Cờ Vua Trên Sao Hỏa

Lượt đọc: 77 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 12
Ghek Trò Đùa

❊ ❊ ❊

Trong lúc Tara xứ Helium được dẫn đến các Tháp Jetan, Ghek bị áp giải xuống những căn hầm bên dưới cung điện và bị giam trong một căn phòng mờ ảo ánh sáng. Ở đây, hắn thấy một chiếc ghế băng và một chiếc bàn đặt trên nền đất sát vách tường, cùng vài vòng sắt gắn vào tường có thả những đoạn xích ngắn. Dưới chân tường có mấy cái lỗ trên nền đất. Chỉ có những thứ này là thu hút sự chú ý của hắn trong số rất nhiều vật dụng ở đó. Ghek ngồi xuống ghế băng, lặng lẽ chờ đợi và lắng nghe. Chẳng mấy chốc, đèn vụt tắt. Nếu có thể mỉm cười, hẳn lúc đó Ghek đã cười, bởi vì Ghek nhìn trong bóng tối rõ ban ngày — thậm chí còn rõ hơn, có lẽ vậy. Hắn dõi theo những cái lỗ tối hoắm dưới sàn và chờ đợi. Chẳng bao lâu sau, hắn nhận thấy không khí xung quanh thay đổi — nó trở nên nặng nề bởi một mùi hương lạ, và một lần nữa Ghek có lẽ đã cười, nếu như hắn có thể cười.

Cứ để chúng thay toàn bộ không khí trong phòng bằng thứ hơi ngạt độc hại nhất; với Ghek, điều đó hoàn toàn chẳng hề hấn gì. Vốn là một loài kaldane không có phổi, hắn chẳng cần không khí. Nhưng với tên rykor thì có khác. Bị tước mất không khí, nó sẽ chết; thế nhưng, nếu lượng khí được đưa vào chỉ vừa đủ làm tê liệt một sinh vật bình thường thì sẽ chẳng ảnh hưởng gì đến rykor, bởi nó không có ý thức chủ quan để mà bị khuất phục. Chừng nào lượng carbon dioxide dư thừa trong máu chưa đủ để ngăn cản hoạt động của tim, rykor sẽ chỉ suy giảm sinh lực đôi chút; thế nhưng nó vẫn sẽ phản ứng trước sự kích thích từ bộ óc của con kaldane.

Ghek điều khiển rykor ngồi dựa lưng vào tường để nó có thể giữ nguyên tư thế mà không cần sự điều khiển từ bộ óc của hắn. Sau đó, hắn ngắt liên kết với tủy sống của nó; nhưng vẫn giữ nguyên vị trí trên đôi vai rykor, vừa chờ đợi vừa quan sát, bởi sự tò mò của con kaldane đã trỗi dậy. Hắn không phải chờ đợi lâu thì đèn bỗng bừng sáng và một trong những cánh cửa khóa bật mở, cho phép nửa tá chiến binh bước vào. Chúng tiến đến chỗ hắn rất nhanh và hành động khẩn trương. Đầu tiên, chúng tháo hết vũ khí của hắn, rồi bấm chiếc khóa cùm vào cổ chân rykor, trói chặt nó vào đầu một sợi xích buông thòng từ vách tường. Tiếp theo, chúng lôi chiếc bàn dài đến vị trí mới và bắt vít cố định xuống sàn sao cho một đầu bàn, thay vì ở giữa, nằm ngay sát trước mặt tù nhân. Trên chiếc bàn trước mặt hắn, chúng đặt đồ ăn thức uống, còn ở đầu bên kia bàn thì để chìa khóa mở cùm. Sau đó, chúng mở khóa tất cả các cánh cửa rồi bỏ đi.

