Sự tĩnh mịch của cõi chết bao trùm nặng nề xung quanh khi O-Tar, Jeddak xứ Manator, mở mắt trong căn phòng của O-Mai. Ký ức về hiện thân kinh hoàng vừa đối đầu với hắn ùa về trong tâm trí. Hắn lắng tai nghe, nhưng chẳng thấy tiếng động nào. Trong tầm mắt hắn, không có vật gì khả nghi hay có thể gây hoang mang. Chậm rãi, hắn ngẩng đầu lên và nhìn xung quanh. Trên sàn nhà cạnh chiếc ghế dài nằm thứ vừa thu hút sự chú ý của hắn lúc đầu, và đôi mắt hắn khép lại trong nỗi khiếp sợ khi nhận ra đó là cái gì; nhưng nó không nhúc nhích, cũng chẳng lên tiếng. O-Tar mở mắt ra lần nữa và đứng dậy. Mọi The chân tay hắn đều run rẩy. Chẳng có gì trên bục cao nơi hắn từng thấy vật đó trỗi dậy.
O-Tar lùi dần khỏi căn phòng. Cuối cùng hắn cũng ra được hành lang bên ngoài. Nó trống không. Hắn không hề hay biết rằng hành lang đã vắng tanh đi rất nhanh khi tiếng thét thất thanh hòa lẫn với tiếng thét của chính hắn vang lên, đập vào đôi tai đầy kinh ngạc của những tên chiến binh được phái đến để theo dõi hắn. Hắn nhìn chiếc đồng hồ được gắn trên chiếc vòng tay lớn ở cẳng tay trái. Zode thứ chín đã gần trôi qua một nửa. O-Tar đã bất tỉnh suốt một tiếng đồng hồ. Hắn đã ở trong phòng của O-Mai một tiếng đồng hồ mà vẫn chưa chết! Hắn đã nhìn vào mặt vị tiên vương của mình mà vẫn còn tỉnh táo! Hắn tự trấn tĩnh và mỉm cười. Nhanh chóng, hắn kìm nén đôi tay đang run lẩy bẩy vì sợ hãi, để rồi khi đến khu vực có người ở trong cung điện, hắn đã hoàn toàn làm chủ được bản thân. Hắn bước đi với chiếc cằm ngẩng cao cùng vẻ hiên ngang đôi chút. Hắn tiến vào phòng yến tiệc, biết rằng các vị thủ lĩnh đang chờ mình ở đó, và khi hắn bước vào, họ đứng dậy với vẻ mặt đầy hoài nghi và kinh ngạc, bởi họ không ngờ lại được thấy O-Tar vị jeddak sống sót trở lại sau những âm thanh khủng phát ra từ căn phòng của O-Mai mà đám thám báo đã kể cho họ nghe. O-Tar thầm cảm thấy may mắn vì hắn đã một mình bước vào căn phòng đáng sợ ấy, bởi giờ đây chẳng ai có thể phủ nhận câu chuyện mà hắn sắp kể.
E-Thas lao tới chào đón hắn, bởi E-Thas đã nhìn thấy những ánh nhìn đen tối chĩa vào mình khi thời gian cứ trôi đi mà vị ân nhân của lão vẫn không quay lại.
“Ôi vị jeddak dũng cảm và vinh quang!” viên quản gia kêu lên. “Chúng tôi vô cùng vui mừng trước sự trở lại bình an của ngài và xin ngài hãy kể lại câu chuyện về cuộc phiêu lưu vừa rồi.”
“Chẳng có gì đáng kể cả,” O-Tar phẩy tay đáp. “Ta đã lục soát kỹ lưỡng các căn phòng và nấp đợi sự trở lại của tên nô lệ Turan, nếu hắn tạm thời rời đi; nhưng hắn đã không đến. Hắn không có ở đó và ta nghi ngờ liệu hắn có bao giờ bén mảng đến đó không. Chẳng mấy ai lại muốn ở lại lâu trong một nơi ảm đạm như vậy.”
“Ngài không bị tấn công sao?” E-Thas hỏi. “Ngài không nghe thấy tiếng thét hay tiếng rên rỉ nào ư?”
“Ta nghe thấy những âm thanh kỳ quái và nhìn thấy những bóng ma; nhưng chúng đã bỏ chạy trước mặt ta nên ta chẳng thể tóm được tên nào, và ta đã nhìn vào gương mặt của O-Mai mà không hề phát điên. Ta thậm chí còn nghỉ ngơi trong căn phòng ngay bên cạnh thi hài của hắn.”
