Những ngày trôi qua mà không có lấy một lời hay manh mối nào từ cô gái mất tích. Viên cảnh sát trưởng cứ quanh quẩn bưu điện và nhà ga, với tất cả sự già nua và bất lực của mình, ông thầm mong tin tức về cô sẽ tới; thế nhưng chẳng có bức thư nào ở đó, và cũng chẳng có bức điện tín nào ở nhà ga khi ông thảng thốt đi dạo sang nơi ấy. Các quan chức quận ở Boggs City đã xuống và bắt đầu một cuộc điều tra qua loa, nhưng những nhận định chắc nịch dẫu ảm đạm của Anderson đã khiến họ hoàn toàn từ bỏ, và họ đành buông xuôi cuộc tìm kiếm. Chẳng còn cách nào khác ngoài việc ngồi ngây ra và chờ đợi.
Trong ba ngày ấy, Anderson Crow trở nên già cỗi và bạc phơ hơn, dẫu ông vẫn duy trì một vẻ kiên cường đáng nể. Ông đã đưa ra lời hứa thưởng qua quýt cho ai tìm được Rosalie, dù sống hay chết, nhưng trong lòng ông thừa biết điều đó sẽ chẳng đi đến đâu. Mark Riley, tay dán áp-phích, đã đem dán những tờ thông báo tiền thưởng lòe loẹt đi xa tận các cột điện ở hạt Clay. Thiên hạ đều được biết rằng một phần thưởng trị giá 1000 đô-la sẽ được trao cho việc đưa Rosalie trở về hoặc cung cấp thông tin dẫn đến việc bắt giữ những kẻ đã bắt cóc cô.
Có một điểm cực kỳ bí ẩn liên quan đến vụ việc này—một điều kỳ lạ đến mức suýt chạm ngưỡng siêu nhiên. Không một con người nào ở hạt Bramble ngoại trừ hai cậu bé nhìn thấy chiếc xe trượt tuyết hai hàng ghế. Nó đã biến mất cứ như thể bị chính mặt đất nuốt chửng vậy.
"Chà, khóc lóc vì sữa đã đổ thì cũng chẳng ích gì," Anderson dũng cảm nói. "Con bé mất tích rồi, và tôi chỉ cầu mong nó không bị đối xử tệ bạc. Tôi không hiểu tại sao họ lại phải hãm hại nó. Nó chưa từng làm điều gì sai trái với ai cả. Rất có thể nó đã được đưa đến một nơi tiện nghi ở New York, và chúng ta sẽ nhận được tin từ nó ngay khi nó hồi phục sau cú sốc. Tôi biết chẳng ích gì khi đi tìm nó, nhưng tôi cứ không sao kìm được cái thói tò mò la cà đây đó. May ra tôi có thể tìm được chút manh mối nào về nó. Tôi sẵn sàng đánh đổi tất cả những gì mình có trên đời này để biết rằng nó được bình an vô sự, dù cho tôi có không bao giờ gặp lại nó đi nữa."
Ánh mắt thèm khát sự thật trong đôi mắt ông càng trở nên sâu thẳm, và chẳng còn ai dám đùa cợt với ông như những ngày tháng cũ.
Không có nhiều kẻ lang thang hoạt động ở khu vực đó của tiểu bang. Anderson Crow từng kiêu hãnh tuyên bố rằng chúng phải tránh xa Tinkletown một quãng thật xa vì uy danh của ông; nhưng giới giang hồ lang thang lại có một góc nhìn hoàn toàn khác về vấn đề này. Chúng không bén mảng đến phần phía bắc của tiểu bang vì một lý do đơn giản nhưng đầy sức nặng rằng ở đó chúng sẽ chết đói. Bắt buộc những kẻ tha hương mệt mỏi phải làm việc quần quật cả ngày như một con ngựa đi mượn để đổi lấy một bữa ăn duy nhất vào "bàn ăn thứ hai". Chẳng hề có cái gọi là "của bố thí", theo cách gọi trong từ điển của đám lang thang. Do đó, chẳng có gì là lạ khi đám lang thang thấy cộng đồng này quá ư nhàm chán đến mức chúng sẵn sàng đi bộ hàng dặm chỉ để tránh xa nơi này. Một tên lang thang nọ, với sự am hiểu tình hình một cách kỳ lạ, từng ví von người nông dân miền Bắc rằng hắn ta "keo kiệt đến mức chẳng bao giờ thèm cạo râu chỉ vì sợ tốn tóc".