Khi tên lính đánh thuê Turan tỉnh lại, đập vào giác quan của hắn là cơn đau nhói ở một bên cẳng tay. Tác dụng của thứ khí độc tan biến nhanh như lúc nó hạ gục hắn, khiến vừa mở mắt ra là hắn đã hoàn toàn làm chủ được các giác quan của mình. Đèn đã sáng trở lại, và trong ánh sáng ấy, người đàn ông nhìn thấy hình dáng một con chuột khổng lồ Sao Hỏa đang phủ phục trên bàn và gặm lấy cẳng tay hắn. Giật mạnh tay ra, hắn với lấy thanh đoản kiếm, trong khi con chuột vừa gầm gừ vừa chực chộp lấy tay hắn lần nữa. Chính lúc đó Turan mới phát hiện ra vũ khí của mình đã bị thu sạch — đoản kiếm, trường kiếm, dao găm và súng ngắn. Con chuột chồm tới tấn công hắn, và sau khi dùng tay hất văng sinh vật đó ra, Turan đứng dậy lùi lại, đảo mắt tìm thứ gì đó để có thể bồi thêm một đòn hiểm hơn. Con chuột lại chồm lên, và khi Turan nhanh chóng lùi bước để tránh cái hàm đáng sợ, thứ gì đó bất ngờ giật mạnh vào cổ chân phải của hắn; lúc hắn thu chân trái về để lấy lại thăng bằng, gót chân hắn vướng phải sợi xích căng cứng và hắn ngã ngửa vật xuống sàn, đúng lúc con chuột lao bổ lên ngực hắn và nhắm vào cổ họng.

Chuột Sao Hỏa là một sinh vật hung dữ và ghê tởm. Chúng lắm chân và không có lông, lớp da nhăn nheo gợi liên tưởng đến sự ghê tởm của một con chuột nhắt mới sinh. Về kích thước và trọng lượng, nó ngang ngửa một con chó sục Airedale lớn. Đôi mắt chúng nhỏ và sát nhau, hầu như bị che khuất trong những hốc thịt sâu thẳm. Thế nhưng, đặc điểm hung dữ và ghê tởm nhất của chúng chính là cái hàm; toàn bộ cấu trúc xương hàm nhô ra khỏi phần thịt đến vài inch, để lộ năm chiếc răng sắc nhọn hình chiếc xẻng ở hàm trên và số lượng răng tương tự ở hàm dưới, tổng thể gợi lên hình ảnh một khuôn mặt đang mục rữa mà phần lớn da thịt đã tróc sạch.

Chính một sinh vật như thế đã lao lên ngực tên lính đánh thuê để xé toạc cổ họng hắn. Hai lần Turan đánh văng nó ra trong lúc chật vật đứng dậy, nhưng cả hai lần nó đều quay lại với sự hung hãn tăng gấp bội để tiếp tục tấn công. Vũ khí duy nhất của nó là cái hàm, bởi những bàn chân rộng bè ra của nó chỉ có những chiếc móng tù. Dùng cái hàm nhô ra, nó đào những cái hang ngoằn ngoèo, và dùng đôi chân bè để đẩy đất ra sau. Việc ngăn không cho cái hàm ấy chạm vào da thịt do đó trở thành mối bận tâm duy nhất của Turan, và hắn đã xoay sở làm được điều đó cho đến khi sự tình cờ mang lại cho hắn một thế nắm vào cổ họng con vật. Sau đó, đoạn kết chỉ còn là chuyện tính bằng giây. Cuối cùng, hắn đứng dậy, hất văng cái xác không hồn ra xa với một cái rùng mình đầy kinh tởm.

Giờ đây, hắn chuyển sự chú ý sang việc nhanh chóng kiểm điểm lại hoàn cảnh mới bao quanh mình kể từ khoảnh khắc bị giam cầm. Hắn lờ mờ nhận ra chuyện gì đã xảy ra. Hắn đã bị chuốc thuốc mê và tước hết vũ khí, và khi đứng dậy, hắn thấy một bên cổ chân bị xích vào vách tường. Hắn nhìn quanh căn phòng. Tất cả các cánh cửa đều mở toang! Những kẻ bắt giữ muốn tăng thêm phần tàn nhẫn cho ngục tù của hắn bằng cách luôn bày ra trước mắt hắn những lối đi mời gọi dẫn đến tự do mà hắn chẳng thể nào với tới. Ngay đầu bàn và ở nơi với tới rất dễ dàng là thức ăn và đồ uống. Ít nhất thì thứ này có thể chạm tới, và vừa nhìn thấy nó, cái dạ dày đang đói ngấu của hắn dường như muốn réo lên đòi dinh dưỡng. Hắn phải rất khó khăn mới ăn uống điều độ được.

