của lòng tự tin vào bản thân.[95] Ai mới là Ủy thác viên? Bản ngã nguyên thủy là gì, thứ có thể làm nền tảng cho niềm tin tưởng vạn năng? Bản chất và sức mạnh của vì sao thách thức khoa học ấy là gì, không có thị sai,[211] không có các yếu tố tính toán được, thứ bắn ra một tia sáng vẻ đẹp ngay cả vào những hành động vụn vặt và ô trược, miễn là xuất hiện dù chỉ một dấu hiệu nhỏ nhất của tính độc lập? Cuộc truy vấn dẫn chúng ta đến cội nguồn ấy, nơi vừa là bản chất của thiên tài, của đức hạnh, vừa là của sự sống, thứ mà chúng ta gọi là Tính Tự Phát hoặc Bản Năng. Chúng ta gọi sự minh triết tiên khởi này là Trực giác, trong khi tất cả những lời giáo huấn về sau chỉ là kiến thức học được. Trong thứ sức mạnh sâu thẳm ấy, sự thật tối hậu mà phân tích không thể vượt qua, vạn vật đều tìm thấy cội nguồn chung của mình. Bởi vì ý thức về sự tồn tại dâng trào trong những giờ phút tĩnh lặng, bằng cách mà ta chẳng thể ngờ tới, trong tâm hồn, không hề tách biệt với vạn vật, với không gian, với ánh sáng, với thời gian, với con người, mà đồng nhất với chúng, và rõ ràng xuất phát từ cùng một cội nguồn sinh ra sự sống và sự tồn tại của chúng. Trước hết, nhờ có sự sống ấy mà vạn vật mới tồn tại, và sau đó chúng ta nhìn nhận chúng như những hiện tượng trong tự nhiên, để rồi quên mất rằng chúng ta từng chung chia cội nguồn với chúng. Đây chính là mạch nguồn của hành động và tư tưởng. Đây là buồng phổi của nguồn cảm hứng ban phát sự minh triết cho con người, thứ không thể bị chối bỏ nếu không phạm tội bất kính và vô thần. Chúng ta đang nằm trong lòng của một trí tuệ bao la, thứ khiến chúng ta trở thành những kẻ tiếp nhận chân lý của nó và là cơ quan thực hiện hoạt động của nó. Khi chúng ta nhận thức được công lý, khi chúng ta nhận thức được chân lý, chúng ta chẳng làm gì bằng sức của chính mình, mà chỉ đang dọn đường cho những tia sáng của nó chiếu qua. Nếu chúng ta gặng hỏi điều này từ đâu đến, nếu chúng ta tìm cách dòm ngó vào tâm hồn gây ra nó, mọi triết lý đều lực bất tòng tâm. Sự hiện diện hay vắng bóng của nó[96] là tất cả những gì chúng ta có thể khẳng định. Mỗi con người đều phân biệt được các hành động tự nguyện của tâm trí mình với những nhận thức vô thức của bản thân, và thừa biết rằng những nhận thức vô thức ấy xứng đáng nhận được niềm tin tuyệt đối. Anh ta có thể sai lầm trong cách diễn đạt chúng, nhưng anh ta biết rằng những điều đó là sự thật, giống như ngày và đêm, là những thứ không thể tranh cãi. Những hành động và thành quả cố ý của tôi chỉ là sự lang thang; — ngay cả cơn mơ màng vẩn vơ nhất, cảm xúc nguyên thủy mờ nhạt nhất, cũng khơi gợi sự tò mò và tôn trọng của tôi. Những kẻ thiếu suy nghĩ sẵn sàng bác bỏ tuyên bố về nhận thức cũng dễ như bác bỏ ý kiến, hay đúng hơn là dễ hơn rất nhiều; bởi vì họ không phân biệt nổi giữa nhận thức và quan niệm. Họ tưởng rằng tôi chủ ý muốn nhìn thấy cái này hay cái kia. Nhưng nhận thức không hề ngẫu hứng, nó mang tính định mệnh. Nếu tôi nhìn thấy một nét tính cách nào đó, con cái tôi sẽ nhìn thấy nó sau tôi, và theo thời gian, toàn nhân loại cũng vậy — dẫu có thể trước đó chưa từng có ai nhìn thấy nó. Bởi vì nhận thức của tôi về điều đó cũng là một sự thật hiển nhiên chẳng khác gì mặt trời.

Mối quan hệ giữa tâm hồn với thần linh vốn dĩ thuần khiết đến mức việc tìm cách chen chân thêm những sự trợ giúp vào là một sự báng bổ. Chắc chắn rằng khi Thượng đế cất lời, Ngài phải truyền đạt không chỉ một điều, mà là tất cả mọi điều; phải lấp đầy thế giới bằng tiếng nói của mình; phải tung tóe ánh sáng, tự nhiên, thời gian, tâm hồn từ tâm điểm của suy nghĩ hiện tại; và tái định ngày tháng cũng như tái tạo lại toàn bộ vũ trụ. Bất cứ khi nào tâm trí trở nên giản dị và tiếp nhận sự minh triết thiêng liêng, những điều cũ kỹ sẽ lùi vào dĩ vãng — phương tiện, thầy giáo, sách vở, đền đài đều sụp đổ; nó đang sống trong hiện tại và thu trọn quá khứ lẫn tương lai vào giờ phút hiện tại ấy. Vạn vật đều được[97] tôn thánh hóa bởi mối liên hệ với nó — cái này cũng như cái kia. Vạn vật đều tan rã về đến tận tâm điểm bởi chính cội nguồn của chúng, và trong phép mầu phổ quát ấy, những phép mầu vụn vặt và riêng biệt đều biến mất. Do đó, nếu một kẻ lớn lối tuyên bố mình biết và nói về Thượng đế, rồi kéo bạn quay ngược về hệ thống ngôn từ của một quốc gia mục nát nào đó ở một xứ sở khác, trong một thế giới khác, xin đừng tin hắn. Hạt sồi liệu có tốt hơn cái cây sồi vốn là sự trọn vẹn và viên mãn của nó không? Cha mẹ liệu có tốt hơn đứa con mà họ đã trút vào đó phần đời chín muồi của mình?[212] Vậy từ đâu mà ra cái thói sùng bái quá khứ này?[213] Các thế kỷ chính là những kẻ đồng lõa chống lại sự minh mẫn và uy quyền của tâm hồn. Thời gian và không gian chỉ là những sắc thái sinh lý do con mắt tạo ra, nhưng tâm hồn chính là ánh sáng; nơi nào nó hiện diện, nơi đó là ban ngày; nơi nào nó từng đi qua, nơi đó là đêm tối; và lịch sử chỉ là một sự xấc láo và tổn hại, nếu nó không gì hơn ngoài một ngụ ngôn hay câu chuyện vui tươi về sự hiện hữu và tiến hóa của tôi.