Thiết nghĩ cũng chẳng cần phải nói thêm, xét theo thái độ của cả người nông dân lẫn kẻ lang thang, rằng gã tha hương lầm đường lạc lối nào vô tình đi ngang qua nơi đó đều trở thành tâm điểm của sự tò mò vô cùng cay độc, dẫu chưa hẳn là cao sang. Trên những con đường quê, hắn bị nhìn chằm chằm bằng một thứ ác ý khiến sự thèm ăn của hắn đông cứng lại, cho dù hắn có nuôi dưỡng nó lâu đến đâu trên mảnh đất cằn cỗi ấy. Trên những con đường của Tinkletown, và thậm chí ngay tại trung tâm hạt, hắn là đối tượng của một sự quan tâm đầy kinh ngạc đến nỗi hắn phải lủi đi trong nỗi thống khổ thuần túy. Quả thật là một tên lang thang ngây thơ khi hắn dám nghĩ đến chuyện sống sung túc ở hạt Bramble dẫu chỉ trong một ngày một đêm. Ngay trước cửa tiệm bách hóa và bưu điện ở Tinkletown có một cột mốc, trên đó Anderson Crow đã tự tay sơn những dòng chữ này:
"Cấm lang thang và Gia súc
Lai vãng trên những con đường này.
Theo lệnh của
A. CROW, Cảnh sát trưởng."
Lũ gia súc thì phớt lờ mệnh lệnh đó, nhưng đám lang thang thì biết đường mà tránh. Vào những dịp hiếm hoi lắm, có thể chúng đã lén lút đi qua một vài ngôi nhà ở Tinkletown, nhưng nếu chúng đi qua các con phố thì chẳng ai hay biết cả. Anderson Crow một cách trang nghiêm nhưng vô cùng tận tụy đã chặn chúng lại ngay từ vùng ngoại ô, và chúng đành phải rẽ sang hướng khác. Hai lần trong sự nghiệp của mình, ông từng đánh đuổi những tên lang thang dám đột nhập vào nhà của những công dân nổi tiếng giữa ban ngày ban mặt, nhưng điều đó có hề gì chừng nào đám "hobo" còn bị ngăn chặn không cho làm vấy bẩn con phố chính của thị trấn? Chiếc huy hiệu chính thức của ngài Crow, đi kèm với huy hiệu từ văn phòng thám tử New York, chiếc huy hiệu Hội Con cháu Thời kỳ Cách mạng, và phù hiệu G.A.R. của ông, đã biến ông thành một nhân vật khiến ai nấy đều phải nể sợ. Nếu thời tiết quá bức bối không thể mặc áo khoác và áo ghi-lê, vị quan chức kiêu hãnh này sẽ cài thẳng các huy hiệu vào dây yếm của ông, và sự hiện diện của chúng khiến cho những chiếc dây yếm vốn bình thường bỗng trở nên vô cùng lừng lẫy.
Vào ngày thứ tư sau vụ bắt cóc, viên cảnh sát trưởng Crow đột nhiên bừng tỉnh khỏi sự rũ rượi bởi tin tức rằng sự bình yên và an ninh của khu phố đang bị xâm phạm.
"Quỷ tha ma bắt anh chứ lị!" ông thốt lên, buông tay khỏi chòm râu cằm lởm chởm mà ông vẫn thường túm lấy từ giời tới đất.
"Vâng, thưa ông," cậu bé đang vô cùng kích động đáp lời. Cùng với hai người bạn nữa, cậu đã chạy hụt hơi khắp cả thị trấn trước khi tìm thấy vị sĩ quan ở tiệm rèn của Harkin.
"Chà, chết tiệt tụi nó chứ!" ngài Crow trầm ngâm nói với vẻ đầy ấn tượng.
"Bọn cháu đang trượt băng ngoài đầm lầy thì nghe thấy tiếng chúng rõ mồn một," cậu bé kia nói. "Ông cứ tin đi, cháu đời nào dám bén mảng lại gần cái ngôi nhà đó nữa."
"Thôi nào! Bud, làm quái gì có chuyện ma quỷ," ngài Crow nói; "đó là lũ lang thang."
"Chẳng phải ông thừa biết ngôi nhà đó bị ám hay sao?" Bud cãi lại. "Chẳng phải mụ già Rank đã bị chính con rể sát hại ở đó hay sao? Chẳng phải mụ ta đã bị băm vắn thành từng mảnh rồi chôn ngay tại tầng hầm nhà mình hay sao?"