Trong lúc ngấu nghiến thức ăn, mắt hắn đảo quanh không gian giam cầm cho đến khi đột nhiên bắt gặp một thứ nằm trên bàn ở đầu xa nhất cách chỗ hắn. Đó là một chiếc chìa khóa. Hắn nhấc cổ chân bị xích lên và săm soi ổ khóa. Không thể nhầm được! Chiếc chìa khóa đang nằm trên bàn trước mặt hắn chính là chìa khóa của cái ổ khóa ấy. Một tên chiến binh bất cẩn đã để nó ở đó rồi bỏ đi mà quên mất.

Hy vọng trào dâng trong lồng ngực Gahan xứ Gathol, hay chính là Turan lính đánh thuê. Lén lút, mắt hắn hướng về những ô cửa mở toang. Không một bóng người. A, giá mà hắn có thể giành lại tự do! Hắn sẽ tìm cách thoát khỏi thành phố ghê tởm này để trở về bên nàng, và sẽ không bao giờ rời xa nàng nữa cho đến khi giành được sự an toàn cho nàng hoặc cái chết cho chính mình.

Hắn đứng dậy, thận trọng tiến về phía đầu bên kia chiếc chiếc bàn — nơi chiếc chìa khóa thèm muốn đang nằm. Cổ chân bị xích níu bước chân đầu tiên của hắn lại, nhưng hắn vươn người hết cỡ dọc theo chiếc bàn, chìa những ngón tay khao khát về phía phần thưởng. Chúng suýt chạm tới nơi — chỉ chút xíu nữa thôi là chạm vào rồi. Hắn gồng mình rướn người, thế nhưng vật đó vẫn nằm ngoài tầm với. Hắn lao người về phía trước đến mức chiếc cùm sắt cứa sâu vào da thịt, nhưng mọi nỗ lực đều vô ích. Hắn bèn ngồi phịch xuống ghế băng, trừng trừng nhìn những cánh cửa mở toang và chiếc chìa khóa, giờ đây mới nhận ra rằng chúng chỉ là một phần trong kế hoạch tra tấn tinh tế đã được trù tính kỹ lưỡng, chẳng kém phần suy sụp tinh thần dù không gây ra nỗi đau thể xác.

Chỉ trong giây lát, người đàn ông buông xuôi theo sự hối tiếc và điềm gở vô ích, rồi hắn xốc lại tinh thần, đôi mày giãn ra, và trở lại với bữa ăn còn dang dở. Ít nhất chúng cũng đừng hòng thỏa mãn khi biết rằng chúng đã đánh gục hắn đau đớn đến nhường nào. Trong lúc ăn, hắn chợt nghĩ rằng nếu kéo lê chiếc bàn trên sàn, hắn có thể đưa chiếc chìa khóa lại gần trong tầm với; thế nhưng khi thử làm vậy, hắn phát hiện ra chiếc bàn đã được bắt vít chặt xuống sàn trong khoảng thời gian hắn bất tỉnh. Một lần nữa, Gahan mỉm cười, nhún vai rồi lại tiếp tục ăn.

Khi các chiến binh đã rời khỏi căn phòng giam giữ Ghek, con kaldane bò từ đôi vai rykor lên mặt bàn. Tại đây, nó uống một ít nước rồi điều khiển đôi tay rykor cầm phần nước còn lại cùng thức ăn, và sinh vật vô tri ấy lao vào ngấu nghiến. Trong lúc nó đang bận rộn, Ghek di chuyển theo kiểu nhện bò dọc theo mặt bàn đến đầu bên kia — nơi đặt chiếc chìa khóa cùm. Ngoạm lấy nó bằng một chiếc càng chela, hắn nhảy xuống sàn và nhanh chóng thoăn thoắt bò về phía miệng một cái hang trên vách tường, rồi biến mất vào trong đó. Từ lâu, bộ óc ấy đã tăm tia những lối vào hang này. Chúng phù hợp với sở thích loài kaldane của hắn, hơn nữa, chúng còn là nơi ẩn giấu lý tưởng cho chiếc chìa khóa và là sào huyệt của loài thức ăn duy nhất mà loài kaldane ưa chuộng — da thịt và máu.