Con người vốn nhút nhát và hay ngụy biện; anh ta không còn ngẩng cao đầu nữa, không dám thốt lên câu "Tôi suy nghĩ", "Tôi hiện hữu", mà phải trích dẫn lời của vị thánh này hay bậc hiền triết nọ. Anh ta cảm thấy hổ thẹn trước ngọn cỏ hay đóa hồng đang hé nở. Những đóa hồng dưới cửa sổ tôi đây chẳng thèm nhắc nhở gì đến những đóa hồng trong quá khứ hay những đóa hồng tốt đẹp hơn; chúng tồn tại vì chính bản thân chúng; chúng hiện hữu cùng Thượng đế ngay trong ngày hôm nay. Đối với chúng chẳng có khái niệm thời gian. Chỉ đơn giản có đóa hồng; nó hoàn mỹ trong từng khoảnh khắc tồn tại của mình. Trước khi nụ lá bung nở, toàn bộ sức sống của nó đã hoạt động; khi hoa nở rộ, chẳng có gì nhiều hơn; ở cái rễ trơ trụi chẳng có gì ít hơn. Bản tính của nó được thỏa mãn, và nó làm thỏa mãn tự nhiên, trong mọi khoảnh khắc đều như nhau.[98] Thế nhưng con người lại hay trì hoãn, hoặc hoài niệm; anh ta không sống trong hiện tại, mà với cái nhìn đảo ngược, cứ than khóc cho quá khứ, hoặc phớt lờ sự giàu có đang bao quanh mình để kiễng chân ngóng trông tương lai. Anh ta không thể hạnh phúc và mạnh mẽ cho đến khi chính anh ta cũng sống cùng tự nhiên trong hiện tại, vượt lên trên thời gian.

Điều này lẽ ra phải đủ rõ ràng. Thế nhưng hãy nhìn xem, những trí tuệ lớn lao dường như vẫn chưa dám lắng nghe chính Thượng đế, trừ khi Ngài cất lời bằng hệ ngôn từ của không biết vị David, Jeremiah hay Paul nào đó. Chúng ta sẽ không mãi mãi đặt giá trị quá cao cho một vài văn bản, cho một vài cuộc đời.[214] Chúng ta giống như những đứa trẻ đọc vẹt câu cú của các bà nội và gia sư, rồi khi lớn lên, của những con người, tài năng và tính cách mà chúng tình cờ gặp phải — cặm cụi ghi nhớ từng từ chính xác mà họ đã nói; để rồi sau đó, khi đạt được góc nhìn giống như những kẻ từng thốt ra câu nói ấy, chúng mới thấu hiểu chúng, và sẵn sàng bỏ qua những câu chữ; bởi vì bất cứ lúc nào, khi cơ hội đến, chúng cũng có thể dùng những từ ngữ hay ho tương đương. Nếu chúng ta sống thực sự, chúng ta sẽ nhìn nhận thực sự. Kẻ mạnh làm người mạnh cũng dễ dàng như kẻ yếu làm người yếu. Khi có nhận thức mới mẻ, chúng ta sẽ vui vẻ trút bỏ những kho báu tích lũy trong ký ức như thứ rác rưởi cũ kỹ. Khi một con người sống cùng Thượng đế, giọng nói của anh ta sẽ ngọt ngào như tiếng suối róc rách và tiếng lá ngô xào xạc.

Và giờ đây, cuối cùng thì chân lý cao cả nhất về chủ đề này vẫn chưa được thốt lên; có lẽ là không thể thốt lên; bởi vì tất cả những gì chúng ta nói chỉ là sự hồi tưởng xa xôi về trực giác. Tư tưởng ấy, theo cách gần nhất mà tôi có thể diễn đạt,[99] là thế này. Khi điều thiện ở gần bạn, khi bạn có sự sống trong chính mình, nó không đến qua bất kỳ con đường quen thuộc hay đã biết nào; bạn sẽ không nhận ra dấu chân của bất kỳ ai khác; bạn sẽ không nhìn thấy gương mặt của bất kỳ ai; bạn sẽ không nghe thấy bất kỳ tên gọi nào; — con đường, tư tưởng, điều thiện đó sẽ hoàn toàn xa lạ và mới mẻ. Nó sẽ loại trừ mọi gương mẫu và kinh nghiệm. Bạn đón nhận con đường tách rời con người, chứ không phải hướng về con người. Tất cả những con người từng tồn tại đều là những người hầu vô danh của nó. Sợ hãi và hy vọng đều nằm dưới tầm của nó. Có chút gì đó thấp hèn ngay cả trong hy vọng. Trong giờ phút khải thị, chẳng có gì gọi là lòng biết ơn, hay đích thực là niềm vui. Tâm hồn vươn lên trên mọi đam mê ngắm nhìn bản thể và nhân quả vĩnh cửu, nhận thức được sự tự sinh của Chân lý và Công lý, đồng thời tự trấn an bằng nhận thức rằng vạn vật đều tiến triển tốt đẹp. Những không gian bao la của tự nhiên, Đại Tây Dương, Biển Nam — những khoảng thời gian dài đằng đẵng, năm tháng, thế kỷ — đều chẳng có nghĩa lý gì. Điều mà tôi đang suy nghĩ và cảm nhận này nằm ẩn dưới mọi trạng thái đời sống và hoàn cảnh trước đây, cũng như nó đang nằm ẩn dưới hiện tại của tôi, và cái gọi là sự sống, và cái gọi là cái chết.

Chỉ có sự sống mới có giá trị, chứ không phải việc đã từng sống. Sức mạnh vụt tắt ngay trong khoảnh khắc nghỉ ngơi; nó ngự trị trong khoảnh khắc chuyển giao từ trạng thái cũ sang trạng thái mới, trong cú băng qua vực thẳm, trong đà lao tới một mục tiêu. Chính sự thật duy nhất này là điều thế giới căm ghét, đó là tâm hồn không ngừng vận động và tiến hóa; bởi vì điều đó mãi mãi hạ bách quá khứ, biến mọi sự giàu có thành nghèo hèn, mọi danh tiếng thành tủi nhục, làm lẫn lộn kẻ thánh thiện với tên vô loại, đẩy cả Jesus và Judas[215] sang một bên như nhau. Thế tại sao chúng ta cứ mở miệng ra là bàn về tự lực? Chừng nào[100] tâm hồn còn hiện diện, ở đó sẽ có sức mạnh không mang tính tự phụ mà mang tính hành động.[216] Bàn về sự cậy dựa là một cách diễn đạt nghèo nàn mang tính bề ngoài. Hãy nói đúng hơn về thứ biết cậy dựa, bởi vì nó hành động và đang hiện hữu. Kẻ nào có sức vâng phục lớn hơn tôi sẽ chế ngự tôi, ngay cả khi hắn không thèm nhấc một ngón tay. Xoay quanh hắn, tôi buộc phải quay theo lực hấp dẫn của các linh hồn. Chúng ta cứ ngỡ đó chỉ là thứ hùng biện khoa trương khi nói về đức hạnh cao cả. Chúng ta vẫn chưa nhìn thấy rằng đức hạnh chính là Đỉnh cao, và một con người hay một tập thể con người, uyển chuyển và thấm đẫm các nguyên lý, theo quy luật tự nhiên sẽ phải lấn lướt và đè bẹp tất cả các thành phố, quốc gia, vị vua, kẻ giàu, nhà thơ nào không có được điều đó.