"Sấm sét đánh chết cậu đi, chuyện đó xảy ra từ ba mươi năm trước rồi, chàng trai trẻ!"
"Thì từ đó đến nay có ai dám bén mảng đến ở ngôi nhà ma ám ấy đâu, phải không nào? Chẳng phải Jim Smith từng thử ngủ ở đó một đêm vì cá cược, rồi chẳng phải hắn đã nghe thấy những âm thanh khủng khiếp đến mức suýt phát điên lên đó sao?" Bud nằng nặc cãi.
Ngôi nhà ma ám
"Ta chỉ nhớ là Jim đã chạy hụt hơi vượt qua cả nhà mình hai dặm đường mới dừng lại nổi, vì hắn ta quá vội vàng muốn chuồn khỏi cái xó đó. Nhưng Jim có thấy gì đâu. Vả lại, chuyện đó cũng đã cách đây hai mươi năm rồi. Ma quỷ nào lại đi la cà quanh một nơi chẳng có gì để mà ám chứ. Con rể mụ ta đã bị treo cổ rồi, và mụ ta chẳng còn ai khác để mà quấy rầy nữa. Ta nói cho cậu biết, đó là lũ lang thang."
"Thì... bọn cháu chỉ định báo cho ông biết vậy thôi, chú Crow," cậu bé đầu đàn nói.

Chỉ trong chốc lát, cả khu trung tâm thương mại của Tinkletown đều râm ran tin tức rằng đám lang thang đang biến ngôi nhà ma ám dưới bờ sông làm đại bản doanh, và rằng Anderson Crow sắp sửa nhảy lên chiếc xe đạp của mình để đi quét sạch chúng đi. Ngôi nhà ma ám cách thị trấn ba dặm và nằm ở vùng hẻo lánh nhất của vùng đất thấp trũng. Ta chỉ có thể tiếp cận nơi này qua con đầm lầy hiểm trở ở một bên hoặc bằng đường sông ở bên kia. Mãi cho đến sau vụ sát hại chủ nhân kiêm người xây dựng nó, mụ già Johanna Rank, người ta mới tìm được lời giải thích cho sự tồn tại của một ngôi nhà ở cái chốn khỉ ho cò gáy ấy.
Các nhà chức trách liên bang đã phát hiện ra rằng mụ ta và con rể là Dave Wolfe đứng đầu một đường dây làm tiền giả lớn, và chúng đã hoạt động ở tận trạm gác trên cao đó một cách an toàn trong nhiều năm, tuồn ra hàng trăm đồng tiền giả. Một đêm nọ, Dave nổi cơn thịnh nộ sát hại mẹ vợ, và đã bị treo cổ vì chiến công hiển hách đó trước khi kịp chịu tội cho những hành vi đồi bại của mình. Trong suốt ba mươi năm qua, căn lúp xúp cũ kỹ, rệu rã và dãi dầu mưa nắng trong đầm lầy chẳng có ai lui tới ngoài lũ chim chóc, thằn lằn và những cư dân khác của chốn thâm sơn cùng cốc—tất nhiên, lúc nào cũng bao gồm cả hồn ma của mụ già Rank.
Do Dave đã băm mụ ta thành từng mảnh nhỏ rồi chôn chúng dưới tầng hầm, trong khi chính con gái ruột của mụ lại là kẻ cầm đèn soi, nên hoàn toàn có khả năng là một số phần thể xác của mụ Johanna xui xẻo chưa bao giờ được những kẻ tìm kiếm đào lên hết. Người ta trong vùng vẫn đinh ninh rằng linh hồn của mụ Rank cứ thỉnh thoảng lại hiện về để sục sạo trong lớp đất của tầng hầm nhằm tìm kiếm những phần cơ thể chưa được chôn cất tươm tất nơi nghĩa trang làng.
