“Cậu đang làm gì ở đây vậy?”
Giọng nói tức giận, đầy vẻ kết tội và chán ghét vang lên. Kathy Welch đứng ở ngưỡng cửa lều y tế, nơi tôi được đặt nằm duỗi dài trên một cái giường gấp dưới cái túi ngủ. Cô là người bạn lâu năm của tôi. Tôi và cô đã cùng tham gia nhiều cuộc đua, cùng tán gẫu trên nhiều dặm đường chạy. Cô thân thiện, tốt tính, lạc quan và tích cực. Lúc này trông cô tức giận như lửa địa ngục.
“Mình bỏ cuộc rồi,” tôi nói.
Một nụ cười nhếch mép thay thế vẻ mặt cau có của cô, rồi cô cười lớn: “Không, cậu không bỏ cuộc. Cậu không thể làm thế được. Cậu đang trong giải Grand Slam.”
Và đó là sự thật. Tôi đã trở lại để cố gắng hoàn thành cuộc đua Leadville 100 mà tôi đã thất bại thảm hại hai năm trước. Năm nay, tôi đặt mục tiêu của mình còn cao hơn nữa. Tôi đã tham gia giải Grand Slam siêu cự ly: Một loạt bốn cuộc đua 100 dặm phải được hoàn thành trong mùa hè với thời gian hồi sức rất ngắn giữa các các cuộc đua. Bên cạnh Leadville, những cuộc đua trong giải Grand Slam khác là Western States, Vermon 100, và Wasatch Front 100 ở Utah gần thành phố Salt Lake. Vì vậy bạn không chỉ phải tham gia tất cả các cuộc đua mà bạn còn phải đi qua khắp đất nước để tham gia chúng.
Khi Kathy gặp tôi trong lều, tôi đã hoàn thành cuộc đua Western States và Vermont, và chỉ còn 25 dặm nữa là tôi hoàn thành cuộc đua Leadville. Tất cả những gì còn lại là Wasatch, và tôi sẽ nâng qua đầu một chiếc cúp đại bàng lộng lẫy Grand Slam dành cho người chiến thắng. Nhưng thay vào đó, tôi lại bỏ cuộc.
“Mắt cá chân của mình đau quá,” tôi hổn hển. “Mình đã bị chấn thương từ lúc ở Vermont. Mình đã nghĩ rằng chúng sẽ khá hơn.”
“Hãy đứng lên và đi thôi!” Kathy nói.
“Mình không thể.”
“Mình đã đậu xe cách đây một dặm, phía dưới con đường,” cô nói, “ở đó cậu sẽ rẽ khỏi đường nhựa để leo lên ngọn Sugaloaf ấy. Hãy đi ra xe của mình và chúng ta sẽ nói chuyện.”
Tôi rên rỉ. Hình ảnh Chlouber nói trước đám đông lướt qua đầu tôi: Điều mà chúng ta không thể làm là từ bỏ. “Hãy làm bạn với nỗi đau,” ông nói. Chà, tôi đã xoay xở để làm điều đó. Tôi đã nhiều giờ cố gắng duy trì sự tích cực, chấp nhận nỗi đau và vượt qua nó. Tôi đã sử dụng tất cả các câu thần chú của mình và thử mọi mẹo có trong sách, nhưng mắt cá chân vừa đau vừa sưng tấy khiến mọi bước chân trở nên quá nặng nề. Tôi đã chậm lại và lê về được trạm cứu hộ Fish Hatchery, các nhân viên y tế nói rằng họ không thể cung cấp bất kỳ thứ thuốc giảm đau nào, thay vào đó họ đưa cho tôi một cái giường gấp và tôi đã lấy nó.
Nhưng giờ đây Kathy đã tóm được tôi. Cơn đau nhức nhối từ mắt cá chân của tôi khiến tôi không thể đối mặt với quãng đường dài 10 dặm đến May Queen, nhưng một dặm đến chiếc xe có thể đưa tôi về nhà nếu muốn, thì tôi có thể cố đi được. Thêm vào đó, đôi chân được nghỉ ngơi một khoảng thời gian cũng đã khá hơn.
Tôi đẩy cái giường gấp ra. Kathy đã thắt đai lưng cho tôi trước khi tôi kịp hiểu cô ấy đang làm gì. Cô chạy đi đổ đầy nước vào các bình. Cô đã làm mọi thứ nhưng lại đá vào mông tôi khi tôi khập khiễng ra ngoài sân và đi về phía Sugaloaf.
Đêm ở Colorado vẫn còn yên tĩnh. Không khí ở dãy núi Rocky thật tươi mới. Không có xe hơi, không có người chạy khác. Chỉ có mình tôi trên đường nhựa
Với ánh sáng mờ từ đèn pha của tôi, những cây thông tạo thành bức tường tối ở hai bên. Mỗi bước đều nhói lên cơn đau, cơn đau từ mắt cá chân tôi vẫn dữ dội. Cơn đau không thuyên giảm, cứ đau triền miên. Tôi không biết mắt cá chân của mình bị làm sao, nhưng mức độ đau gợi lên điều gì đó nghiêm trọng.
Tôi thấy chiếc xe của Kathy ở đằng xa và cô ấy đứng cạnh nó. Mặc dù đau đớn, tôi dường như vẫn có thể tiếp tục tiến lên. Nếu tôi có thể đến May Queen và sau đó hoàn thành đường chạy, có lẽ tôi có thể hồi phục kịp cho cuộc đua Wasatch, vẫn còn hy vọng. Tôi đến gần Kathy, ôm cô ấy và nói: “Nếu có bất kỳ điều tốt đẹp nào đến từ đây, mình sẽ phải cảm ơn cậu.”