Đây chính là sự thật tối hậu mà chúng ta nhanh chóng chạm tới trong chủ đề này, cũng như trong mọi chủ đề khác, sự quy giản vạn vật về một Đấng Tối Cao hằng ban phúc. Sự tự tồn chính là thuộc tính của Nguyên nhân Tối cao, và nó cấu thành thước đo của điều thiện thông qua mức độ mà nó thâm nhập vào tất cả các hình thái thấp hơn. Mọi sự vật có thật đều trở nên như vậy nhờ vào lượng đức hạnh mà chúng chứa đựng. Thương mại, nông nghiệp, săn bắn, săn cá voi, chiến tranh, hùng biện, uy tín cá nhân, đều là những thứ có trọng lượng, và chiếm được sự tôn trọng của tôi như những minh chứng cho sự hiện diện và hoạt động chưa thuần khiết của nó. Tôi nhìn thấy cùng một quy luật đang vận hành trong tự nhiên nhằm bảo tồn và phát triển. Sức mạnh trong tự nhiên chính là thước đo thiết yếu của lẽ phải. Tự nhiên không dung thứ cho bất kỳ thứ gì tồn tại trong vương quốc của nó mà không thể tự lo liệu. Sự sinh thành và trưởng thành của một hành tinh, sự thăng bằng và quỹ đạo của nó, thân cây uốn cong tự đứng dậy sau cơn gió mạnh, nguồn năng lượng sống của mọi loài động thực vật, tất cả đều là những minh chứng cho tâm hồn tự túc, và do đó là tâm hồn tự lực.

[101]

Thế là vạn vật hội tụ: chúng ta đừng lang thang nữa; hãy ở nhà cùng cội nguồn. Hãy làm cho đám đông xâm nhập gồm con người, sách vở và các thể chế phải chết lặng và kinh ngạc, bằng một tuyên bố giản đơn về chân lý thiêng liêng. Hãy bảo những kẻ xâm lược cởi giày dép khỏi chân họ, bởi vì Thượng đế đang hiện diện ngay nơi này.[217] Hãy để sự giản dị của chúng ta phán xét họ, và sự vâng phục của chúng ta đối với luật lệ của chính mình chứng minh sự nghèo nàn của tạo hóa và vận mệnh bên cạnh sự giàu có nguyên thủy của chúng ta.

Nhưng giờ đây chúng ta chỉ là một đám đông hỗn tạp. Con người không còn biết kính sợ con người nữa, thiên hướng của anh ta cũng không được nhắc nhở phải ở nhà để kết nối với đại dương nội tâm, mà lại đi ra ngoài để xin một chén nước từ những chiếc vò của kẻ khác. Chúng ta buộc phải đơn độc. Tôi thích nhà thờ vắng lặng trước khi buổi lễ bắt đầu hơn bất kỳ bài thuyết giáo nào. Những con người ấy trông mới xa xăm làm sao, mới lạnh lùng làm sao, mới thanh tao làm sao, mỗi người đều được vây quanh bởi một vùng cấm địa hay chốn thánh điện riêng! Mong sao chúng ta luôn được ngồi như thế. Tại sao chúng ta phải gánh lấy những lỗi lầm của bạn bè, vợ con, cha mẹ, hay con cái, chỉ vì họ quây quần bên lò sưởi nhà chúng ta, hay bị đồn là có chung dòng máu? Tất cả mọi người đều mang dòng máu của tôi, và tôi mang dòng máu của tất cả mọi người.[218] Sẽ vì thế mà tôi dung túng cho sự hờn dỗi hay ngu ngốc của họ sao, thậm chí đến mức cảm thấy hổ thẹn vì điều đó ư? Nhưng sự cô độc của bạn không được mang tính cơ học, mà phải mang tính tinh thần, nghĩa là phải là sự vươn lên. Có những lúc toàn bộ thế giới dường như đang cấu kết để quấy rầy bạn bằng những chuyện vặt vãnh được nhấn mạnh nghiêm trọng. Bạn bè, khách hàng, con cái, bệnh tật, sợ hãi, thiếu thốn, từ thiện, tất cả đồng loạt gõ cửa phòng kín của bạn và nói: "Hãy bước ra đây với chúng tôi." Nhưng hãy giữ vững phong thái của mình; đừng bước vào chốn hỗn độn của họ. Sức mạnh mà người đời sở hữu để làm phiền chúng ta, chính tôi đã trao cho họ thông qua sự tò mò yếu ớt của mình. Không ai có thể đến gần tôi nếu không qua hành động của chính tôi. "Điều gì chúng ta yêu quý thì chúng ta có được, nhưng chính qua khát khao mà chúng ta tự tước đoạt tình yêu ấy."

Nếu chúng ta không thể ngay lập tức vươn lên những chốn tôn nghiêm của sự vâng phục và đức tin, ít ra chúng ta cũng phải chống lại những cám dỗ của mình; hãy bước vào trạng thái chiến tranh, và đánh thức Thor cùng Woden,[219] sự dũng cảm và kiên định, trong lồng ngực những người Saxon của chúng ta. Điều này phải được thực hiện trong những thời bình yên êm ả bằng cách nói lên sự thật. Hãy chặn đứng cái thói hiếu khách dối trá và tình cảm giả tạo này. Đừng tiếp tục sống theo sự kỳ vọng của những con người đang lừa dối và bị lừa dối mà chúng ta vẫn giao du hằng ngày nữa. Hãy nói với họ rằng: Hỡi cha, hỡi mẹ, hỡi vợ, hỡi anh em, hỡi bạn bè, bấy lâu nay tôi vẫn sống với các vị theo những bề ngoài phù phiếm. Từ nay về sau, tôi thuộc về chân lý. Xin thông báo để các vị rõ rằng từ nay trở đi tôi không tuân theo bất kỳ luật lệ nào kém cỏi hơn luật vĩnh cửu. Tôi sẽ không lập giao ước nào khác ngoài sự gần gũi chân thành.[220] Tôi sẽ nỗ lực phụng dưỡng cha mẹ, gánh vác gia đình, trở thành người chồng chung thủy của một người vợ — nhưng tôi phải chu tròn những mối quan hệ ấy theo một cách thức mới mẻ và chưa từng có. Tôi kháng cáo lại các lề thói của các vị. Tôi phải là chính mình. Tôi không thể tiếp tục bẻ gãy bản thân vì các vị, hay vì bất kỳ ai khác nữa.[221] Nếu các vị có thể yêu quý tôi vì con người thực của tôi, chúng ta sẽ càng hạnh phúc hơn. Nếu các vị không thể, tôi vẫn sẽ tiếp tục tìm cách để xứng đáng với tình cảm ấy. Tôi sẽ không che giấu sở thích hay sự ghét bỏ của mình. Tôi sẽ đặt trọn niềm tin rằng những gì sâu kín nhất chính là điều thiêng liêng, rằng tôi sẽ hiên ngang hành động dưới ánh mặt trời và ánh trăng bất cứ điều gì mang lại niềm vui sâu thẳm cho tâm hồn và được trái tim định đoạt. Nếu bạn là người cao thượng, tôi sẽ yêu quý bạn; nếu bạn không phải vậy, tôi sẽ không làm tổn thương bạn và cả chính mình[103] bằng những sự quan tâm giả tạo. Nếu bạn chân thành, nhưng không cùng chung một chân lý với tôi, hãy gắn bó với những người đồng hành của bạn; tôi sẽ tìm kiếm con đường của riêng mình. Tôi làm điều này không phải vì ích kỷ, mà một cách khiêm nhường và chân thật. Sống trong chân lý là lợi ích của chính bạn, của tôi, và của tất cả mọi người, dù chúng ta đã quen sống trong những lời dối trá bao lâu đi nữa. Điều này nghe có vẻ khắc nghiệt vào hôm nay ư? Chẳng mấy chốc bạn cũng sẽ yêu mến những gì do bản tính của bạn cũng như của tôi sai khiến, và nếu chúng ta tuân theo chân lý, rốt cuộc nó sẽ dẫn dắt chúng ta đến bến bờ bình an.[222] Nhưng làm thế có thể khiến những người bạn này tổn thương. Vâng, nhưng tôi không thể bán đi sự tự do và sức mạnh của mình chỉ để đổi lấy sự nhạy cảm của họ. Hơn nữa, ai rồi cũng có những khoảnh khắc lý trí, khi họ nhìn ra khoảng trời của chân lý tuyệt đối; khi ấy họ sẽ minh oan cho tôi, và cũng sẽ hành động y như vậy.