Ghek chưa từng thấy con ulsio nào, bởi những con chuột khổng lồ Sao Hỏa này đã biến mất khỏi Bantoom từ lâu lắm rồi, thịt và máu của chúng từng được loài kaldane vô cùng ưa thích; thế nhưng Ghek đã thừa hưởng gần như nguyên vẹn mọi ký ức của từng tổ tiên, thế nên hắn biết rằng ulsio trú ngụ trong những hang ổ này và ulsio rất ngon, hắn biết ulsio trông ra sao và thói quen của chúng thế nào, dù chưa từng tận mắt thấy nó hay bất kỳ bức tranh nào về nó. Giống như cách chúng ta lai tạo động vật để truyền lại các đặc điểm thể chất, loài Kaldane tự lai tạo giống nòi để truyền lại các đặc điểm của trí tuệ, bao gồm trí nhớ và khả năng hồi tưởng, và nhờ đó chúng đã nâng cái mà chúng ta gọi là bản năng vượt lên trên ngưỡng cửa của ý thức khách quan — nơi nó có thể được sai khiến và tận dụng bởi sự hồi tưởng. Chắc chắn trong cõi vô thức của chính chúng ta cũng ẩn chứa vô số ấn tượng và trải nghiệm từ các bậc tiền bối. Những điều này có thể chỉ tác động vào nhận thức của chúng ta trong những giấc mơ, hoặc qua những gợi ý mơ hồ, ám ảnh rằng ta đã từng trải qua một pha thoáng qua nào đó của hiện tại từ trước rồi. Ạh, giá mà chúng ta có quyền năng gợi lại chúng! Trước mắt chúng ta sẽ mở ra câu chuyện bị lãng quên về những kỷ nguyên đã mất đi trước chúng ta. Thậm chí ta có thể bước đi cùng Thượng Đế trong khu vườn các vì sao của Ngài khi con người vẫn chỉ là một ý tưởng chớm nở trong tâm trí Ngài.

Ghek trượt xuống hang theo một con dốc đứng chừng mười bộ, rồi bắt gặp một mạng lưới hang động tinh vi và đầy thú vị! Con kaldane vô cùng phấn khích. Quả đây mới là cuộc sống! Hắn di chuyển nhanh nhẹn và không chút sợ hãi, tiến thẳng tới mục tiêu chuẩn xác như cách bạn tìm đến căn bếp trong ngôi nhà của chính mình. Mục tiêu này nằm ở một cao độ thấp trong một hốc rỗng hình phỏng cầu to cỡ một chiếc thùng phuy lớn. Tại đây, nằm giữa một ổ chứa những mảnh lụa và lông thú rách nát là sáu con ulsio non.

Khi con ulsio mẹ quay về, chỉ còn lại năm con non và một sinh vật to lớn giống nhện. Nó lập tức chồm tới tấn công nhưng chỉ vấp phải cặp càng chela mạnh mẽ chộp lấy và giữ chặt khiến nó không thể nhúc nhích. Chậm rãi, chúng kéo cổ con vật về phía cái miệng gớm ghiếc, và chỉ một lát sau nó đã chết.

Ghek có lẽ đã ở lại cái ổ đó trong một thời gian dài, bởi ở đây có thừa thức ăn cho nhiều ngày; thế nhưng hắn không làm thế. Thay vào đó, hắn đi thám hiểm các ngóc ngách trong hang. Hắn theo chân chúng luồn lách qua nhiều căn phòng ngầm dưới lòng đất của thành phố Manator, rồi ngược lên qua các bức tường để đến những căn phòng trên mặt đất. Hắn tìm thấy rất nhiều chiếc bẫy được thiết kế vô cùng tinh vi, cùng thức ăn tẩm độc và những dấu hiệu khác cho thấy cuộc chiến dai dẳng mà cư dân Manator tiến hành chống lại những sinh vật ghê tởm sống bên dưới nhà cửa và các công trình công cộng của họ.