“Cứng cỏi lên nào, Gary,” cô ấy trả lời. “Đây là giải Grand Slam.”
Tôi bước ra khỏi con đường rẽ vào một đoạn đường mòn ngắn phía sau bìa rừng. Nơi con đường biến thành cây cối và dốc đứng tới đèo Sugarloaf, tôi dừng lại. Tôi đã hoàn thành một đoạn chạy bộ ngắn tới chiếc xe của Kathy đậu ở đoạn đường bằng, đó là phần dễ nhất. Bây giờ tôi phải đối mặt với một con dốc cao và phần còn lại của chuyến đi tới May Queen - trạm cứu hộ cuối cùng trước khi về đích. Thời gian để chạy ngắn, và gót chân lại như lửa thiêu, giết tôi trong mỗi bước chân. Tôi nhìn lên đường mòn và nghĩ: Mẹ kiếp, Robert Josephs, đây là lỗi của cậu!
CHẠY LÊN
Robert Josephs là bạn thân của tôi, cậu ấy đã nói với tôi về việc thử tham gia giải Grand Slam và điều đó chống lại nhận định tốt hơn của tôi. Cậu ta và tôi không phải là những cái tên vận động viên đầu tiên hiện lên trong tâm trí bạn khi bạn nghĩ về giải Grand Slam. Cả hai chúng tôi đã từng đến Leadville một lần trước đây và thất bại. Trong khi tôi đã cố gắng xoay xở chạy được nửa đường, Robert thậm chí còn chưa chạy được xa đến vậy.
Trong nỗ lực đầu tiên của tôi tại giải Western States, tôi đã bỏ cuộc ở Foresthill, cách vạch xuất phát 62 dặm. Trong lần nỗ lực thứ hai, tôi đã hoàn thành chỉ sớm 23 phút trước thời hạn cuối cùng của cuộc đua là 30 giờ. Robert đã ba lần về đích ở cuộc thi Western States, nhưng về sau thì con số này là bốn lần. Không ai trong chúng tôi từng thử cuộc đua Wasatch, rất nhiều vận động viên chạy bộ tuyên bố nó khó nhất trong bốn cuộc đua. Vì vậy hai người chúng tôi thành công hoàn tất cả bốn cuộc đua trong một mùa hè dường như là điều không tưởng.
Khi lần đầu tiên Robert nêu ý tưởng chúng tôi tham gia đăng ký Grand Slam, tôi đã nói với cậu ta: “Dù có cả đàn ngựa hoang thì cũng không thể kéo mình trở lại Leadville năm nay.” Tôi đã quyết tâm quay lại đó và nhận được cái ôm của Merilee O’Neil, nhưng nỗi day dứt vẫn còn lưu lại từ lần thử đầu tiên của tôi, và tôi tin rằng sẽ có cơ hội hoàn thành cuộc đua, nhưng tôi cần ít nhất hai năm tập trung luyện tập và có thể có vài chuyến đi lên đỉnh Everest trước khi sẵn sàng.
Nhưng Robert đã tìm ra mọi lý do để thuyết phục tôi, cậu ta kiên trì và bướng bỉnh, đây là những đặc điểm mà cậu ta đã đánh cuộc để trở thành một vận động viên chạy, dù cho cơn sốt bại liệt thời thơ ấu khiến cậu ta phải bước đi tập tễnh và lúng túng. Cỡ người trung bình, chiều cao trung bình, nhưng mạnh mẽ và vững chắc như một con bò, cậu ta được nuôi dưỡng trong một gia đình Do Thái lớn ở Philadelphia. Với nước da màu ô liu, mái tóc và đôi mắt màu nâu, cậu ta sẽ không nhìn ra khỏi đường chạy trên đường phố Tel Aviv, trừ khi đang phải đi khập khiễng.
Robert không phải người hay đùa những trò ngốc nghếch, đó là lý do tại sao cậu ta toàn bị hớ bởi những câu ba láp mà tôi liên tục phun ra khi chúng tôi tập luyện cùng nhau trong sự im lặng chết chóc. Khi cậu ấy nói, lời nói thường trực ngôn và đúng trọng tâm. Cậu ấy thích thói quen của tôi: uống rượu trước khi chạy và sau đó phải đi tiểu đằng sau những bụi cây dọc đường mòn cho đến khi tôi trở lại trạng thái cân bằng. Cậu ta nói với tôi rằng tôi là người hùng của những con chó ở khắp mọi nơi. Một lần ngồi trên máy bay, chờ cất cánh, tôi chỉ cho cậu ta đoạn quảng cáo những bộ nữ trang xoàng xĩnh Chúa tể những chiếc nhẫn. “Này,” tôi gọi, “cậu nên mua vài món trong bộ Chúa tể những chiếc nhẫn này.”
“Ừ, Chúa tể của lỗi thời,” cậu ta đáp trả không hề do dự.
Quay trở lại năm 1980, khi cuộc đua American River 50 Mile Endurance Run đầu tiên được tổ chức ở Sacramento, Robert đã ở vạch xuất phát. Đó là thời điểm mà hoàn thành một cuộc đua marathon vẫn được coi là thành tích hoạt động tối cao. Giờ chạy bộ 50 dặm thậm chí không còn được biết đến như là một phần của vũ trụ nữa. Kể từ đó, cậu ta tham gia American River 23 lần, đưa cậu ta lên vị trí thứ tư trong danh sách những người về đích nhiều nhất ở sự kiện này. Robert có một quá khứ chạy huy hoàng, nhưng cậu ta còn muốn Grand Slam nữa.