Đám đông nghĩ rằng việc bạn khước từ các chuẩn mực phổ biến đồng nghĩa với việc khước từ mọi chuẩn mực, và đó chỉ là thứ chủ nghĩa bài xích luật lệ thuần túy;[223] và kẻ ăn chơi táo tợn sẽ lợi dụng danh nghĩa triết học để tô vẽ cho tội ác của hắn ta. Thế nhưng luật của ý thức vẫn luôn trường tồn. Có hai tòa giải tội, và chúng ta buộc phải được xá tội ở một trong hai nơi đó. Bạn có thể hoàn thành trọn vẹn vòng tròn bổn phận của mình bằng cách thanh minh cho bản thân theo cách trực tiếp hoặc cách phản chiếu. Hãy tự hỏi xem mình đã làm tròn bổn phận với cha, mẹ, họ hàng, láng giềng, thị trấn, con mèo, con chó hay chưa; liệu có ai trong số đó có thể trách móc bạn hay không. Thế nhưng tôi cũng có thể phớt lờ chuẩn mực phản chiếu ấy và tự tha thứ cho chính mình. Tôi có những đòi hỏi ngặt nghèo và vòng tròn hoàn hảo của riêng mình. Nó từ chối gán danh nghĩa bổn phận cho rất nhiều công việc vẫn được gọi là bổn phận. Nhưng nếu tôi có thể trả hết những món nợ của nó, nó sẽ cho phép tôi gạt bỏ bộ luật thông dụng kia sang một bên. Nếu[104] có ai tưởng rằng bộ luật này lỏng lẻo, hãy thử tuân thủ những điều răn của nó dù chỉ trong một ngày.

Và quả thực nó đòi hỏi phẩm chất thần thánh ở kẻ đã vứt bỏ những động cơ thông thường của nhân loại, và dám tin tưởng vào chính mình như một vị giám sát độc nhất. Trái tim anh ta phải thật cao cả, ý chí phải thật kiên định, tầm nhìn phải thật sáng suốt, để anh ta có thể thực sự trở thành học thuyết, xã hội, luật lệ cho chính mình, để một mục đích giản đơn có thể mạnh mẽ đối với anh ta chẳng kém gì sự tất yếu cứng nhắc đối với những người khác!

Nếu ai đó quan sát bộ mặt hiện tại của cái gọi là xã hội theo đúng nghĩa phân biệt của nó, anh ta sẽ thấy được sự cấp thiết của nền đạo đức này. Gân cốt và trái tim con người dường như đã bị rút cạn, và chúng ta đã trở thành những kẻ rên rỉ đầy sợ hãi và nản chí. Chúng ta sợ chân lý, sợ vận mệnh, sợ cái chết, và sợ lẫn nhau. Thời đại của chúng ta không sản sinh ra những con người vĩ đại và toàn diện. Chúng ta khao khát những người đàn ông và phụ nữ có thể đổi mới cuộc sống và trạng thái xã hội của chúng ta, nhưng chúng ta thấy rằng hầu hết các bản tính đều khánh tận, không thể thỏa mãn các nhu cầu của chính họ, mang một tham vọng vượt xa mọi năng lực thực tế,[224] và chỉ biết cúi đầu ngửa tay xin ăn ngày đêm không dứt. Đời sống gia đình của chúng ta mang tính đi xin ăn, nghệ thuật, nghề nghiệp, hôn nhân, tôn giáo của chúng ta, đều không phải do chúng ta tự chọn, mà do xã hội chọn giùm. Chúng ta chỉ là những chiến binh phòng khách. Chúng ta né tránh cuộc chiến đấu khốc liệt của định mệnh, nơi sức mạnh thực sự được sinh ra.

Nếu những thanh niên của chúng ta vấp ngã trong những nỗ lực đầu đời, họ sẽ mất hết tinh thần. Nếu nhà buôn trẻ tuổi thất bại, người đời sẽ bảo anh ta đã khánh kiệt. Nếu một thiên tài kiệt xuất theo học tại một trong các trường đại học của chúng ta, và không được bổ nhiệm vào một chức vụ nào đó chỉ trong vòng một năm sau đó tại các thành phố hoặc vùng ngoại ô[105] của Boston hay New York, anh ta và cả bạn bè đều cho rằng việc anh ta chán nản và oán thán suốt phần đời còn lại là điều hoàn toàn hợp lý. Một chàng trai lực lưỡng đến từ New Hampshire hay Vermont, người lần lượt thử sức qua mọi ngành nghề, từ đánh xe chở hàng, làm nông, bán hàng rong, dạy học, thuyết giáo, biên tập báo chí, vào quốc hội, mua cả một thị trấn, cứ thế qua từng năm tháng, và lúc nào cũng như loài mèo, luôn đáp chân xuống đất, còn giá trị gấp trăm lần những con búp bê thành thị ấy. Anh ta bước đi song hành cùng thời gian, và chẳng cảm thấy chút hổ thẹn nào khi không "theo học một chuyên ngành nào đó", bởi vì anh ta không trì hoãn cuộc sống của mình mà đang sống ngay hiện tại. Anh ta không chỉ có một cơ hội, mà có hàng trăm cơ hội. Hãy để một nhà khắc kỷ[226] khơi mở nguồn năng lượng của con người, và nói với họ rằng họ không phải là những khóm liễu rũ có thể nghiêng ngả, mà có thể và buộc phải tự tách mình ra; rằng khi thực hành sự tự tin vào bản thân, những sức mạnh mới sẽ xuất hiện; rằng con người chính là lời hóa thành nhịp xác,[227] sinh ra để mang lại sự chữa lành cho muôn dân,[228] rằng anh ta nên cảm thấy hổ thẹn trước lòng thương hại của chúng ta, và rằng ngay khoảnh khắc anh ta hành động từ chính bản thân mình, ném luật lệ, sách vở, thói sùng bái và lề thói ra ngoài cửa sổ, chúng ta sẽ không còn thương hại anh ta nữa, mà sẽ cảm ơn và kính cẩn tôn vinh anh ta — và vị thầy ấy sẽ khôi phục lại sự rực rỡ cho cuộc đời con người, đồng thời khắc ghi tên tuổi mình vào trọn vẹn trang sử.