Những âm thanh kỳ bí từng văng vẳng quanh khu nhà vào thời khắc tĩnh mịch nhất của đêm đen, và những ánh sáng ma trơi từng lướt qua những khung cửa sổ tầng hầm. Toàn thể Tinkletown đều đồng lòng thừa nhận rằng nơi ấy bị ma ám và tốt nhất là nên kính nhi viễn chi. Ba cậu bé khiến cho cảnh sát trưởng Crow giật mình thoát khỏi cơn ngẩn ngơ thực ra đã trốn học để kéo nhau ra sông trượt băng. Chúng thề rằng những âm thanh tiếng nói trầm đục phát ra từ bên trong căn lúp xúp, nơi chúng vô tình lang thang đến gần. Mặc dù Dave Wolfe đã chết từ ba mươi năm trước, một trong những cậu bé nhỏ tuổi nhất vẫn đinh ninh rằng hắn đã nhận ra giọng nói của tên tướng cướp khét tiếng ấy. Và ngay lập tức, bộ ba cắm cổ tháo chạy khỏi chốn quỷ tha ma bắt đó rồi mang tin tức kinh hoàng về báo cho Anderson Crow. Viên thám tử ngay lập tức được triệu hồi để giải mã bí ẩn ma quỷ này.
Cảnh sát trưởng Crow trước tiên quay về nhà và khoác lên mình chiếc áo khoác xanh, chuyển các ngôi sao cùng huy hiệu sang vạt áo sờn mỡ của bộ trang phục. Ông cũng lấy theo chiếc đèn lồng tối màu và cây gậy chính thức của làng, nhưng lý do tại sao lại mang theo gậy trong một chuyến viễn chinh bằng xe đạp thì chỉ có một mình ông mới biết. Được theo sau bởi một lũ trẻ con và một vài công dân tiêu biểu của Tinkletown trên những chiếc xe đạp cổ lỗ sĩ, ngài Crow oai vệ đạp xe tiến về phía hướng nam. Men theo đầm lầy, đoàn người tiến đến ngôi nhà ma ám qua con đường mòn hẹp chạy dọc theo bờ sông. Ngay khi vừa nhìn thấy căn lúp xúp xiêu vẹo, thứ dường như càng lúc càng lùi sâu vào bóng râm dày đặc của buổi chiều tà với tất cả sự e ấp mang tính siêu nhiên, viên cảnh sát trưởng liền ra lệnh dừng quân và công bố kế hoạch của mình.

"Lũ nhóc tụi bay lên đó bảo mấy gã đó là ta muốn gặp chúng," ông ra lệnh. Bọn trẻ lùi lại phía sau và chuẩn bị mếu máo.

"Cháu không muốn đi đâu," Bud phản đối.
"Sao chú không tự mình lên đó mà bảo bọn chúng hả, Anderson?" Isaac Porter, thợ sửa máy bơm, hách dịch hỏi.
"Sấm sét đánh chết cậu đi, Ike, ai mới là kẻ đang chỉ huy cái vụ này hả?" Anderson Crow đáp trả. "Ta có quyền ủy quyền cho bất kỳ ai làm bất cứ điều gì vào bất cứ lúc nào. Bộ cậu tưởng ta không biết cách giải quyết một vụ thế này chắc? Ta có những mưu mẹo riêng của mình để phục kích lũ khốn kiếp đó, và ta cho rằng mình đã lăn lộn đủ lâu trong nghề thám tử để biết cách xử lý một tên lang thang chết tiệt, phải không nào? Sao hả? Ai bảo là ta không biết?"
"Có ai nói câu nào đâu, hả Anderson," Jim Borum rụt rè lên tiếng.
"Ừ, thì ta cứ tưởng có ai đó nói. Mà ta cũng không muốn bất kỳ ai xen vào công việc của một sĩ quan cảnh sát đâu đấy. Bud, cậu và hai đứa nhóc nhà Heffner hãy lên đó bảo đám vô công rỗi nghề ấy lẹ làng bước xuống đây mau, nếu không ta sẽ lên tận nơi để nói chuyện cho ra ngô ra khoai."
Bud mếu máo: "Trời ơi, chú Crow, cháu sợ lắm!" Lũ nhóc nhà Heffner cắm cổ ba chân bốn cẳng chạy thẳng về nhà.
"Sợ á?" Anderson khịt mũi khinh bỉ. "Thế mà ông cố của cậu lại từng tham gia cuộc Cách mạng đấy nhé. Chúa tôi, nếu cậu là con trai tôi thì tôi đã cho cậu biết thế nào là sợ rồi! Nào Bud, chẳng có chuyện gì xảy ra với cậu được đâu. Chẳng lẽ không có ta ở đây sao?"
"Nhưng nhỡ bọn chúng không chịu ra khi cháu gọi thì sao ạ?"