“Chúng ta ngày một già đi,” cậu ta lập luận. (Lúc đó cậu ta 46, tôi đã 50.)
“Chúng ta sẽ không bao giờ có sức khỏe tốt hơn so với lúc này. Chúng ta sẽ bị chấn thương nhiều hơn khi thời gian trôi qua, không ít hơn đâu. Tôi sẽ tham gia, vì vậy chúng ta có thể cùng nhau và chia sẻ chi phí. Anh sẽ không bao giờ, không bao giờ có một cơ hội tốt hơn đâu.”
Tôi đoán mình đã bị ảnh hưởng bởi phần chia sẻ chi phí.
Sau khi đăng ký bốn cuộc đua, chúng tôi tới một đoạn đường địa hình để tập luyện, Robert vô tình nhắc đến cuộc đua: “Tôi đã đăng ký cuộc đua vĩ đại cuối cùng.”
“Cái gì?!” Tôi hét ầm lên. Cuộc đua vĩ đại cuối cùng là Grand Slam cộng thêm với hai cuộc đua bổ sung, vẫn được thực hiện trong một mùa hè, hai cuộc đua thêm là những cuộc đua khó nhằn. Tôi cho rằng tỉ lệ cược cho chúng tôi hoàn thành Grand Slam chỉ vào khoảng một phần nghìn. Hoàn thành cuộc đua vĩ đại cuối cùng ư? Không đời nào! “Sao cậu lại làm thế?” Tôi hỏi.
“Bởi vì ai cũng có thể hoàn thành được cuộc đua Grand Slam,” Robert trả lời.
Vậy là chúng tôi đã cam kết với nhau, bước tiếp theo là xử lý tất cả các quy trình và hậu cần. Lập kế hoạch cho mùa hè giống như sự chuẩn bị của Napoleon cho cuộc xâm lược nước Nga, ngoại trừ việc Napoleon không có hai đứa con đang tuổi vị thành niên và một công việc toàn thời gian. Phải đặt trước vé máy bay, phòng khách sạn và thuê xe. Đó là những yêu cầu của tình nguyện viên mà chúng tôi phải thực hiện. Ngoài ra còn phải tìm người dẫn tốc và các thành viên vào nhóm, tìm những người cùng đi tới Colorado, Vermont, và Utah. Tôi đặt thêm giày, mua thêm các loại túi đựng, tích trữ thêm các thanh gel năng lượng. Tôi xem qua danh mục các sản phẩm đèn pin công nghệ cao và áo khoác nhẹ. Tôi dành mọi buổi cuối tuần để tập luyện chạy đường dài và chạy địa hình. Tôi tham gia một loạt các cuộc đua mùa xuân. Tôi dành ngày cuối tuần của lễ Chiến sĩ trận vong để tham gia trại huấn luyện Western States.
Có vẻ như việc tập luyện của chúng tôi vẫn không đủ. Ngay cả những lần luyện tập phức tạp nhất, sáu giờ leo lên rồi xuống trên các sườn đồi quanh Monterey, sẽ chẳng là gì nếu chúng tôi biết mình phải đối mặt với Western States trên vùng núi cao hoặc những nơi chót vót như Wasatch. Thêm vào đó, ở khu vực vịnh Monterey, hai chúng tôi chưa bao giờ luyện tập ở nơi không khí nóng như thế và rõ ràng là chưa tập luyện để chạy ở địa hình cao như thế. Làm thế nào để chúng tôi có thể sẵn sàng đối mặt với chứng đầy hơi trong suốt các chặng đua vào mùa hè?
Tất cả mọi chuyện này làm chúng tôi lo lắng suốt cả mùa xuân. Thời gian chậm chạp trôi qua, tôi thề rằng mình đã nhìn mãi vào tờ lịch trình tập luyện có hình gấu trúc suốt ba hay bốn tháng trước khi tôi lật nó sang trang hình con rùa Galapagos với ánh mắt thản nhiên. Tôi bị ám ảnh bởi từng cơn nhức nhẹ và đau đớn, chắc chắn là chỗ bị thương ở gân khoeo của tôi sẽ biến thành chấn thương kết thúc sự nghiệp của tôi hoặc cơn đau ở vòm bàn chân sẽ làm chỗ xương đó bị gãy. Tôi tưởng tượng mình đang đi loanh quanh trong khi Robert đang sung sướng nhảy nhót trên đỉnh Hope ở Leadville.
Và rồi, tháng Sáu đến mà không hề báo trước. Giải đua Grand Slam năm 2003 sẽ bắt đầu bằng cuộc đua Western States vào ngày 28 tháng 6; rồi đến Vermont, 19 tháng 7; đua địa hình ở Leadville, 16 tháng 8; và Wasatch Front, ngày 6 tháng 9. Cuộc đua Western States tạo ra một một vòng xoáy thời gian kỳ lạ nuốt chửng toàn bộ tháng Sáu. Cuộc đua kéo dài ba tuần, tôi vừa làm một hớp cà phê thì đã đến ngày diễn ra cuộc đua vào cuối tuần.