Ở một góc khuất trong phòng, một lão già lưng còng và da nhăn nheo giấu nụ cười sau chiếc cốc vàng đựng loại rượu mạnh.
“Nào! Chúng ta hãy cùng nâng ly!” O-Tar hô lên và với tay tìm con dao găm — thứ vũ khí có phần chuôi thường được hắn dùng để gõ vào chiếc cồng nhằm triệu tập nô lệ, nhưng con dao găm lại không nằm trong bao của nó. O-Tar lấy làm bối rối. Hắn biết nó vẫn ở đó ngay trước khi hắn bước vào phòng O-Mai, bởi hắn đã cẩn thận sờ qua tất cả vũ khí của mình để đảm bảo không thiếu thứ gì. Thay vào đó, hắn vớ lấy một dụng cụ trên bàn và đánh vào chiếc cồng, rồi khi lũ nô lệ bước tới, hắn ra lệnh mang loại rượu mạnh nhất cho O-Tar và các thủ lĩnh của hắn. Trước khi ánh bình minh ló dạng, đã có rất nhiều lời ca ngợi được thốt lên từ những đôi môi say xỉn — ca ngợi lòng dũng cảm của vị jeddak; thế nhưng vẫn có một vài kẻ đứng đó với vẻ mặt ủ dột.
Cuối cùng ngày mà O-Tar sẽ rước Công chúa Tara xứ Helium về làm vợ cũng đã đến. Suốt nhiều giờ liền, đám nô lệ chuẩn bị cho cô dâu không mấy tự nguyện này. Bảy lần tắm bằng nước thơm ngốn hết ba tiếng đồng hồ dài đằng đẵng và mệt mỏi, sau đó toàn thân cô được xức bằng tinh dầu hoa pimalia và được xoa bóp bởi đôi bàn tay khéo léo của một nữ nô đến từ xứ Dusar xa xôi. Bộ trang phục của cô, hoàn toàn mới và được chế tác riêng cho dịp này, làm bằng lớp da trắng của loài vượn bạch tạng khổng lồ ở Barsoom, được đính nặng trĩu bạch kim và kim cương — gần như phủ kín bởi thứ đá quý ấy. Mái tóc đen tuyền bóng mượt của cô được chải bới thành một kiểu đầu uy nghi và lộng lẫy, trên đó gài những chiếc trâm đầu kim cương cho đến khi toàn bộ mái tóc lấp lánh như những vì sao trên bầu trời đêm không trăng.
Thế nhưng, thứ mà họ dẫn đi từ ngọn tháp cao hướng về phòng ngự triều của O-Tar lại là một cô dâu với vẻ mặt u sầu và đầy vẻ bất tuận. Các hành lang chật ních nô lệ, chiến binh, cùng những người phụ nữ trong cung điện và trong thành phố đã được lệnh tới tham dự buổi lễ. Toàn bộ quyền lực và sự kiêu hãnh, sự giàu sang và vẻ đẹp của Manator đều tề tựu ở đó.
Chậm rãi, Tara, được bao quanh bởi một đội danh dự hùng hậu, bước đi dọc theo những hành lang lát cẩm thạch đông nghịt người. Tại lối vào Đại s Thủ lĩnh (The Hall of Chiefs), E-Thas, viên quản gia, đã tiếp đón cô. Cỗ đại sảnh trống hoác ngoại trừ những hàng thủ lĩnh đã khuất trên những con thú cưỡi cũng đã chết của họ. Qua căn phòng dài này, E-Thas tháp tùng cô đến phòng ngự triều — nơi cũng vắng ngắt, bởi nghi thức kết hôn ở Manator khác với các quốc gia khác ở Barsoom. Tại đây, cô dâu sẽ đợi chú rể ở chân những bậc thềm dẫn lên ngai vàng. Các vị khách nối đuôi nhau bước vào và đứng vào vị trí của mình, để trống lối đi chính từ Đại sảnh Thủ lĩnh đến ngai vàng, bởi O-Tar sẽ một mình bước dọc theo lối này để đến bên cô dâu sau một khoảng thời gian ngắn tĩnh tâm một mình với những người đã khuất sau những cánh cửa đóng kín trong Đại sảnh Thủ lĩnh. Đó là phong tục.