Cuộc thám hiểm không chỉ hé lộ quy mô khổng lồ của mạng lưới đường hầm dường như len lỏi qua mọi ngóc ngách trong thành phố, mà còn cho thấy niên đại cổ xưa của phần lớn chúng. Hàng tấn đất đá đã phải được đào xới, và trong một thời gian dài, hắn tự hỏi chúng đã được đem đổ đi đâu, cho đến khi lần theo một đường hầm có kích thước và chiều dài đáng kể, hắn cảm nhận thấy trước mặt tiếng gầm rú như sấm truyền của dòng nước ngầm, và chẳng mấy chốc đã đến bờ của một dòng sông ngầm vĩ đại, đang cuồn cuộn chảy đi, không nghi ngờ gì nữa, suốt chiều dài của cả một thế giới để đổ ra vùng biển chôn vùi Omean. Đổ vào dòng cống ngầm hung hãn này là vô số thế hệ ulsio qua không thể tưởng tượng nổi đã đùn những nhúm đất nhỏ của chúng trong quá trình đào bới hệ thống mê cung rộng lớn.

Ghek chỉ nán lại bên bờ sông trong chốc lát, bởi những bước chân tưởng chừng vẩn vơ ấy thực ra được thúc đẩy bởi một mục đích rõ ràng, và hắn theo đuổi mục tiêu ấy một cách đầy sung sức với một tâm thế nhất quán. Hắn đi theo những đường hầm có vẻ kết thúc ở các hầm giam hoặc các căn phòng khác của cư dân thành phố, và khám phá chúng — thường là từ sự an toàn ở cửa miệng hang — cho đến khi chắc chắn rằng thứ hắn tìm kiếm không có ở đó. Hắn di chuyển nhanh nhảu trên đôi chân nhện và vượt qua những khoảng cách đáng kinh ngạc trong những khoảng thời gian ngắn ngủi.

Vì cuộc tìm kiếm chưa mang lại thành công tức thì, hắn quyết định quay trở lại căn hầm nơi con rykor đang bị xiềng xích để chăm lo cho nó. Khi đến gần đầu hang thông ra hầm giam, hắn giảm tốc độ, dừng lại ngay sát lối vào để có thể quan sát bao quát bên trong căn phòng trước khi bước vào. Đúng lúc đó, hắn thấy bóng một chiến binh đột ngột xuất hiện ở cánh cửa đối diện. Con rykor nằm sóng xoài trên bàn, đôi tay quờ quạng một cách mù quáng tìm thêm thức ăn. Ghek thấy tên chiến binh khựng lại, trân trân nhìn con rykor với vẻ kinh ngạc tột độ; hắn thấy mắt tên kia trợn tròn và sắc xanh đồng thau trên má bị thay thế bởi một màu xám xịt như tro tàn. Hắn lùi lại cứ như thể vừa bị ai vả thẳng vào mặt. Hắn đứng sững như thế chỉ trong chốc lát trong trạng thái tê liệt vì sợ hãi, rồi bật ra một tiếng thét nghẹn ngào, quay đầu bỏ chạy. Lại thêm một bi kịch nữa khi Ghek, loài kaldane, không biết cười.

Nhanh chóng tiến vào phòng, hắn bò lên mặt bàn, bám vào đôi vai rykor rồi chờ đợi ở đó; và ai dám bảo rằng Ghek, dẫu không biết cười, lại thiếu đi khiếu hài hước cơ bản? Hắn ngồi đó suốt nửa giờ đồng hồ, rồi âm thanh của những bước chân người tiến lại dọc theo hành lang đá vọng đến tai hắn. Hắn nghe thấy vũ khí của chúng va vào vách đá lanh lảnh và biết rằng chúng đang tiến đến với tốc độ khẩn trương; thế nhưng ngay trước khi đến lối vào phòng giam, chúng chùng chân lại và bước đi chậm hơn. Dẫn đầu là một sĩ quan, và ngay phía sau hắn, với đôi mắt trợn tráo và có lẽ vẫn còn hơi tái mét, chính là tên chiến binh vừa bỏ chạy vội vã lúc nãy. Đến cửa phòng, chúng dừng lại và tên sĩ quan nghiêm nghị quay sang nhìn tên chiến binh. Hắn giơ ngón tay trỏ thẳng vào Ghek.

— Kìa, sinh vật đó đang ngồi ở đó! Thế mà ngươi dám cả gan nói dối trước dwar của ngươi sao?