CUỘC ĐUA WESTERN STATES
Cuộc đua Westerns States ra đời từ cảm hứng chuyện Gordon Ainsleigh hoàn thành 100 dặm đường đua địa hình ở Mỹ khi ông có một quyết định nổi tiếng rằng ông có thể chạy 100 dặm đường địa hình mà những con ngựa bình thường có thể vượt qua trong cuộc đua ngựa địa hình Tevis Cup Western States. Thành công của ông khi hoàn thành đoạn đường của cuộc đua ngựa bằng cách chạy bộ vào năm 1974 đã đưa đến việc hình thành cuộc đua chạy bộ Western States 100 Mile Endurance Run. Đáng ngạc nhiên là khi chúng tôi tới thung lũng Squaw nơi cuộc đua bắt đầu, Gordon Ainsleigh đang ở ngay đó, ông đi dạo xung quanh, cười nói với bạn bè của mình, vẫn tham gia cuộc đua và dường như đang tìm cách về đích trước 24 giờ để kiếm một chiếc đai khóa bạc. Điều này giống như được chứng kiến trận Appomattox Courthhouse, nhìn thấy tướng Grant và Lee đang ngồi tán gẫu bên bàn.
“Cuộc đua 50 dặm khó khăn nhất mà tôi từng chạy là 50 dặm đầu tiên ở cuộc đua Western States,” một trong những người chạy thân thiết của tôi đã nói với tôi như vậy. Chờ đợi cuộc đua bắt đầu vào sáng thứ Bảy, nó nhắc nhở tôi rằng có bốn người trong số mười người đứng quanh tôi sẽ không thể băng qua được vạch đích tại Placer High ở Auburn. Tôi đang cân nhắc xem mình nên tham gia vào nhóm chạy nào. Rồi thời điểm đó cũng tới, những tháng dài chờ đợi đột nhiên kết thúc. Robert và tôi chúc nhau may mắn, đồng hồ vang lên tiếng đếm ngược về không. Cuộc đua này và giải đua Grand Slam đã bắt đầu.
Tôi cảm thấy lo lắng khi đoạn đường hướng lên cao, đầu tiên là phải leo ngọn Emigrant. Hơi khó thở ở độ cao này hay tôi chỉ đang căng thẳng? Có phải tôi đã kiệt sức do cuộc thi bắt đầu quá khó? Ai ở đằng trước tôi? Ai ở phía sau tôi? Tôi hít thở thật sâu để thư giãn. Tôi bắt đầu nhận thấy những người xung quanh tôi đang so sánh các ghi chú về giải Grand Slam.
Một cuộc trò chuyện điển hình như thế này:
“Lần đầu tiên tham gia Western?”
“Không, trước đây tôi đã từng tham gia rồi.”
“Cả Vermont nữa chứ?”
“Ừ!”
“Cậu tham gia Grand Slam hả?”
“Ừ, cậu cũng thế phải không?”
“Ừ!”
Dường như trong cách nói chuyện của mọi người về Grand Slam có phần thiếu nhiệt tình, giống như họ sợ có thể làm xáo trộn toàn bộ sự việc khi nói chuyện trực tiếp về nó quá sớm trong cuộc đua.
Đứng đầu trên đỉnh Emigrant, tôi quay lại nhìn đoạn đường cong hướng xuống thung lũng Squaw phía dưới và hồ Tahoe ở đằng xa. Bình minh đang đến, cho tôi cảm giác kỳ lạ. Tôi cảm thấy mình đã bỏ lại thứ gì đó lại phía sau. Đó là cuộc đời tôi trước khi tôi tham gia Grand Slam. Đã kết thúc rồi. Tất cả những điều mà tôi trải nghiệm từ đây trở đi sẽ là bối cảnh của việc gắng sức vượt qua thứ khổng lồ này.
Từng bước vượt qua đoạn đường cong ở con đường độc đạo phía xa con đèo, tôi đã có linh cảm đầu tiên của mình rằng mọi thứ sẽ tốt đẹp lên. Việc trèo lên không làm tôi kinh ngạc. Tôi đang chạy thoải mái và dễ dàng theo kịp những người chạy xung quanh mình. Quá trình chuyển đổi kéo dài qua ngọn núi hoang dã Granite Chief dọc theo sườn núi đổ xuống có rất nhiều tảng đá, nơi đặt chân khó, các đoạn uốn lượn dích dắc của đường mòn và các đoạn rẽ trơn trượt. Trong hai lần thử thách trước đây của tôi ở cuộc đua Western, tôi đã đến Robinson Flat, trạm cứu hộ đầu tiên cách vạch xuất phát khoảng 30 dặm, lúc đó tôi thấy đau đớn và kiệt sức. Nhưng năm nay tôi thấy ổn.
Vì vậy, tôi tiến vào đoạn tiếp theo của cuộc đua, các hẻm núi sâu đáng sợ nằm giữa khoảng 30 tới 60 dặm, trông chúng khá vui mắt. Nhưng sau đó không khí trở nên nóng bức, chắc phải hơn 100 độ F. Đầu óc tôi bắt đầu quay cuồng với những dòng suối, xô chậu, miếng bọt biển, máng ngựa, hố bùn mà tôi bắt gặp. Ở dưới cùng của hẻm núi Deadwood, ngay trước đoạn trèo lên của ngọn Devil’s Thumb, tôi lao thẳng xuống chỗ con sông xuất hiện đầy bất ngờ ở gần đó. Dọc theo bờ con sông ấy trông như một bữa tiệc trên bờ biển. Các vận động viên duỗi dài trên những tảng đá, chân ngập trong nước. Một số người đã lội hẳn xuống và để mình chìm hẳn vào trong nước. Tôi quỳ xuống và dùng mũ múc nước đổ lên đầu. Dòng nước lạnh giống như một liệu pháp sốc.