Các vị khách đều đã lần lượt đi qua Đại sảnh Thủ lĩnh; những cánh cửa ở cả hai đầu đều đã được đóng lại. Chẳng mấy chốc, những cánh cửa ở đầu phía dưới của đại sảnh mở ra và O-Tar bước vào. Bộ trang phục màu đen của hắn được trang trí bằng hồng ngọc và vàng; khuôn mặt hắn bị che khuất bởi chiếc mặt nạ kỳ quái làm bằng kim loại quý, trên đó gắn hai viên hồng ngọc khổng lồ làm mắt, dẫu phía dưới chúng là những khe hở hẹp để người đeo có thể nhìn xuyên qua. Vương miện của hắn là một chiếc vòng đầu nâng đỡ những chiếc lông vũ được chạm trổ bằng chính thứ kim loại làm mặt nạ ấy. Từng chi tiết nhỏ nhất trên trang phục của hắn đều đúng như những gì mà phong tục Manator đòi hỏi đối với một chú rể hoàng gia, và giờ đây, tuân theo chính phong tục ấy, hắn đến Đại sảnh Thủ lĩnh một mình để nhận lời chúc phúc cùng những lời khuyên nhủ từ các bậc cao niên xứ Manator đã khuất trước hắn.
Khi những cánh cửa ở đầu phía dưới của Đại sảnh khép lại sau lưng, O-Tar vị Jeddak đứng một mình bên cạnh những bậc vĩ nhân đã khuất. Theo quy định từ ngàn đời nay, không một đôi mắt phàm trần nào được phép chứng kiến cảnh tượng diễn ra bên trong căn phòng linh thiêng ấy. Khi những bậc quyền uy của Manator tôn trọng truyền thống của họ, chúng ta cũng hãy tôn trọng những truyền thống ấy của một dân tộc kiêu hãnh và nhạy cảm. Những gì xảy ra trong căn phòng trang nghiêm của người chết thì có can hệ gì đến chúng ta?
Năm phút trôi qua. Cô dâu lặng lẽ đứng dưới chân ngai vàng. Các vị khách thì thầm to nhỏ với nhau cho đến khi căn phòng tràn ngập tiếng vo ve của vô số giọng nói. Cuối cùng, những cánh cửa dẫn vào Đại sảnh Thủ lĩnh bật mở, và chú rể lộng lẫy xuất hiện, đứng sừng sững như được đóng khung trong khung cửa rộng lớn trong khoảnh khắc. Một sự tĩnh lặng bao trùm lấy những vị khách dự tiệc cưới. Với những bước chân khoan thai và đầy uy nghiêm, chú rể tiến về phía cô dâu. Tara cảm thấy cơ tim mình thắt lại bởi sự lo âu đang ngày một lớn dần lên khi những vòng vây của Định Mệnh siết chặt hơn mà không hề có bất kỳ tín hiệu nào từ Turan. Anh đang ở đâu chứ? Thật ra, anh có thể làm được gì lúc này để cứu cô đây? Bị bao vây bởi quyền lực của O-Tar mà không có lấy một người bạn nào bên cạnh, hoàn cảnh của cô thoạt nhìn dường như chẳng còn lấy một tia hy vọng.
“Ta vẫn còn sống!” cô thầm nhủ trong nỗ lực dũng cảm cuối cùng để chống lại sự tuyệt vọng khủng khiếp đang muốn nhấn chìm mình, nhưng những ngón tay cô vẫn vô thức lần tìm lưỡi dao mỏng mà cô đã xoay sở giấu đi, trót lọt chuyển từ bộ trang phục cũ sang bộ đồ mới để tìm kiếm sự an tâm. Và giờ đây chú rể đã đứng bên cạnh, nắm lấy tay cô và dẫn cô bước lên các bậc thềm tiến đến ngai vàng; trước ngai vàng, họ dừng lại và quay mặt xuống đám đông phía dưới. Ngay sau đó, từ phía cuối phòng xuất hiện một đoàn rước dẫn đầu bởi vị quan chức cao cấp có nhiệm vụ kết đôi cho hai người, và ngay phía sau ông ta là một thiếu niên ăn mặc sang trọng đang bệ chiếc gối lụa — nơi đặt chiếc còng tay bằng vàng được nối bằng một đoạn ngắn dây xích vàng, thứ sẽ dùng để kết thúc nghi lễ khi vị quan chức bấm chiếc còng vào cổ tay của mỗi người, tượng trưng cho sự gắn kết không thể tách rời của họ trong mối lương duyên thánh thiện.
Liệu sự trợ giúp mà Turan đã hứa có đến quá muộn không? Tara lắng nghe những lời tụng niệm dài dòng và đều đều của nghi thức cưới xin. Cô nghe người ta ca ngợi những phẩm hạnh của O-Tar và dung nhan của cô dâu. Khoảnh khắc ấy đang đến gần mà vẫn chẳng có dấu hiệu gì của Turan. Nhưng ngay cả khi thành công bước được vào phòng ngự triều, anh có thể làm được gì ngoài việc chết cùng cô cơ chứ? Sẽ chẳng thể có chút hy vọng giải cứu nào cả.