— Tôi thề rằng tôi đã nói sự thật! — tên chiến binh kêu lên. — Chỉ cách đây một lát, thứ đó còn quỳ mọp, không đầu, ngay trên chiếc bàn này! Và xin vị tổ tiên đầu tiên của tôi đánh gục tôi chết tươi tại chỗ nếu tôi nói sai một lời!

Tên sĩ quan lộ vẻ khó hiểu. Người Sao Hỏa hiếm khi, hoặc hầu như chưa bao giờ nói dối. Hắn gãi đầu. Rồi hắn cất tiếng hỏi Ghek: — Ngươi đã ở đây bao lâu rồi?

— Ai có thể rõ hơn những kẻ đã đưa ta đến đây và xích ta vào tường chứ? — hắn đáp lời.

— Ngươi có thấy tên chiến binh này bước vào đây cách đây vài phút không?

— Ta có thấy, — Ghek đáp.

— Và ngươi đã ngồi ở chỗ ngươi đang ngồi lúc này chứ? — tên sĩ quan tiếp tục hỏi.

— Hãy nhìn vào sợi xích của ta rồi nói xem ta còn có thể ngồi ở đâu được nữa! — Ghek quát lên. — Người trong thành phố của ngươi toàn là lũ ngốc cả sao?

Ba tên chiến binh khác chen chúc phía sau hai kẻ đứng đầu, rướn cổ nhìn tên tù nhân trong khi cười cợt trước vẻ bẽ mặt của đồng đội. Tên sĩ quan lườm Ghek.

— Cái lưỡi của ngươi độc ác chẳng kém gì mụ nữ banth mà O-Tar đã gửi đến các Tháp Jetan, — hắn nói.

— Ngươi đang nhắc đến người phụ nữ trẻ bị bắt cùng ta phải không? — Ghek hỏi, với giọng đều đều vô cảm và gương mặt không mảy may lộ ra chút hứng thú nào.

— Ta đang nhắc đến ả, — vị dwar đáp, rồi quay sang tên chiến binh vừa gọi hắn: — ngươi hãy quay về khu nhà của mình và ở yên đó cho đến những trận đấu tiếp theo. Có lẽ đến lúc đó mắt ngươi đã học được cách không đánh lừa chủ nhân nữa.

Gã kia ném cho Ghek một cái nhìn đầy căm hận rồi quay lưng bỏ đi. Tên sĩ quan lắc đầu. — Ta không hiểu nổi, — hắn lầm bầm. — U-Van vốn luôn là một chiến binh trung thành và đáng tin cậy. Lẽ nào... — hắn liếc nhìn Ghek sắc bén. — Ngươi có một chiếc đầu kỳ quặc chẳng ăn nhập gì với cơ thể, đồ khốn kiếp, — hắn thét lên. — Truyền thuyết của chúng tôi kể về những sinh vật cổ đại từng gieo rắc ảo giác vào tâm trí người khác. Nếu ngươi là loại đó thì có lẽ U-Van đã chịu đựng những uy lực cấm kỵ của ngươi rồi. Nếu ngươi là loại đó, O-Tar sẽ biết cách xử lý ngươi ra sao. — Hắn quay ngoắt người lại và ra hiệu cho đám chiến binh đi theo mình.

— Đã bảo chờ chút! — Ghek hét lên. — Trừ khi muốn để ta chết đói, hãy mang thức ăn đến đây.

— Ngươi đã được cho ăn rồi, — tên chiến binh đáp.

— Ta chỉ được ăn mỗi ngày một lần thôi sao? — Ghek hỏi. — Ta cần ăn thường xuyên hơn thế. Mang thức ăn tới đây.

— Ngươi sẽ có thức ăn, — tên sĩ quan đáp. — Không ai có thể nói rằng các tù nhân ở Manator bị bỏ đói cả. Luật pháp Manator vô cùng công minh, — và hắn bước đi.