Khi cơn nóng bức đã hạ xuống, tôi bắt đầu hành trình leo lên ngọn Devil’s Thumb. Nóng bức và hành hạ như vậy, lần trèo núi này thực ra lại tốt cho tôi. Tôi đã vượt qua những người dừng lại, đầu cúi xuống, tay đặt lên đầu gối để hạ nhiệt trong chốc lát. Một anh chàng vượt qua chỗ tôi, nhưng lúc này tôi có thể tiếp tục bắt kịp cuộc hành quân lên đỉnh ngọn núi. Chậm nhưng chắc chắn, tôi thong thả mà bền bỉ chạy qua những hẻm núi nóng bỏng. Buổi chiều trôi qua, tôi đã thong thả vào Foresthill, dặm thứ 62, nơi tôi đã bỏ cuộc khi lần đầu tiên tham gia cuộc đua này.
Tại Foresthill, tôi đón người dẫn tốc của mình, chúng tôi đi ra khỏi thành phố, xuống hẻm núi phía trên ngã ba sông American. Dường như tôi đã đi vào khu vực mà tâm trí mình tràn ngập những bài hát của ban nhạc The Doors. Tôi không buồn lựa chọn bài hát hay điều chỉnh âm lượng. Tâm trí tôi như đang trên máy bay ở chế độ lái tự động. “Thôi nào, em yêu, hãy thắp sáng ngọn lửa của anh, đốt cháy màn đêm...” “Mọi người đều lạ khi em xa lạ...” “Anh là một người đàn ông sau hậu trường...” “Đây là kết thúc, người bạn thật sự của tôi, kết thúc...” Âm nhạc trong đầu tôi ồn ào đến mức tôi nghĩ người dẫn tốc của tôi có thể nghe thấy nó. Các trạm cứu trợ liên tục hiện ra từ trong bóng tối như các quán bar rẻ tiền trên những con đường đổ nát và sau đó biến mất đằng sau chúng tôi như những người tình bị bỏ rơi. Bây giờ không khí đã mát mẻ. Chúng tôi đã xuống bờ sông, và tôi có thể nghe thấy tiếng nước chảy bên cạnh mình.
Dòng sông chảy qua Rucky Chucky trông giống như một cảnh trong bộ phim Apocalypse Now, ánh sáng lập lòe kỳ lạ còn mọi người thì đi chệnh choạng như những thây ma. Tôi thực sự thích toàn bộ quá trình băng qua sông và ngồi ở phía đằng xa, thay quần áo và ngấu nghiến thức ăn. Nó phá vỡ hoạt động chạy liên tục. Dọc theo phần còn lại của đoạn đường mòn Auburn Lakes Trail, tôi xoay xở để chống lại cơn buồn ngủ và kiệt sức, điều đó giúp tôi tới được Brown’s Bar ở dặm thứ 90, tôi biết mình đã tự do như ở nhà. Tất cả sự kiệt quệ của tôi đã giảm đi khi ánh sáng được bật lên và tôi tiếp cận được xa lộ 49 chỉ cách vạch đích 7 dặm. Cơ thể tôi trôi bồng bềnh trên đoạn đường cuối cùng, choáng váng nhận ra rằng sẽ khó có thể cảm thấy thoải mái khi kết thúc cuộc đua 100 dặm.
Khi tới sân vận động Placer High School ở Auburn, tôi chạy quanh đường chạy và hoàn thành cuộc đua trong 27 giờ, 13 phút. Kết quả này sớm hơn một giờ so với mục tiêu tôi đặt ra cho bản thân mình và gần hai tiếng rưỡi so với lần về đích trước đây của tôi ở cuộc thi này. Đó là một khoảnh khắc tuyệt vời, nhưng sau đó nó đột nhiên biến mất. Vợ tôi đã ở đó, sau khi để mọi thứ lắng xuống, cô ấy nói: “Robert đã không hoàn thành cuộc đua.”
Tôi choáng váng. Chúng tôi đã cùng hợp tác với nhau từ đầu cuộc đua, nhưng sau đó tôi chạy trước một lúc. Điều đó làm chúng tôi tách ra khi tới Michigan Bluff ở dặm thứ 55, nhưng tôi đã nhìn thấy cậu ấy đến đó ngay khi tôi vừa rời khỏi. Cậu ấy chỉ còn cách Foresthill có vài phút. Ở xa lộ 49, tôi nghe nói cậu ấy mất thêm chút thời gian để vượt sông, nhưng cậu ấy đã vượt qua và tiếp tục. Tôi nhận ra mọi thứ đã xuống dốc từ đó. Dạ dày không ổn khiến cậu ấy ăn không đủ no. Thiếu năng lượng làm cậu ấy chạy chậm lại trong đêm. Tại trạm Auburn Lake Trails, cậu ấy đã tính toán với người dẫn tốc rằng cậu ấy sẽ không thể kết thúc được cuộc đua, vì vậy cậu ấy bỏ cuộc ở đó. Tôi đã mất đi một người bạn đồng cam cộng khổ.