Vị quan chức nhấc chiếc còng tay bằng vàng khỏi chiếc gối nhung. Ông ban phước cho chúng rồi với lấy cổ tay của Tara. Thời điểm đã điểm! Mọi chuyện không thể đi xa hơn được nữa, bởi dù sống hay chết, chiếu theo mọi luật lệ của Barsoom, cô sẽ là vợ của O-Tar xứ Manator ngay khoảnh khắc cả hai bị khóa chặt vào nhau. Thậm chí cho dù có sự giải cứu đến vào lúc đó hoặc sau đó đi chăng nữa, cô cũng không bao giờ có thể hủy bỏ được xiềng xích ấy và Turan sẽ mất đi đối với cô chắc chắn như thể cái chết đã chia cắt họ.
Bàn tay cô lần tìm lưỡi dao được giấu kín, nhưng ngay lập tức bàn tay của chú rể chộp lấy và siết chặt cổ tay cô. Hắn đã đoán được ý định của cô. Qua những khe hở trên chiếc mặt nạ kỳ quái, cô có thể nhìn thấy đôi mắt hắn đang dán chặt vào mình và cô mường tượng ra nụ cười mỉa mai mà chiếc mặt nạ đang che giấu. Trong một khoảnh khắc căng thẳng, cả hai đứng lặng như vậy. Những con người ở phía dưới giữ một sự im lặng đến nghẹt thở bởi màn kịch diễn ra trước ngai vàng ấy không hề qua mắt được họ.
Dù khoảnh khắc ấy vốn dĩ đã vô cùng kịch tính, nó bỗng trở nên kịch tính gấp bội khi những cánh cửa dẫn đến Đại sảnh Thủ lĩnh bỗng bật mở đầy ồn ào. Mọi ánh mắt đều đổ dồn về hướng gây ra sự gián đoạn để nhìn thấy một bóng người nữa xuất hiện khung trong ô cửa rộng lớn — một dáng người nửa kín nửa hở đang vội vã cài lại bộ trang phục còn xộc xệch — dáng người của O-Tar, Jeddak xứ Manator.
“Dừng lại!” hắn thét lên, lao nhanh dọc theo lối đi về phía ngai vàng. “Hãy bắt giữ kẻ mạo danh!”
Tất cả mọi ánh mắt phóng thẳng về phía chú rể trước ngai vàng. Họ thấy hắn giơ tay giật phăng chiếc mặt nạ vàng xuống, và Tara xứ Helium với đôi mắt mở lớn đầy kinh ngạc đã ngước nhìn lên khuôn mặt của Turan người panthan.
“Tên nô lệ Turan,” họ hét lên lúc bấy giờ. “Giết nó đi! Giết nó đi!”
“Khoan đã!” Turan quát lớn, tuốt gươm ra khi một tá chiến binh lao tới.
“Khoan đã!” một giọng nói khác vang lên đầy chói tai, già nua và khàn đợt, khi I-Gos, lão nghệ nhân ướp xác cổ kính, phóng ra từ đám đông khách mời và tiến đến những bậc thềm ngai vàng nhanh hơn cả những tên chiến binh đi đầu.
Vừa trông thấy lão già, các chiến binh liền khựng lại, bởi tuổi tác vẫn luôn được kính trọng vô cùng trong các dân tộc ở Barsoom, điều vốn cũng đúng với hầu hết các dân tộc có tôn giáo bắt nguồn ít nhiều từ việc thờ cúng tổ tiên. Thế nhưng O-Tar chẳng thèm bận tâm đến lão, thay vào đó hắn nhanh như cắt lao về phía ngai vàng. “Đồ hèn nhát, đứng lại!” I-Gos hét lên.
Mọi người nhìn lão già nhỏ bé với vẻ kinh ngạc tột độ. “Hỡi những người con của Manator,” lão rít lên bằng giọng nói cao vút và sắc lẹm, “các người muốn bị cai trị bởi một kẻ hèn nhát và dối trá hay sao?”
“Giết y đi!” O-Tar gầm lên.
“Không đời nào, cho đến khi ta được nói,” I-Gos đốp lại. “Đó là quyền của ta. Nếu ta sai, mạng sống của ta sẽ bị tước đoạt — điều đó tất cả các ngươi đều rõ và ta cũng biết. Vì vậy ta đòi hỏi được lắng nghe. Đó là quyền của ta!”