Ngay khi tiếng bước chân của chúng vừa lịm đi ở phía xa, Ghek liền trèo khỏi đôi vai rykor và thoăn thoắt bò tới cái hang nơi hắn cất giấu chiếc chìa khóa. Lấy nó ra, hắn mở cùm khỏi cổ chân con sinh vật, khóa chiếc cùm trống không lại rồi đem chiếc chìa khóa giấu sâu hơn vào trong ngách hang. Sau đó, hắn trở lại vị trí trên người kẻ hầu hạ vô tri của mình. Một lúc sau, hắn nghe thấy tiếng bước chân đang đến gần, bèn đứng dậy và lẩn vào một hành lang khác với hướng mà hắn biết tên chiến binh đang đi tới. Tại đây, hắn nấp vào khuất tầm mắt và lắng nghe. Hắn nghe tiếng gã đó bước vào phòng và khựng lại. Hắn nghe thấy một tiếng lầm bầm, theo sau là tiếng va chạm lanh lảnh của đĩa kim loại khi một chiếc khay được ném mạnh lên bàn; rồi tiếng bước chân vội vã rút lui, nhanh chóng chìm dần vào khoảng không gian xa xăm.

Ghek không chần chừ quay trở lại căn phòng, lấy lại chiếc chìa khóa, khóa rykor vào xích trở lại. Sau đó, hắn cất chiếc chìa khóa vào hang và ngồi xổm trên mặt bàn bên cạnh cái thân không đầu, điều khiển đôi tay nó hướng về phía thức ăn. Trong lúc rykor ăn, Ghek ngồi lắng nghe tiếng dép lê cọ sát và tiếng vũ khí khua lanh lảnh mà hắn biết chẳng mấy chốc sẽ lại vang lên. Và hắn không phải chờ đợi lâu. Ghek nhanh nhẹn trèo lên vai rykor khi nghe tiếng chúng đang tới. Lại là tên sĩ quan đã được U-Van gọi đến hồi nãy, đi cùng hắn là ba tên chiến binh. Kẻ đi ngay sau hắn rõ ràng chính là tên đã mang thức ăn tới, bởi vì mắt hắn trợn trừng khi nhìn thấy Ghek đang ngồi trên bàn và trông vô cùng ngớ ngẩn khi vị dwar quay ánh mắt nghiêm khắc về phía hắn.

— Đúng y như tôi đã nói! — hắn kêu lên. — Hắn không hề có ở đây lúc tôi đem thức ăn tới.

— Nhưng giờ hắn đang ở đây đấy thôi, — tên sĩ quan lạnh lùng nói, — và chiếc cùm của hắn đã được khóa chặt vào cổ chân. Nhìn xem! Nó có được mở ra đâu — thế nhưng chiếc chìa khóa đâu rồi? Lẽ ra nó phải nằm ở chiếc bàn ở đầu đối diện với hắn chứ. Chiếc chìa khóa đâu, hả sinh vật kia? — hắn quát vào mặt Ghek.

— Làm sao một kẻ tù nhân như ta lại có thể rành rẽ vị trí chìa khóa cùm hơn cả cai ngục của mình được chứ? — hắn đáp trả.

— Nhưng nó nằm ở đây cơ mà, — tên sĩ quan kêu lên, chỉ tay về phía đầu bên kia chiếc bàn.

— Ngươi có thấy nó không? — Ghek hỏi.

Tên sĩ quan chần chừ. — Không... nhưng nhẽ ra nó phải ở đó chứ, — hắn lấp lửng.

— Ngươi có thấy chiếc chìa khóa nằm ở đó không? — Ghek hỏi, chỉ tay sang một tên chiến binh khác.

Gã kia lắc đầu nguầy nguậy. — Còn ngươi? Còn ngươi nữa? — con kaldane tiếp tục chất vấn những kẻ còn lại.

Cả hai đều thừa nhận chưa từng nhìn thấy chiếc chìa khóa nào cả. — Và nếu nó có ở đó thật thì làm sao ta với tới được? — hắn tiếp tục lý luận.

— Không, hắn không thể với tới được đâu, — tên sĩ quan thừa nhận; — thế nhưng sẽ không có chuyện này tái diễn nữa! I-Zav, ngươi sẽ ở lại đây canh gác tên tù nhân này cho đến khi có người đến thay ca.

I-Zav trông chẳng có vẻ gì là vui sướng khi nhận được thông tin này, và hắn liếc nhìn Ghek đầy nghi ngờ khi vị dwar cùng những chiến binh khác quay lưng bỏ mặc hắn với số phận cay đắng của mình.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.