***
Chúng tôi ai đi về nhà nấy, trong ba ngày tôi không nghe được tin tức gì của Robert. Sau đó cậu ấy gửi cho tôi một email. Cậu ấy lấy làm tiếc vì không thể giúp tôi vượt qua phần còn lại của Grand Slam, bởi vì, cậu ấy viết: “Tôi sẽ tự mình tham gia các cuộc đua đó và cố gắng đánh bại anh ở vạch đích.” Vậy là cậu ấy sẽ tiếp tục tham gia ba cuộc đua còn lại dù cậu ấy đã lỡ mất cơ hội hoàn thành Grand Slam. Tôi băn khoăn không biết phải phản ứng thế nào ở cương vị của mình. Rất có thể tôi sẽ lại tốn thời gian nghĩ ngợi và chuẩn bị cho những cuộc đua khác. Robert thì không.

Băng qua sông ở Rucky Chucky tại cuộc đua Western States.
VERMONT
Khó mà mô tả được vẻ lạ lùng ở Vermont bang California. Vùng bờ biển trung tâm bao quanh Monterey là những ngọn đồi xanh và hoa dại vào đầu mùa xuân, nhưng vào mùa hè, nơi này trở thành bán sa mạc, ít mưa. Cây cối trổ hạt và chết đi. Những ngọn đồi chuyển sang màu nâu. Những hồ ven sông và ao khô cạn, đất đai nứt nẻ. Khi chúng tôi đến Vermont, từ trên máy bay nhìn xuống trông giống như chúng tôi đã đến Amazon. Mọi thứ đều màu xanh. Mọi thứ đang phát triển. Các cánh đồng tươi tốt bởi những bụi cỏ mọc dày đặc. Cây cối được che phủ bởi những tán lá rộng và khỏe khoắn.
Hai cuộc đua này, Western States và Vermont cũng là một nghiên cứu trái ngược. Đường đua Western States đi qua những ngọn núi gập ghềnh và các hẻm núi bị cô lập. Dấu hiệu về một nền văn minh không đồng đều, nơi giàu nơi nghèo, ở Vermont là chân những ngọn núi xanh thấp và nhấp nhô. Những trang trại nằm rải rác dọc theo các con đường nông thôn. Các căn lều nhô lên khỏi rừng ở mỗi đoạn rẽ. Những bức tường đá nằm dọc hai bên đường. Western đi qua những tàn tích đổ nát của thời đại người ta đổ xô đi tìm vàng - những nghĩa trang bị bỏ hoang trong rừng thẳm, thiết bị khai thác mỏ hoen gỉ. Ở Vermont, các nhà thờ bằng đá, những cây cầu có mái che, cây xanh trong làng và những ngôi nhà kiểu liên bang gợi lên thời kỳ đầu của nước Mỹ và quá khứ thuộc địa. Western là những mỏ vàng thợ rừng. Vermont chỉ toàn những nông dân chăn nuôi bò sữa và chủ nhà trọ.
Robert và tôi ngồi trong phòng khách sạn của chúng tới ở Woodstock, nghịch ngợm đồng hồ báo thức và vào việc khi chúng tôi cần đứng dậy. Cuộc đua bắt đầu lúc bốn giờ sáng. Chúng tôi sẽ mất khoảng một giờ để chuẩn bị và sẵn sàng. Chúng tới chừa lại nửa giờ nữa để lái xe phòng khi bị lạc, đó là một vấn đề thực tế, chúng tôi đã làm như vậy. Chúng tôi đặt báo thức bằng hai cái đồng hồ, một cái theo giờ phía Đông, cái kia chỉ 11 giờ theo giờ Thái Bình Dương, là thời gian của chúng tôi. Cả hai chúng tôi đều không hề chợp mắt.
Cuộc đua được bắt đầu với bản nhạc Chariot of Fire chơi trên đàn piano điện cùng với tiếng nổ của pháo hoa trên đầu. Nhưng sự phấn khích nhanh chóng tiêu tan khi chúng tôi bước vào một khu rừng tăm tối và con đường lầy lội dưới chân đầy ánh đèn pin lập lòe. Gần chỗ chúng tôi, sương mù bao phủ. Hơi thở của tôi vang vọng trong đầu tôi. Những con đường mòn đầu tiên nhường đường cho những con đường làng nối với các bức tường đá đổ nát và những cánh rừng cây phong. Sương mù lơ lửng trên những ao vịt cạnh con đường, nơi những cây hương bồ ôm lấy bờ và đám ếch đang kêu gọi bạn tình. Tôi theo dõi tình trạng chân mình và băn khoăn rằng liệu mình có kiệt sức vì thiếu ngủ và nỗ lực chạy 100 dặm lần thứ hai có đánh gục tôi trong đoạn đầu của cuộc đua không, nhưng mọi thứ đều bình thường.
Bởi vì khởi đầu sớm, nên có vẻ như đến đầu buổi chiều thì chúng tôi đã chạy được khá lâu. Thời tiết đã ôn hoà hơn. Chuẩn bị cho nhiệt độ và độ ẩm, tôi tiếp tục nhìn lên một cụm mây vỡ đang che chắn ánh nắng mặt trời. Chúng tôi đang có một kỳ nghỉ thực sự ở đây. So với Western, chúng tôi giống như đang chạy ở Bắc Cực.
Ở mốc 60 dặm của cuộc đua, tôi đã suy nghĩ một cách nghiêm túc. Không có gì lớn xảy ra cả. Tôi đã xử lý hàng trăm thứ theo trật tự. Như thể việc tôi sẽ vượt qua cuộc đua Vermont là chuyện hiển nhiên. Nhưng quan trọng hơn, lần đầu tiên kể từ khi đồng ý tham gia giải Grand Slam, tôi cảm thấy như mình đã cố gắng làm được điều gì đó. Tôi đã cẩn thận luôn kiểm soát để giữ được sự lạc quan đó vì sợ ăn quá nhiều thịt đỏ sẽ khiến cho “con quái vật thất vọng” luôn rình rập tôi ở khó khăn tiếp theo. Nhưng giờ đây hy vọng đang tuôn ra khỏi tôi giống như bọt bắn ra từ soda.