“Đó là quyền của lão,” tiếng của hàng chục chiến binh từ nhiều góc khác nhau trong căn phòng đồng thanh hưởng ứng.
“Việc O-Tar là một kẻ hèn nhát và dối trá, ta có thể chứng minh,” I-Gos tiếp lời. “Hắn từng khoác lác rằng bản thân đã dũng cảm đối mặt với những điều kinh hoàng trong căn phòng của O-Mai và chẳng hề thấy bóng dáng tên nô lệ Turan nào ở đó. Chính ta đã ở đó, nấp sau những tấm rèm che, và ta đã chứng kiến tất cả mọi chuyện diễn ra. Turan đã trốn trong phòng và khi ấy đang nằm ngay trên chiếc ghế dài của O-Mai thì O-Tar, run lẩy bẩy vì sợ hãi, bước vào phòng. Turan bị làm phiền, bèn ngồim dậy đồng thời thét lên một tiếng xé rách màn đêm. O-Tar hét lên và ngất lịm đi.”
“Đó là điều bị đặt!” O-Tar la lên.
“Không hề bị đặt và ta có thể chứng minh điều đó,” I-Gos đốp chát lại. “Có ai trong số các người để ý vào đêm hắn ta trở về từ các căn phòng của O-Mai và đang khoe khoang về chiến tích của mình rằng, khi hắn muốn triệu tập nô lệ mang rượu tới, hắn đã với tay lấy con dao găm để đập chuôi dao vào chiếc cồng theo đúng thói quen thường ngày của hắn không? Có ai trong số các người để ý điều đó không? Và rằng hắn không hề có con dao găm nào cả? Hỡi O-Tar, con dao găm mà ngươi mang theo vào phòng O-Mai nay ở đâu rồi? Ngươi không biết; nhưng ta thì biết. Trong lúc ngươi bất tỉnh vì sợ hãi, ta đã rút nó ra khỏi bộ trang phục của ngươi và giấu nó giữa những lớp lụa dùng để ngủ trên chiếc ghế dài của O-Mai. Nó vẫn ở đó cho đến tận bây giờ, và nếu bất kỳ ai còn hoài nghi, hãy cứ đến đó để tự mình tìm thấy nó và nhận ra sự hèn nhát của vị jeddak mà các ngươi tôn sùng.”
“Nhưng còn tên mạo danh này thì sao?” một kẻ lên tiếng chất vấn. “Hắn có được phép đứng một cách nhởn nhơ trên ngai vàng của Manator trong lúc chúng ta cãi vã về kẻ cai trị của mình hay không?”
“Chính nhờ lòng dũng cảm của hắn mà các ngươi mới biết được sự hèn nhát của O-Tar,” I-Gos đáp lời, “và cũng chính thông qua hắn, các ngươi sẽ được ban cho một vị jeddak vĩ đại hơn.”
“Chúng ta sẽ tự chọn lấy jeddak của mình. Hãy bắt và giết tên nô lệ ấy đi!” Tiếng la ó đồng tình vang lên từ khắp mọi góc phòng. Gahan vẫn đang lắng nghe chăm chú, như thể đang đợi một âm thanh hằng mong ước. Anh nhìn thấy những tên chiến binh đang tiến lại gần bục cao — nơi anh hiện đang đứng với thanh gươm tuốt trần và một cánh tay ôm lấy Tara xứ Helium. Anh tự hỏi liệu các kế hoạch của mình cuối cùng đã thất bại rồi chăng. Nếu chúng thất bại, điều đó đồng nghĩa với cái chết dành cho anh, và anh biết rằng Tara sẽ tự vẫn nếu anh gục ngã. Phải chăng anh đã vì cô mà hy sinh một cách vô ích sau tất cả mọi nỗ lực ấy?
Nhiều tên chiến binh đang thúc giục sự cần thiết phải lập tức cử người đến căn phòng của O-Mai để tìm kiếm con dao găm — thứ sẽ chứng minh rõ ràng sự hèn nhát của O-Tar nếu được tìm thấy. Cuối cùng ba tên cũng đồng ý đi. “Các ngươi không cần phải sợ hãi,” I-Gos trấn an họ. “Chẳng có gì ở đó có thể làm hại các ngươi đâu. Dạo gần đây ta đến đó luôn và tên nô lệ Turan đã ngủ ở đó suốt bao đêm qua. Những tiếng thét và tiếng rên rỉ từng làm các ngươi và O-Tar hoảng sợ chính là do Turan phát ra để xua đuổi các ngươi khỏi chỗ ẩn nấp của hắn.” Với vẻ mặt đầy ngượng ngùng, ba tên rời khỏi phòng để đi tìm con dao găm của O-Tar.