Dễ dàng nhận thấy rằng một sự tự lực lớn lao hơn chắc chắn sẽ tạo ra cuộc cách mạng trong mọi chức trách và mối quan hệ của con người; trong tôn giáo của họ; trong giáo dục của họ; trong theo đuổi của họ; trong lối sống của họ; trong các mối giao bang; trong tài sản của họ; trong quan điểm lý thuyết của họ.

1. Con người tự cho phép mình cầu nguyện những gì cơ chứ![229][106] Thứ mà họ gọi là thánh chức thậm chí còn chẳng ra dáng dũng cảm và nam tính. Cầu nguyện là hướng ra bên ngoài và cầu xin một sự bổ sung xa lạ nào đó đến thông qua một đức hạnh xa lạ nào đó, rồi tự lạc lối trong những mê cung tận cùng của tự nhiên và siêu nhiên, của trung gian và phép mầu. Lời cầu nguyện đòi hỏi một thứ hàng hóa cụ thể nào đó — bất cứ thứ gì kém hơn sự toàn thiện — đều là đê tiện. Cầu nguyện chính là sự chiêm nghiệm các sự kiện của cuộc đời từ điểm nhìn cao cả độc tôn. Đó là lời độc thoại của một tâm hồn đang quan sát và hân hoan.[230] Đó là tinh thần của Thượng đế tuyên bố các công trình của Ngài là tốt đẹp. Nhưng cầu nguyện như một phương tiện để đạt được mục đích ích kỷ lại là sự đê tiện và trộm cắp. Nó ngầm giả định tính nhị nguyên chứ không phải tính nhất nguyên trong tự nhiên và ý thức. Ngay khi con người hợp làm một với Thượng đế, anh ta sẽ không còn đi xin ăn nữa. Khi ấy anh ta sẽ nhìn thấy lời cầu nguyện trong mọi hành động. Lời cầu nguyện của người nông dân quỳ trên cánh đồng để làm cỏ, lời cầu nguyện của người chèo thuyền quỳ xuống theo nhịp dẩy mái chèo, đều là những lời cầu nguyện chân chính được lắng nghe khắp muôn nơi trong tự nhiên, dẫu chỉ vì những mục đích nhỏ nhoi. Caratach,[231] nhân vật trong vở Bonduca của Fletcher, khi được khuyên nên thỉnh cầu ý kiến của vị thần Audate, đã đáp lại —

"His hidden meaning lies in our endeavors;

Our valors are our best gods."

Một loại cầu nguyện sai lầm khác chính là sự hối tiếc của chúng ta. Sự bất mãn chính là sự thiếu hụt lòng tự lực; đó là sự suy nhược của ý chí. Hãy hối tiếc về những tai họa, nếu nhờ đó bạn có thể giúp đỡ nạn nhân; nếu không, hãy tập trung vào công việc của chính mình, và ngay lập tức tai họa sẽ bắt đầu được khắc phục. Sự đồng cảm của chúng ta cũng đê tiện y như vậy. Chúng ta đến bên những kẻ đang khóc lóc một cách dại dột,[107] rồi ngồi xuống khóc hùa theo, thay vì truyền cho họ chân lý và sự lành mạnh bằng những cú sốc điện mạnh mẽ, giúp họ một lần nữa kết nối lại với lý trí của chính mình. Bí quyết của vận mệnh nằm ở niềm vui trong đôi tay chúng ta. Kẻ biết tự giúp mình luôn là người được các vị thần và con người chào đón muôn đời. Đối với anh ta, mọi cánh cửa đều rộng mở: mọi lời ca tụng đều chào mừng anh ta, mọi danh dự đều tôn vinh anh ta, mọi ánh mắt đều dõi theo với niềm khát khao. Tình yêu của chúng ta hướng về anh ta và ôm lấy anh ta, bởi vì anh ta chẳng cần đến nó. Chúng ta ân cần và áy náy vuốt ve, ca tụng anh ta, bởi vì anh ta vẫn kiên định với con đường của mình và coi thường sự bất mãn của chúng ta. Các vị thần yêu quý anh ta vì con người đời đã căm ghét anh ta. Zoroaster từng nói:[232] "Đối với kẻ phàm trần kiên trì, các Bất Tử tối cao luôn vô cùng mau lẹ."

Cũng giống như những lời cầu nguyện của con người là căn bệnh của ý chí, tín điều của họ cũng là căn bệnh của trí tuệ. Họ nói giống như những kẻ Israel ngỗi ngợm kia rằng: "Xin chớ để Thượng đế phỏng vấn chúng tôi, kẻo chúng tôi chết. Xin Ngài hãy phỏng vấn, hoặc bất kỳ người nào phỏng vấn chúng tôi, chúng tôi cũng sẽ vâng theo."[233] Đi đến đâu tôi cũng bị cản trở việc gặp gỡ Thượng đế ở người anh em của mình, bởi vì anh ta đã tự đóng chặt cánh cửa đền thờ của chính mình, và chỉ đọc lại những câu chuyện thần thoại về vị Thượng đế của anh em mình, hoặc của anh em của anh em mình. Mỗi tâm hồn mới mẻ là một sự phân loại mới mẻ. Nếu đó là một tâm hồn sở hữu hoạt lực và sức mạnh phi thường, một Locke,[234] một Lavoisier,[235] một Hutton,[236] một Bentham,[237] một Fourier,[238] anh ta sẽ áp đặt hệ thống phân loại của mình lên những người khác, và kìa! một hệ thống mới ra đời. Tỷ lệ thuận với chiều sâu của tư tưởng, và do đó tỷ lệ thuận với số lượng đối tượng mà nó chạm tới và đưa vào tầm với của học trò, chính là sự tự mãn của hắn. Nhưng điều này thể hiện rõ nhất ở các tín điều và giáo hội,[108] vốn cũng là những hệ thống phân loại của một bộ óc đầy quyền năng nào đó tác động lên tư tưởng sơ khai về bổn phận, và mối quan hệ của con người với Đấng Tối Cao. Chẳng hạn như Chủ nghĩa Calvin,[239] Chủ nghĩa Quaker,[240] Chủ nghĩa Swedenborg.[241] Học trò tỏ ra vô cùng thích thú khi subordinate mọi thứ vào hệ thống thuật ngữ mới mẻ ấy, giống như một cô bé vừa học xong môn thực vật học cảm thấy phấn khích khi nhìn thấy một trái đất mới và những mùa màng mới thông qua lăng kính đó. Sẽ có lúc học trò nhận ra rằng năng lực trí tuệ của mình đã gia tăng nhờ vào việc nghiên cứu tâm trí của bậc thầy. Nhưng ở mọi tâm trí mất cân bằng, hệ thống phân loại ấy bị thần thánh hóa, được coi là mục đích chứ không phải là một phương tiện có thể cạn kiệt nhanh chóng, để rồi những bức tường của hệ thống ấy hòa làm một trong mắt họ ở đường chân trời xa thắp với những bức tường của vũ trụ; các thiên thể trên cao dường như được treo trên vòm trời do chính bậc thầy của họ xây dựng nên. Họ không thể tưởng tượng nổi làm sao những kẻ ngoại lai như các anh lại có quyền nhìn nhận — làm thế nào mà các anh có thể nhìn thấy; "Chắc chắn là các anh đã ăn trộm ánh sáng từ chúng tôi bằng cách nào đó." Họ vẫn chưa nhận ra rằng ánh sáng, vốn mang tính phi hệ thống và bất kham, sẽ đột nhập vào bất kỳ căn chòi nào, thậm chí vào cả chốn của họ. Cứ để chúng ríu rít một lát rồi tự nhận đó là của mình đi. Nếu chúng sống chân thật và làm ăn đàng hoàng, chẳng mấy chốc cái chuồng rào ngăn nắp mới tinh của chúng sẽ trở nên chật chội và thấp lè tè, sẽ nứt nẻ, sẽ nghiêng ngả, sẽ mục rữa và biến mất, rồi ánh sáng bất tử, trẻ trung và hân hoan, với hàng triệu tinh cầu, hàng triệu sắc màu, sẽ rọi chiếu khắp vũ trụ như trong buổi bình minh đầu tiên.