"Đúng thế, 'nỡ' đó không phải lũ lang thang mà là ma thì sao nhỉ?" ngài Porter buột miệng chen vào, vừa nói vừa lùi xa dần cùng chiếc xe đạp của mình. Lúc này trời đã khá tối và mang lại cảm giác đầy đe dọa ở cái nơi căn lúp xúp đang tọa lạc. Sau nửa giờ tranh cãi hồi lâu, toàn bộ nhóm người chậm rãi tiến về phía ngôi nhà, Anderson Crow đi đầu, một tay cầm đèn lồng tối màu, tay kia cầm gậy. Đi được nửa đường đến ngôi nhà, ông đột ngột khựng lại và quay sang phía Bud.
"Mẹ kiếp cậu chứ, Bud! Ta đéo tin là cậu nghe thấy tiếng động nào trong đó đâu! Chẳng có ích gì khi tiếp tục tiến xa hơn nữa đâu, các quý ông ạ. Lũ nhóc chết tiệt này đã nói dối. Tốt nhất là chúng ta cứ quày quả đi về nhà thôi." Và ông đã thực sự chuẩn bị quay về nhà nếu như Isaac Porter không cất lên một tiếng rên rỉ kinh hoàng rồi ngã quỵ ra đằng sau dựa vào một khóm sậy đầm lầy để tìm kiếm sự bấu víu, đôi mắt kinh hãi dán chặt vào một khung cửa sổ của ngôi nhà gỗ. Cây sậy chẳng đủ sức chống đỡ, và Isaac ngã ngửa ra sau.
Suốt một phút ròng rã, cả nhóm người đứng trân trân nhìn vào ô cửa sổ mờ ảo nhỏ xíu ấy, sự tê liệt chiếm lĩnh mọi giác quan ngoại trừ thị giác. Khi phút tiếp theo vừa trôi qua, nơi đó đã trống không, và Anderson Crow là người đầu tiên chạy tới chỗ những chiếc xe đạp mãi tận phía trên bờ sông. Khuôn mặt ai nấy đều trắng bệch như vôi, và giọng nói thì run lẩy bẩy. Sự uy nghi của ngài Crow lập tức trỗi dậy đúng lúc binh đoàn dũng mãnh chuẩn bị "trèo" lên yên xe để tẩu thoát trong cơn cuồng loạn.
"Đứng lại!" ông thở hồng hộc. "Ta đánh rơi cái đèn lồng tối màu đằng kia rồi. Quay lại nhặt nó đi, Bud."
"Chúa đất ơi! Mấy người từng thấy cảnh nào thế này chưa?" Jim Borum hộc tốc thở dốc, loay hoay định trèo lên chiếc xe đạp của một cậu bé mười tuổi thay vì xe của chính mình.
"Tôi rất muốn có ai đó nói cho tôi nghe rằng không có thứ gọi là ma quỷ đấy," bác sĩ Jimmy Borton run rẩy thốt lên, người mà trước nay luôn miệng khẳng định là chẳng có ma bao giờ. "Bỏ tay ra xem nào! Ái!" Mệnh lệnh và tiếng kêu oai oái ngay sau đó là kết quả tất yếu từ nỗ lực trèo lên chung một chiếc xe đạp với Elon Jones nhưng bất thành của ông.
"Tôi bảo ông thế nào hả, Anderson?" Isaac Porter la lên. "Chẳng phải tôi đã bảo đó là ma hay sao? Lang thang với lính gì tầm này! Một tên lang thang mà bén mảng lên cái ngôi nhà đó thì chẳng sống nổi dù chỉ một giây. Nó bị ma ám suốt ba mươi năm nay rồi và ngày càng quái đản hơn. Giờ chúng ta tính sao đây?"
Ngay cả vị dũng tướng ngài Crow cũng đồng thuận với việc quay trở lại Tinkletown ngay lập tức, và đội tuần tra đang hì hục gỡ rối đống xe đạp đan xen vào nhau thì một sự gián đoạn xuất hiện từ một hướng bất ngờ—một giọng nam trầm cất lên từ phía dòng sông đóng băng ngay sát bên, hầu như nằm ở phía dưới đoạn bờ sông nơi Anderson và những người bạn của ông đang tụm năm tụm ba. Kết quả thật là kinh hoàng. Mọi người đều nhảy thót lên cao một thước và tóc gáy dựng ngược cả lên; những chiếc xe đạp lách cách va đập vào nhau, và Ed Higgins, trong cơn hoảng loạn tuyệt vọng, cắm cổ chạy theo hướng ngược lại về phía ngôi nhà ma ám.