Và giờ đây những kẻ khác lại quay sự chú ý về phía Gahan. Chúng tiến về phía ngai vàng với những thanh gươm tuốt trần, nhưng bước đi chậm chạp bởi chúng từng chứng kiến tên nô lệ này trên Đấu trường Jetan và thấu rõ sự dũng mãnh trong những đòn đánh của anh. Chúng vừa tiến đến chân bậc thềm thì từ phía trên cao vọng xuống một tiếng nổ trầm đục, rồi một tiếng nữa, và lại một tiếng nữa; Turan mỉm cười và thở phào nhẹ nhõm. Có lẽ, suy cho cùng thì mọi việc vẫn chưa quá muộn. Các chiến binh khựng lại lắng nghe giống như những người khác trong phòng. Giờ đây, một tiếng súng rền vang dội vào tai họ và tất cả đều phát ra từ phía trên, tựa như có người đang giao chiến trên những mái nhà của cung điện.
“Chuyện gì thế nhỉ?” chúng hỏi nhau.
“Một cơn bão lớn vừa quét qua Manator,” một kẻ nói.
“Đừng bận tâm đến cơn bão cho đến khi các ngươi tiêu diệt được sinh vật dám đứng trên ngai vàng của vị jeddak các ngươi,” O-Tar quát lên. “Bắt lấy hắn!”
Ngay khi hắn vừa dứt lời, tấm thảm che tường phía sau ngai vàng rẽ ra và một chiến binh bước lên bục cao. Một tiếng động ngạc nhiên và đầy hoảng hốt thốt lên từ môi những tên chiến binh thuộc hạ của O-Tar. “U-Thor!” bọn chúng kêu lên. “Sự phản bội gì thế này?”
“Không có sự phản bội nào cả,” U-Thor cất giọng trầm ấm nói. “Ta mang đến cho toàn thể Manator một vị jeddak mới. Không phải là một kẻ hèn nhát dối trá, mà là một người dũng cảm mà tất cả các ngươi đều yêu mến.”
Nói đoạn, ông bước sang một bên để một người khác bước ra từ hành lang bị che khuất bởi tấm thảm. Đó chính là A-Kor, và vừa nhìn thấy hắn, những tiếng thét ngạc nhiên, vui mừng lẫn giận dữ liền bùng lên khi các phe phái nhận ra cuộc đảo chính đã được sắp đặt một cách vô cùng tinh vi này. Phía sau A-Kor là những chiến binh khác cho đến khi bục cao chật nêm người — tất cả đều là những người con của Manator đến từ thành phố Manatos.
O-Tar đang lớn tiếng thúc giục các chiến binh của mình tấn công, thì một tên padwar đầy máu me và đầu tóc bù xù đột ngột xông vào phòng qua một lối đi bên hông. “Thành phố thất thủ rồi!” hắn lớn tiếng kêu lên. “Đám đông từ Manatos đang tràn qua Cổng Kẻ Thù. Lũ nô lệ từ Gathol đã nổi dậy và tiêu diệt lực lượng cận vệ hoàng cung. Những con tàu khổng lồ đang thả quân xuống mái cung điện và trên Đấu trường Jetan. Người xứ Helium và Gathol đang tiến hành hành quân qua Manator. Họ đang gào thét đòi Công chúa xứ Helium và thề sẽ biến Manator thành một ngọn lửa tang thương thiêu rụi thân xác của toàn bộ người dân chúng ta. Bầu trời đen đặc tàu chiến. Chúng kéo đến trong những đoàn dài vô tận từ hướng đông và hướng nam.”
Và rồi một lần nữa, những cánh cửa từ Đại sảnh Thủ lĩnh bật mở rộng, và những người Manator quay lại nhìn một bóng người khác đang đứng ngay ngưỡng cửa — một bóng dáng lực lưỡng của một người đàn ông da trắng, tóc đen, với đôi mắt xám giờ đây lấp lánh như những mũi thép, và phía sau ông, Đại sảnh Thủ lĩnh chật nêm những chiến binh đang mặc chiến giáp của những xứ sở xa xôi. Tara xứ Helium nhìn thấy ông và trái tim cô nhảy vọt lên trong sự hân hoan tột độ, bởi đó chính là John Carter, Lãnh chúa xứ Barsoom, dẫn đầu một đạo quân chiến thắng đến giải cứu con người của con gái ông, và bên cạnh ông là Djor Kantos — người mà cô đã đính ước.