2. Ấy chính là vì thiếu sự tự tu dưỡng nên sự mê tín về Việc du lịch, thứ có các vị thần tượng là Ý, Anh, Ai Cập, vẫn tiếp tục giữ nguyên sức hút đối với mọi người Mỹ có học thức.[109] Những kẻ từng làm cho nước Anh, nước Ý hay Hy Lạp trở nên đáng kính trong trí tưởng tượng đã làm điều đó bằng cách bám trụ chặt chẽ nơi họ đứng, tựa như trục của trái đất. Trong những giờ phút hào hùng, chúng ta cảm thấy bổn phận chính là quê hương của mình. Tâm hồn không phải là kẻ lữ hành; người khôn ngoan ở yên một chỗ, và khi những nhu cầu, bổn phận trong bất kỳ dịp nào lôi kéo họ khỏi ngôi nhà của mình, hay đưa họ đến những vùng đất xa xôi, họ vẫn ở nhà; và họ sẽ khiến mọi người nhận thức được qua biểu cảm gương mặt rằng họ đi như một sứ giả của minh triết và đức hạnh, và ghé thăm các thành phố cùng con người như một vị quân vương chứ không phải như một kẻ ăn nhờ ở đậu hay tên hầu phòng.

Tôi không hề có sự phản đối hằn học nào đối với việc đi vòng quanh địa cầu, nhằm mục đích nghệ thuật, học tập và lòng bác ái, miễn là con người đó trước tiên đã được thuần hóa tại quê nhà, hoặc không ra đi với hy vọng tìm thấy thứ gì đó vĩ đại hơn những gì anh ta đã biết. Kẻ nào du lịch để tìm kiếm sự giải trí, hay để có được thứ gì đó mà bản thân không mang sẵn trong người,[242] chính là đang du lịch xa rời bản thân, và trở nên già cỗi ngay trong tuổi trẻ giữa những đồ vật cổ xưa. Tại Thebes,[243] tại Palmyra,[244] ý chí và tâm trí của anh ta đã trở nên già nua và đổ nát y như chúng. Anh ta đang mang những đống đổ nát đi đến những đống đổ nát.

Du lịch là thiên đường của kẻ ngốc. Những chuyến đi đầu tiên phơi bày cho chúng ta thấy sự tẻ nhạt của các vùng đất. Ở nhà, tôi mơ mộng rằng đến Naples, đến Rome, tôi có thể say sưa trong vẻ đẹp và rũ bỏ nỗi buồn. Tôi thu gom hành lý, ôm tạm biệt bạn bè, lên thuyền ra khơi, và cuối cùng tỉnh dậy ở Naples, để rồi bên cạnh tôi vẫn là sự thật phũ phàng, cái tôi buồn bã, không khoan nhượng, y hệt như cái tôi mà tôi đã trốn chạy.[245] Tôi tìm đến điện Vatican[246] và những cung điện. Tôi ra vẻ[110] say sưa trước những thắng cảnh và gợi ý, nhưng thực ra tôi chẳng hề say sưa. Con lợn khổng lồ của tôi luôn đi theo tôi đến bất cứ nơi nào tôi bước tới.

3. Thế nhưng cơn cuồng du lịch lại là triệu chứng của một căn bệnh sâu xa hơn đang tác động lên toàn bộ hoạt động trí tuệ. Trí tuệ vốn mang tính lang thang, và hệ thống giáo dục của chúng ta đang nuôi dưỡng sự bồn chồn ấy. Tâm trí chúng ta du lịch ngay cả khi thể xác bị buộc phải ở yên một chỗ. Chúng ta bắt chước; và sự bắt chước là gì nếu không phải là sự di cư của tâm trí? Những ngôi nhà của chúng ta được xây cất theo gu thẩm mỹ ngoại lai; các kệ sách của chúng ta được trang hoàng bằng những đồ trang trí ngoại lai; quan điểm, gu thẩm mỹ, năng lực của chúng ta đều nương náu và dõi theo Quá khứ cùng Phương xa. Tâm hồn đã sáng tạo ra nghệ thuật ở bất cứ nơi nào chúng hưng thịnh. Chính trong tâm trí của mình, người nghệ sĩ đã tìm kiếm hình mẫu. Đó là sự ứng dụng tư tưởng của chính anh ta vào công việc cần thực hiện và những điều kiện cần tuân thủ. Và cớ sao chúng ta phải sao chép mô hình Doric[247] hay Gothic?[248] Vẻ đẹp, sự tiện nghi, sự vĩ đại trong tư tưởng và cách diễn đạt độc đáo đều ở gần chúng ta cũng như bất kỳ ai khác, và nếu người nghệ sĩ Mỹ chịu nghiên cứu với niềm hy vọng và tình yêu chính xác công việc mà anh ta phải làm, có cân nhắc đến khí hậu, thổ nhưỡng, độ dài ban ngày, nhu cầu của người dân, thói quen và hình thức của chính phủ, anh ta sẽ kiến tạo nên một ngôi nhà mà trong đó tất cả những điều này đều tìm thấy sự vừa vặn, đồng thời gu thẩm mỹ và tình cảm cũng được thỏa mãn.