Được khoảng 90 dặm, chúng tôi leo lên một con đường đã được khéo léo đặt tên là Blood Hill. Dọc theo đoạn trèo lên, những cây gậy phát sáng vẫy gọi từ trên cao như những ngôi sao xa xăm. Dặm cuối cùng ngoằn ngoèo dọc theo sườn đồi xuyên qua rừng, đường mòn liên tục thay đổi hết trồi lên lại thụt xuống. Bàn chân và mắt cá chân của tôi ngày càng đau. Tôi cho rằng đó là kết quả của việc chạy liên tục trên mặt đường cứng vốn đang rất phổ biến ở cuộc đua ở Vermont. Điều tương tự đã từng xảy ra với tôi cách đây một năm ở Kansas, trong một cuộc đua mà phải chạy rất lâu trên những con đường đất khô cứng và những con đường mòn đầy đá. Nhưng một cơn đau mắt cá chân không đáng kể sẽ không làm giảm bớt tinh thần đang bay bổng của tôi. Tôi chỉ còn một vài dặm là tới đích cuộc đua, và tôi mới chạy trong khoảng 22 giờ. Có vẻ như tôi sẽ đoạt được chiếc khóa lưng bạc dành cho người về đích trong vòng chưa tới 24 giờ.
Tôi thong dong về vạch đích trước một chuồng ngựa lớn. Dường như không ai chú ý đến tôi như một người địa phương được yêu mến vừa mới về đích. Tôi bước vào chuồng ngựa và ngồi xuống chiếc ghế đầu tiên. Ai đó, một người xa lạ, khoác một chiếc chăn dành cho ngựa lên vai tôi. Ngay sau 4 giờ sáng, không khí lạnh ùa tới trước bình minh. Tôi khó có thể tin được mình vừa vượt qua Vermont. Một nửa Grand Slam đã xong.
Robert tìm được tôi một vài giờ sau đó, khi tôi nhanh chóng ngủ vùi phía sau chiếc xe thuê của chúng tôi. Cậu ta nói với tôi rằng cậu ta bỏ cuộc khi chỉ còn cách đích mười dặm. Tôi đã ngã bổ nhào khi nhận ra cậu ta đang đùa. Cậu ta kéo tôi đi một lúc rồi mới nói cho tôi sự thật. Thực ra, cậu ấy hoàn thành cuộc đua trong 25 giờ 40 phút. Đó là thành tích cá nhân 100 dặm tốt nhất của cậu ta, vậy là cả hai chúng tôi đều đàng hoàng vượt qua Vermont.
TUA LẠI LEADVILLE
Gần bốn tuần sau đó, tôi lại đứng trong phòng tập thể dục ở Đường số 6 tại Leadville, bang Colorado, chờ đợi những lời động viên nổi tiếng của Chlouber. Bill Finkbeiner đứng phía trước căn phòng, cho con trai anh ta xem chiếc thắt lưng được thiết kế rất đặc biệt mà anh ta dự kiến sẽ mang về nhà sau khi hoàn thành cuộc đua Leadville trong lần thứ hai mươi liên tiếp. Nó to như một cái đĩa dùng trong bữa tối. Cuộc đua đã được 21 tuổi vào thời điểm đó. Finkbeiner đã được mời đến cuộc đua đầu tiên nhưng anh đã từ chối.
Chlouber đã ngừng những lời thường lệ để giới thiệu một người trong đám đông: “Giờ đây là một người đàn ông, người đã nâng tầm tính bền bỉ,” Chlouber tiếp tục. “Vâng thưa các quý ông, quý ông này đơn giản chỉ là hòn đá lâu năm của Leadville, là da ngựa bền bỉ.” Sau đó ông yêu cầu Aron Ralston đứng dậy. Đó là người cách đây một hai tháng đã bị kẹt vào một tảng đá, người ta phải cắt đi cánh tay để cứu mạng anh ta. Hôm đó là trước khi cuốn sách và bộ phim có James Franco thủ vai được trình chiếu, nhưng mọi người trong phòng tập đều đã được nghe câu chuyện này. Aron còn trẻ và đẹp trai. Anh đứng dậy, mỉm cười và vẫy tay rất tự nhiên. Một cánh tay giả mới được gắn vào vai anh. Kế hoạch này để anh ấy khởi động trong năm nay và sau đó sẽ chạy đua vào năm sau. Khi những tràng hoan nghênh nhiệt liệt cuối cùng cũng lắng xuống, Chlouber nói: “Vì vậy, khi bạn ra ngoài đó vào nửa đêm, bạn sẽ bắt đầu kêu ken két...”
Ngay trước năm giờ sáng hôm sau, Robert và tôi đang đứng với 500 vận động viên khác ở góc Đường số 6 và Harrison. Tôi rút găng tay và đeo vào. Tôi buộc vòng an toàn của đèn pin quanh cổ tay. Còn năm phút nữa bắt đầu, tôi tiến gần lại tấm biểu ngữ ở vạch xuất phát. Tôi không bình tâm được, nhưng sau đó tôi cũng không sợ hãi. Đây là khởi đầu thứ ba của chúng tôi trong mùa hè này. Tôi đã ý thức rõ rằng sự kiên nhẫn là điều bắt buộc. Không có chuyện gì lớn xảy ra trong 10 đến 12 giờ tới. Sau đó chúng tôi sẽ giao chiến với quái vật.