Vị Lãnh chúa đảo mắt nhìn quanh đám đông trong giây lát trước khi cất lời. “Hãy hạ vũ khí xuống, hỡi những người Manator,” ông nói. “Ta đã thấy con gái mình và con bé vẫn bình an vô sự, và nếu không có tổn hại nào giáng xuống con bé thì sẽ chẳng có giọt máu nào phải đổ. Thành phố của các ngươi đã tràn ngập các chiến binh của U-Thor, cùng những người đến từ Gathol và Helium. Cung điện đang nằm trong tay những nô lệ đến từ Gathol, bên cạnh hàng ngàn chiến binh của chính ta đang lấp đầy các đại sảnh và căn phòng bao quanh nơi này. Số phận vị jeddak của các ngươi nằm trong tay các ngươi. Ta không có ý định nhúng tay vào. Ta chỉ đến vì con gái mình và để giải phóng cho những nô lệ xứ Gathol. Ta đã nói xong!” và chẳng cần đợi câu trả lời, như thể căn phòng này toàn là người của mình chứ không phải một băng đảng thù địch, ông sải bước dọc theo lối đi chính rộng lớn tiến về phía Tara xứ Helium.
Các thủ lĩnh Manator hoàn toàn chết sững. Họ nhìn sang O-Tar; nhưng hắn chỉ biết trơ mắt nhìn quanh một cách bất lực khi kẻ thù từ Đại sảnh Thủ lĩnh ùn ùn kéo vào và bao vây lấy căn phòng ngự triều cho đến khi chúng đã bao bọc toàn bộ đám đông. Và rồi một tên dwar thuộc quân đội Helium bước vào.
“Chúng ta đã bắt được ba vị thủ lĩnh,” hắn báo cáo với Vị Lãnh chúa, “những kẻ đang cầu xin được phép bước vào phòng ngự triều để báo cáo với các đồng liễn của họ một vấn đề mà họ nói sẽ quyết định vận mệnh của Manator.”
“Dẫn chúng vào đây,” Vị Lãnh chúa ra lệnh.
Chúng bước đến, bị áp giải nghiêm ngặt, dừng lại ở chân những bậc thềm dẫn lên ngai vàng và người đứng đầu quay lại hướng về phía những người Manator khác, giơ cao bàn tay phải để lộ một con dao găm nạm ngọc. “Chúng tôi đã tìm thấy nó,” hắn nói, “ngay tại nơi mà I-Gos đã bảo chúng tôi sẽ tìm thấy,” và hắn ném cái nhìn đầy đe dọa về phía O-Tar.
“A-Kor, jeddak xứ Manator!” một giọng nói vang lên, và tiếng hô đó nhanh chóng được tiếp nối bởi hàng trăm chiến binh có giọng khàn đặc.
“Chỉ có thể có một vị jeddak duy nhất ở Manator,” viên thủ lĩnh cầm dao găm lên tiếng; ánh mắt vẫn dán chặt vào kẻ bất hạnh O-Tar, hắn bước đến chỗ vị cựu vương đang đứng và đặt con dao găm lên lòng bàn tay đang chìa ra, cung kính dâng nó cho kẻ thống trị thất thế. “Chỉ có thể có một vị jeddak duy nhất ở Manator,” hắn lặp lại đầy hàm ý.
O-Tar cầm lấy lưỡi dao được chìa ra, ưỡn ngực đứng thẳng người hết cỡ rồi đâm thẳng nó ngập đến cán vào lồng ngực mình — chỉ bằng một hành động đơn giản ấy, hắn đã chuộc lại lỗi lầm trong lòng người dân và giành lấy một vị trí vĩnh cửu trong Đại sảnh Thủ lĩnh.
Khi hắn ngã xuống, toàn bộ căn phòng lớn chìm trong tĩnh lặng, rồi chẳng mấy chốc bị phá vỡ bởi giọng nói của U-Thor. “O-Tar đã chết!” ông hô lớn. “Hãy để A-Kor cai trị cho đến khi các thủ lĩnh của toàn thể Manator được triệu tập để chọn ra một vị jeddak mới. Các ngươi trả lời thế nào?”
“Hãy để A-Kor cai trị! A-Kor, Jeddak xứ Manator!” Tiếng hô vang dậy khắp căn phòng và hoàn toàn không có một tiếng nói phản đối nào.
