(Trích từ Marse Chan: Trong xứ Virginia.[46])
“Thế rồi, ngay lúc đó họ thổi còi lệnh xuất trận, và chúng tôi lên ngựa; lệnh truyền ra là phải vòng qua sườn dốc, đại đội của Marse Chan đứng thứ hai, và khi chúng tôi vòng đến nơi, chúng tôi đã lọt ngay vào giữa làn đạn. Đó là chỗ tệ hại nhất mà thằng da đen này từng bước chân vào. Rồi họ thét lên, ‘Xung phong!’, và chao ổi! nếu ngài từng thấy đạn bay, thì chúng bay như thế đấy ngày hôm ấy. Mưa đá rơi thế nào thì đạn bay thế ấy; và chúng tôi lao xuống sườn dốc (tôi đi cùng với những người khác) rồi tiến lên đồi thẳng hướng về phía đại bác, và hỏa lực ở đó dữ dội quá (họ có cả một trung đoàn bộ binh nằm rạp ở đó dưới chân đại bác) khiến hàng ngũ chúng tôi hơi lộn xộn rồi khựng lại; viên đại tá đã tử trận, và tôi tin là họ sắp sửa vỡ trận đến nơi rồi, thì Marse Chan phóng ngựa lên, chộp lấy lá cờ, và hét lớn, ‘Theo ta!’ rồi gồng mình phóng ngựa lên đồi giữa muôn vàn khẩu đại bác.
“Tôi thấy ngài lúc xuất phát, con ngựa tía vượt lên trước mọi con ngựa khác đến tận bốn thân ngựa, y hệt như những buổi đi săn cáo thuở nào, và cả trung đoàn lũ lượt bám theo sau. Ngài chưa từng nghe tiếng sấm nào như thế đâu! Thoắt cái, con ngựa ô lộn nhèo một vòng rồi hất tôi văng vào bờ đất, giống như ngài ném một bắp ngô lép vào chân đống ngô vậy. Và chắc là nhờ thế mà tôi thoát chết. Con Judy nhà tôi bảo nó nghĩ đó là ý Trời, nhưng tôi lại nghĩ là nhờ bờ đất. Dĩ nhiên, Trời đã đặt bờ đất ở đó, nhưng sao Trời lại không cứu Marse Chan?
“Khi tôi ngước nhìn quanh, con ngựa ô đang nằm ngay bên cạnh tôi, đã chết cứng, với một quả đại bác xuyên gần như thấu qua mình, và quân ta đã quét sạch bọn chúng sang bờ bên kia từ đỉnh đồi. Chẳng mấy chốc, con ngựa tía phi nước đại trở lại với bờm bay phấp phới, và dây cương buông thõng một bên tận đầu gối. ‘Kia rồi!’, tôi tự nhủ, ‘Có Chúa chứng giám! Chắc bọn chúng đã giết Marse Chan mất rồi, mà tôi lại hứa là sẽ chăm sóc cho cậu chủ cơ mà.’
“Tôi chồm dậy vượt qua bờ đất, và kìa, nằm giữa một đống người chết, và dăm kẻ hãy còn hấp hối, ngay dưới một khẩu pháo, tay vẫn nắm chặt lá cờ, với một viên đạn thủng qua ngực, chính là Marse Chan. Tôi lật người ngài lại và gọi, ‘Marse Chan!’, nhưng vô ích, ngài đã đi về cõi vĩnh hằng mất rồi, đi thật rồi. Tôi bồng ngài lên tay, lá cờ vẫn nằm trong tay ngài, và cõng ngài về y như cái ngày ngài hãy còn là một đứa trẻ, khi lão chủ trao ngài vào tay tôi, bảo rằng ông tin tưởng tôi, và dặn tôi phải chăm sóc ngài chừng nào tôi còn sống.
“Tôi đưa ngài rời khỏi chiến trường, tránh xa tầm đạn lạc, rồi đặt ngài nằm dưới một cội cây lớn để đi tìm người bắt lại con ngựa tía giùm. Chẳng lâu sau thì bắt được ngựa, mà tôi lại sẵn ít tiền, thế là chiều hôm đó tôi mua mấy tấm ván thông đóng một chiếc quan tài, lấy cờ quấn thân thể Marse Chan lại rồi đặt ngài vào trong; nhưng tôi không đóng đinh kín hẳn nắp, vì biết thể nào bà chủ cũng muốn nhìn mặt ngài; thế rồi tôi kiếm một chiếc xe cứu thương, lên đường về nhà ngay đêm ấy. Chúng tôi về đến nơi vào chiều hôm sau, sau suốt một đêm và một ngày dài đằng đẵng trên đường.”