Tiếng súng ngắn vang lên xua chúng tôi tràn xuống Đường số 6, và ngay lập tức tôi mất dấu Robert trong hàng người điên cuồng tràn ra khỏi thị trấn. Tôi đã dành thời gian điều chỉnh bước chạy của mình và quen dần khi xuống phố đại lộ hướng tới hồ Turquoise. Khi chúng tôi tới được đường mòn bên cạnh hồ, tôi đã chạy thoải mái, thậm chí còn di chuyển lên trước các vận động viên đã chạy quá nhanh và đang phải giảm tốc độ. Điều ngạc nhiên duy nhất là tôi thấy hơi đau ở trước hai mắt cá chân. Tôi nhận ra sự đau đớn như một tiếng vọng của vấn đề mà tôi đã gặp phải trong mười dặm cuối ở Vermont. Cả hai mắt cá chân của tôi sau đó khá đau, nhưng cơn đau này đã biến mất tăm sau cuộc đua và không có vấn đề nào về chạy bộ còn cản trở tôi trong bất kỳ hoạt động nào suốt bốn tuần trước khi cuộc đua Leadville diễn ra. Tôi đã hoàn toàn quên được cơn đau ấy. Được rồi, tôi nghĩ, tôi sẽ để kích thích nhỏ này tiếp tục như vậy. Chuyện lớn rồi đây. Cơn đau là bạn của tôi. Bền bỉ và quyết tâm. Vì Chúa, hãy nghĩ về Aron Ralston! Tôi bắt đầu phác đồ sử dụng thuốc giảm đau sớm hơn một chút so với kế hoạch và loại nó ra khỏi đầu.
Chúng tôi tới May Queen sau hai tiếng rưỡi, tôi cảm thấy nhẹ nhõm khi thấy mình đã đúng với kế hoạch đề ra. Sau khi ăn một chút, đổ đầy bình nước, tôi tiến lên đường mòn Colorado tới đèo Sugarloaf. Tôi nhớ đã vật lộn với con đường lên đèo vào năm ngoái. Năm nay, tôi đã vượt qua cùng một đoạn đường với những quãng đi bộ ngắn và những quãng chạy dài, hình dung rằng tôi đã dành được thời gian đề phòng bất trắc. Tại Hatchery Fish, tôi thực sự đã đi trước lịch trình! Điều này có thực sự xảy ra không? Tôi tự hỏi chính mình.
Phần tiếp theo của cuộc đua từ Fish Hatchery tới Halfmoon lại khiến tôi bất ngờ. Nằm gần đầu cuộc đua, nó có vẻ như một con đường lát đá bằng phẳng vòng theo lòng một thung lũng ở đoạn thấp nhất của cuộc đua chỉ nhẹ nhàng như một cơn gió. Nhưng tôi vẫn còn trên độ cao 9.000 feet, độ cao đang ảnh hưởng tới tôi, và nó tác động tới hầu hết những người liều lĩnh vốn sống ở độ cao ngang mực nước biển và không dành ba tuần sống ở Leadville trước cuộc đua. Tôi quyết định đã đến lúc thực hiện một số ma thuật của suy nghĩ tích cực. Vì vậy tôi chọn một người đang chạy chậm nhưng đều đặn, nép sau lưng anh ta, tưởng tượng tôi đang hút năng lượng từ anh ta. Nó đã hiệu quả. Không bị lỡ kế hoạch của mình, tôi đã đến được Halfmoon trước thời hạn và tiến vào ngay trên đường mòn quanh co tới Twin Lakes.
***
Sau Twin Lakes là đoạn quan trọng để leo lên đèo Hope. Tôi hòa vào một nhóm đang tiến lên đều đặn với một tốc độ phù hợp với tôi. Một cơn mưa bất chợt khiến mọi người dừng lại khi chúng tôi vật lộn với thiết bị dùng trong mưa của mình. Khi lên cao hơn, một sô tia sét hỗn loạn xẹt xuống gần chúng tôi hơn là tôi nghĩ, nhưng ý nghĩ bị sét đánh có lẽ lại hữu ích khi tôi muốn đẩy những lo ngại về đôi chân đau và mệt mỏi của mình ra khỏi tâm trí. Một năm trước, cũng cuộc leo núi này đã đánh bại tôi. Năm nay, cuộc leo núi này là lời xác nhận: Tôi đã thực hiện cuộc đua rất hiệu quả.

Dòng suối có nhiều nhánh rẽ trong dãy núi Rocky.
Tại Winfield - nửa đường - thời gian đã qua của tôi chỉ là hơn 12 giờ một chút. Điều này tốt hơn nhiều so với những gì tôi đã xoay xở vào năm ngoái. Có nghĩa là tôi có hơn 17 giờ để quay về vạch đích. Đó là một phép lạ. Tôi có thể bò trở lại với khoảng thời gian đó. Thật không thể tin được! Tôi có thể ôm hôn Robert Josephs ngay lúc này, tôi nghĩ thế. Thật là một ý tưởng tuyệt vời để giải quyết Grand Slam năm nay! Điểm dừng tiếp theo, Wasatch, và sau đó tôi sẽ được nâng chiếc cúp hình đại bàng lớn qua đầu trong tiếng vỗ tay vang dội.