A-Kor giơ cao thanh gươm ra hiệu giữ trật tự. “Đó là ý muốn của A-Kor,” hắn nói, “và của Đại Jed xứ Manatos, cùng vị chỉ huy hạm đội đến từ Gathol, và của ngài John Carter lừng lẫy, Lãnh chúa xứ Barsoom, rằng hòa bình sẽ ngự trị trên thành phố Manator; vì vậy ta sắc lệnh rằng người dân Manator hãy bước ra ngoài chào đón các chiến binh của những người anh em đồng minh này như những vị khách quý lẫn bằng hữu, đồng thời cho họ thấy những kỳ quan của thành phố cổ kính cùng lòng hiếu khách của Manator. Ta đã nói xong.” Và U-Thor cùng John Carter giải tán các chiến binh của họ, ra lệnh cho họ đón nhận lòng mến khách của Manator. Khi căn phòng vắng bớt người, Djor Kantos đã tiến đến bên Tara xứ Helium. Niềm hạnh phúc vì được giải cứu của cô gái bỗng chốc bị vẩn đục khi nhìn thấy người đàn ông mà trái tim lương thiện mách bảo rằng cô đã phụ bạc. Cô vô cùng sợ hãi thử thách đang chờ đợi trước mắt và sự bất nghĩa mà cô buộc phải thừa nhận trước khi có thể hy vọng được giải thoát khỏi lời hẹn ước đã tồn tại lâu nay giữa hai người. Và giờ đây Djor Kantos tiến lại gần, quỳ xuống và nâng những ngón tay cô lên đặt nhẹ lên môi.
“Hỡi người con gái xinh đẹp của Helium,” anh nói, “làm sao tôi có thể nói với nàng điều mà tôi buộc phải thốt ra — về sự bất nghĩa mà tôi đã vô tình gây ra cho nàng đây? Tôi chỉ còn biết đặt lòng bao dung của nàng vào sự tha thứ; nhưng nếu nàng yêu cầu, tôi hoàn toàn có thể đón nhận nhát dao găm một cách đầy danh dự như O-Tar vậy.”
“Ý anh là gì?” Tara xứ Helium hỏi. “Anh đang nói cái quái gì thế — tại sao lại nói những lời ẩn dụ khó hiểu với một người có trái tim đang tan nát cơ chứ?”
Trái tim cô đang tan nát cơ đấy! Triển vọng phía trước chẳng có vẻ gì là sáng sủa, và vị padwar trẻ tuổi thầm ước gì mình đã chết đi trước khi phải thốt ra những lời mà giờ đây anh buộc phải nói.
“Tara xứ Helium,” anh tiếp lời, “tất cả chúng tôi đều tưởng nàng đã chết. Đã tròn một năm nàng rời xa Helium. Tôi đã thực lòng tiếc thương nàng và rồi, chưa đầy một mặt trăng trước, tôi đã kết hôn với Olvia Marthis.” Anh khựng lại, nhìn cô bằng ánh mắt như muốn nói: “Giờ thì, hãy đâm chết tôi đi!”
“Ôi, anh chàng ngốc nghếch!” Tara kêu lên. “Chẳng có gì anh làm lại có thể khiến tôi vui mừng hơn thế. Djor Kantos này, tôi thiếu điều muốn ôm hôn anh đấy!”
“Tôi không nghĩ là Olvia Marthis sẽ bận tâm đâu,” anh nói, khuôn mặt lúc này đã rạng rỡ những nụ cười. Ngay khi họ đang trò chuyện, một nhóm người đã bước vào phòng ngự triều và tiến về phía bục cao. Đó là những người đàn ông cao lớn mặc trang phục giản dị, hoàn toàn không có lấy một chút hoa văn trang trí nào. Ngay khi người dẫn đầu bước lên bục, Tara quay sang Gahan, ra hiệu cho anh nhập bọn cùng họ.
“Djor Kantos,” cô nói, “tôi xin giới thiệu Turan người panthan, sự trung thành và lòng dũng cảm của anh ấy đã chinh phục được trái tim tôi.”
John Carter và người đứng đầu nhóm chiến binh mới đến đang đứng gần đó, đưa mắt nhìn nhanh về phía nhóm nhỏ. Vị Lãnh chúa mỉm cười một nụ cười khó đoán, người kia cất tiếng lên với Công chúa xứ Helium. “'Turan người panthan!'” anh ta kêu lên. “Hỡi vị tiểu thư xinh đẹp của Helium, lẽ nào nàng không biết người đàn ông mà nàng gọi là panthan này chính là Gahan, Jed xứ Gathol hay sao?”