Hãy kiên quyết với chính mình; đừng bao giờ bắt chước.[249] Món quà của riêng bạn là thứ bạn có thể dâng hiến trong từng khoảnh khắc với sức mạnh tích lũy của cả một đời tu dưỡng; nhưng đối với tài năng vay mượn của kẻ khác, bạn chỉ sở hữu nó một cách ngẫu hứng và nửa vời. Điều mà mỗi người có thể làm tốt nhất, không ai có thể dạy anh ta ngoài Đấng Tạo Hóa. Cho đến nay vẫn chưa ai biết đó là gì, và cũng chẳng thể biết cho đến khi con người ấy thể hiện nó ra. Bậc thầy nào có thể dạy dỗ Shakespeare?[250] Bậc thầy nào có thể hướng dẫn Franklin,[251] hay Washington, hay Bacon,[252] hay Newton?[253] Mỗi vĩ nhân đều là một bản thể độc nhất vô nhị. Tính chất Scipio của Scipio[254] chính xác là phần mà ông không thể vay mượn. Shakespeare sẽ không bao giờ được tạo nên chỉ bằng việc nghiên cứu Shakespeare. Hãy làm những gì được giao phó cho bạn, và bạn sẽ không thể hy vọng quá nhiều hay liều lĩnh quá mức. Ngay tại khoảnh khắc này, đang có sẵn cho bạn một sự bộc bạch dũng cảm và vĩ đại chẳng kém gì chiếc đục khổng lồ của Phidias,[255] cái bay của người Ai Cập,[256] hay ngòi bút của Moses,[257] hay Dante,[258] nhưng khác biệt với tất cả những thứ đó. Tâm hồn giàu có, hùng biện, với chiếc lưỡi ngàn nhánh, đời nào lại thèm lặp lại chính mình; nhưng nếu bạn có thể lắng nghe những gì các bậc trưởng thượng ấy nói, chắc chắn bạn cũng có thể đáp lại họ cùng một cao độ giọng nói; bởi vì tai và lưỡi là hai cơ quan của cùng một bản tính. Hãy ở lại trong những vùng đất giản dị và cao quý của cuộc đời bạn, vâng theo trái tim mình, và bạn sẽ tái tạo lại Thế giới Cổ đại[259] một lần nữa.

4. Cũng như Tôn giáo, Giáo dục, Nghệ thuật của chúng ta đều hướng ra bên ngoài, tinh thần xã hội của chúng ta cũng vậy. Mọi người đều tự đắc về sự tiến bộ của xã hội, nhưng chẳng có ai tự cải thiện bản thân cả.

Xã hội không bao giờ tiến lên. Nó thụt lùi ở mặt này nhanh ngang mức nó tiến lên ở mặt khác. Nó trải qua những thay đổi[111] liên tục; nó mang tính dã man, nó văn minh, nó được Thiên Chúa hóa, nó giàu có, nó mang tính khoa học; nhưng sự thay đổi này không phải là sự cải thiện. Cứ đổi lại cái gì được ban cho, thì một thứ khác lại bị tước đoạt. Xã hội tiếp thu những kỹ nghệ mới và đánh mất những bản năng cũ. Thật là một sự tương phản giữa người Mỹ ăn mặc lịch sự, biết đọc, biết viết, biết tư duy, mang đồng hồ, bút chì và hối phiếu trong túi, với người thổ dân New Zealand[260] khỏa thân, kẻ mà tài sản chỉ gồm một cây gậy, một ngọn giáo, một chiếc chiếu, và một phần hai mươi chưa chia của một cái lán để ngủ qua đêm! Thế nhưng hãy so sánh sức khỏe của hai con người ấy, bạn sẽ thấy rằng người da trắng đã đánh mất sức mạnh nguyên thủy của mình. Nếu những nhà thám hiểm nói thật, hãy đánh vào người hoang dã bằng một chiếc rìu bản rộng, chỉ một hoặc hai ngày sau, phần thịt sẽ liền lại và chữa lành như thể bạn vừa vung búa bổ vào nhựa thông mềm, thế nhưng cú đánh y hệt ấy sẽ tiễn người da trắng xuống mồ.

Con người văn minh đã chế tạo ra cỗ xe ngựa, nhưng lại đánh mất khả năng tự đi trên đôi chân của mình. Anh ta phải chống nạng, nhưng lại thiếu đi sự hỗ trợ của cơ bắp. Anh ta có một chiếc đồng hồ Geneva[261] tinh xảo, nhưng lại bất tài trong việc nhìn mặt trời mà đoán giờ. Anh ta có cả một cuốn lịch hàng hải Greenwich,[262] và vì chắc chắn sẽ tra cứu được thông tin khi cần, con người ngoài phố kia chẳng còn nhận biết nổi một vì sao nào trên bầu trời. Điểm chí[263] anh ta không quan tâm; điểm phân anh ta cũng mù tịt chẳng kém; và toàn bộ cuốn lịch sáng rực của năm trời vắng bóng chiếc đồng hồ mặt trời trong tâm trí anh ta. Sổ tay làm suy giảm trí nhớ của anh ta; thư viện quá tải làm anh ta mệt mỏi; công ty bảo hiểm làm gia tăng số lượng tai nạn; và có lẽ vẫn là một câu hỏi đáng suy ngẫm rằng liệu máy móc có đang kìm hãm chúng ta; rằng liệu qua sự tinh tế, chúng ta có đánh mất đi một phần năng lượng nào đó, hay qua một nền Cơ Đốc giáo bám rễ sâu trong các thể chế và nghi thức hình thức, chúng ta có đánh mất đi phần nào sức sống của đức hạnh hoang dã. Bởi vì mọi nhà khắc kỷ đều là một nhà khắc kỷ thực thụ; nhưng trong thế giới Thiên Chúa giáo, đâu mới là tín đồ Thiên Chúa thực sự?

Không có sự sai lệch nào trong chuẩn mực đạo đức lớn hơn chuẩn mực về chiều cao hay thể trọng. Chẳng có vĩ nhân nào sống ở hiện tại vĩ đại hơn những người từng sống trong quá khứ. Một sự tương đương kỳ lạ có thể được quan sát thấy giữa các vĩ nhân của thời đại đầu và thời đại cuối; tất cả khoa học, nghệ thuật, tôn giáo và triết học của thế kỷ XIX cũng không tài nào giáo dục nên những con người vĩ đại hơn các anh hùng của Plutarch[264] từ hai mươi ba, hai mươi tư thế kỷ trước. Loài người không tiến bộ theo chiều thời gian. Phocion,[265] Socrates, Anaxagoras,[266] Diogenes[267] là những vĩ nhân, nhưng họ không để lại môn đồ nào thuộc đẳng cấp của họ. Kẻ thực sự thuộc về đẳng cấp của họ sẽ không mang tên của họ, mà sẽ làm chủ cuộc đời chính mình, và đến lượt mình, trở thành người sáng lập ra một trường phái. Nghệ thuật và phát minh của mỗi thời kỳ chỉ là lớp y phục khoác lên ngoài, chứ không hề làm con người trở nên cường tráng hơn. Tác hại của máy móc cải tiến có thể đánh đổi bằng lợi ích của nó. Hudson[268] và Bering[269] đã hoàn thành những kỳ tích lớn lao bằng những chiếc thuyền đánh cá của họ, đến mức khiến Parry[270] và Franklin[271] phải kinh ngạc, dù đoàn thám hiểm của hai ông đã vắt kiệt mọi nguồn lực của khoa học và nghệ thuật. Galileo, chỉ với một chiếc ống nhòm opera, đã khám phá ra một chuỗi các hiện tượng thiên hạ vĩ đại hơn bất kỳ ai kể từ đó đến nay. Columbus[272] tìm ra Tân Thế Giới trên một chiếc thuyền không có boong. Thật thú vị khi chứng kiến sự bỏ hoang và lụi tàn định kỳ của các phương tiện và máy móc từng được ca tụng vang trời vài năm hoặc vài thế kỷ trước đó. Thiên tài vĩ đại quay trở lại với con người bản chất. Chúng ta từng coi những cải tiến trong nghệ thuật chiến tranh là một trong những chiến thắng của khoa học, thế nhưng Napoleon[273] đã chinh phục châu Âu bằng những cuộc hành quân dã chiến, vốn chỉ dựa vào việc quay trở về với lòng dũng cảm trần trụi, gạt bỏ mọi sự trợ giúp cồng kềnh. Hoàng đế từng cho rằng thật bất khả thi để tạo ra một quân đội hoàn hảo, theo lời Las Casas,[274] "nếu không bãi bỏ vũ khí, kho tàng, bộ phận quân nhu và xe pháo của chúng ta, cho đến khi noi theo phong tục La Mã, người lính được nhận phần lúa mì của mình, tự tay nghiền bằng cối xay tay và tự nướng bánh mì."

Xã hội giống như một con sóng. Con sóng di chuyển về phía trước, nhưng làn nước cấu thành nên nó thì không. Cùng một hạt nước không hề dâng lên từ trũng sóng đến đỉnh sóng. Sự thống nhất của nó chỉ là hiện tượng bề ngoài. Những con người hợp thành một quốc gia ngày hôm nay, sang năm sau sẽ qua đời, và kinh nghiệm của họ cũng mất theo.

Và cứ thế, việc cậy dựa vào Của cải, bao gồm cả việc cậy dựa vào các chính phủ bảo vệ nó, chính là biểu hiện của sự thiếu tự lực. Con người đã quay mặt khỏi chính mình và mải mê ngắm nhìn sự vật lâu đến mức họ bắt đầu coi các thể chế tôn giáo, học thuật và dân sự là những chiếc lính canh bảo vệ tài sản, và họ phản đối những cuộc tấn công nhắm vào các thể chế này, bởi vì họ cảm thấy đó chính là những cuộc tấn công nhắm vào tài sản của chính họ. Họ đo lường mức độ tôn trọng lẫn nhau dựa trên những gì mỗi người đang có, chứ không phải dựa trên bản chất thực sự của họ. Nhưng một con người có văn hóa sẽ cảm thấy hổ thẹn với tài sản của mình, xuất phát từ lòng tôn trọng mới mẻ dành cho bản thân. Đặc biệt, anh ta căm ghét những gì mình đang sở hữu, nếu nhận ra rằng đó chỉ là ngẫu nhiên — đến từ thừa kế, quà tặng hoặc tội ác; khi ấy anh ta cảm thấy đó không phải là sự sở hữu thực sự; nó không thuộc về anh ta, không có rễ bén trong anh ta, và chỉ nằm ì ở đó đơn giản vì chưa có cuộc cách mạng hay tên cướp nào nẫng mất nó đi. Nhưng những gì một con người thực sự sở hữu về mặt bản chất sẽ luôn tự động thu hút, và những gì con người đó đạt được chính là tài sản sống động, thứ không chờ đợi cái gật đầu của kẻ cầm quyền, của đám đông, của các cuộc cách mạng, hỏa hoạn, giông bão hay phá sản, mà không ngừng tự tái tạo bất cứ nơi nào con người đó hít thở. Caliph Ali từng nói:[275] "Số phận hay phần đời của ngươi đang mải miết tìm kiếm ngươi; do đó hãy thôi đừng bận tâm tìm kiếm nó." Sự phụ thuộc của chúng ta vào những món hàng ngoại lai này dẫn đến thói nô lệ cúi đầu trước số đông. Các đảng phái chính trị tụ họp trong những đại hội đông đúc; cuộc tụ họp càng lớn, cùng mỗi tiếng hô vang bố cáo mới: Đoàn đại biểu bang Essex![276] Đảng Dân chủ bang New Hampshire! Đảng Whig bang Maine! — chàng trai trẻ yêu nước cảm thấy bản thân trở nên mạnh mẽ hơn trước nhờ vào một ngàn đôi mắt và cánh tay mới tiếp sức. Tương tự như vậy, các nhà cải thiện xã hội triệu tập đại hội, cùng nhau bỏ phiếu và thông qua nghị quyết giữa đám đông. Hỡi các bạn, vị thần sẽ không bao giờ ngự giá bước vào và cư ngụ trong các bạn bằng con đường đó đâu, mà chỉ qua một phương pháp hoàn toàn ngược lại. Chỉ khi nào một con người vứt bỏ mọi sự trợ giúp từ bên ngoài và đứng vững một mình, tôi mới nhìn thấy anh ta mạnh mẽ và chiến thắng. Anh ta sẽ trở nên yếu ớt hơn với mỗi một tân binh gia nhập lá cờ của mình. Một con người chẳng lẽ không đáng giá hơn một thị trấn sao? Đừng cầu xin gì từ con người, và giữa chốn biến động vô tận ấy, một mình bạn — cột trụ kiên vững duy nhất — sẽ sớm hiện hình là kẻ nâng đỡ toàn bộ vạn vật xung quanh. Kẻ nào thấu triệt rằng sức mạnh vốn sẵn có trong tâm hồn, rằng anh ta yếu đuối chẳng qua vì cứ mãi đi tìm điều tốt đẹp ở bên ngoài và nơi xứ người, để rồi nhận ra điều đó và không mảy may do dự phó thác bản thân vào tư tưởng của mình, kẻ ấy sẽ lập tức lấy lại quyền tự chủ, đứng thẳng người, điều khiển các chi, làm nên những phép mầu; y hệt như một người đứng vững trên đôi chân của mình thì chắc chắn mạnh mẽ hơn kẻ chúi đầu đứng bằng tay.

Hãy đối xử với thứ gọi là Vận Mệnh[277] theo cách đó. Hầu hết mọi người đều đánh bạc với số phận, rồi được tất cả, mất tất cả theo nhịp xoay của bánh xe luân hồi. Nhưng riêng bạn, hãy coi những chiến lợi phẩm ấy là phi pháp, và hãy giao dịch trực tiếp với Nguyên nhân và Kết quả, những vị đại pháp quan của Thượng đế. Hãy lao động và gặt hái trong vùng đất của Ý chí, khi ấy bạn đã xiềng xích được bánh xe của Vận Mủi, và từ nay về sau có thể ngồi thảnh thơi chẳng còn sợ hãi những vòng quay của nó. Một chiến thắng chính trị, sự gia tăng của tiền thuê nhà, sự bình phục của người thân ốm đau, sự trở về của người bạn vắng mặt, hay bất kỳ sự kiện thuận lợi nào khác, đều làm tâm trạng bạn phấn chấn, và bạn tưởng rằng những ngày tháng tốt đẹp đang chờ đón mình. Đừng tin điều đó. Chẳng có gì có thể mang lại bình yên cho bạn ngoài chính bản thân bạn. Chẳng có gì có thể mang lại bình yên cho bạn ngoài chiến thắng của các nguyên lý.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Ralph Waldo Emerson

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.