Địa Hải Lục Bộ Khúc 6: Địa Hải Kỳ Phong

Lượt đọc: 64 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tiết 1

❊ ❊ ❊

Khi Xích Dương đến bến tàu, thuyền "Viễn Tường" vẫn đang đậu bên cảng để bốc dỡ gỗ, nhưng chàng biết mình từ lâu đã nằm trong sổ đen của con thuyền ấy. Chàng bước về phía con thuyền buôn ven bờ cũ kỹ mang tên "Bông Hồng Đẹp" đang neo đậu bên cạnh.

Chim Cắt đã trao cho Xích Dương một phong thư thông hành, trên đó có chữ ký của nhà vua, được niêm phong bằng phù văn Hòa Bình. "Lê Bạch Nam gửi tới, để dùng phòng khi ta đổi ý." Lão nhân nói, hừ một tiếng: "Nó sẽ có ích cho ngươi." Thuyền trưởng bảo viên quản sự đọc to bức thư, nghe xong liền tỏ thái độ cung kính vô cùng, rối rít tạ lỗi vì khoang thuyền chật hẹp và chuyến hải trình dằng dặc. "Bông Hồng Đẹp" quả thực muốn hướng về Hupunor, nhưng vì kinh doanh buôn bán ven bờ, phải ghé vào từng bến cảng để trao đổi hàng hóa, có thể phải mất đến một tháng mới vòng qua bờ đông nam của Đảo Lớn để cập bến vương thành.

Xích Dương tỏ ý không bận lòng——chuyến hải trình này tuy đáng sợ, nhưng chàng càng sợ đích đến hơn.

Từ lúc trăng non đến khi trăng bán nguyệt, chuyến đi trên biển là một quãng thời gian yên bình. Mèo con lông xám là một hành khách chịu thương chịu khó, ngày ngày bận rộn bắt chuột trên thuyền, nhưng đến đêm đều trung thành rúc vào cằm Xích Dương hoặc nơi trong tầm tay với của chàng. Một sinh linh bé nhỏ ấm áp nhường ấy lại có thể giúp chàng tránh xa bức tường đá cùng những thanh âm gọi mời bên kia bức tường, điều đó không ngừng khiến chàng ngạc nhiên. Không phải là ngăn cách hoàn toàn, cũng chẳng thể hoàn toàn quên lãng, bóng ma vẫn ở bờ bên kia, chỉ cách một lớp màn mỏng manh của giấc ngủ đêm, hoặc ánh sáng ban ngày. Trong những đêm ấm áp ngủ trên boong, Xích Dương thường mở mắt nhìn các vì tinh tú đung đưa, chao đảo theo con thuyền đang thả neo, ánh mắt chàng dõi qua vòm trời, dừng lại ở chuyến hành trình phía tây. Dù vẫn bị quỷ mị đeo bám, nhưng trong nửa tháng mùa hạ xuôi theo bờ biển Ebbon, Barnisk và Đảo Lớn này, chàng đã có thể quay lưng lại với lũ cô hồn.

Mấy ngày liền, mèo con đều săn đuổi một con chuột to gần bằng chính nó. Nhìn mèo con kiêu hãnh và nhọc nhằn kéo lê cái xác qua boong tàu, một thủy thủ đã đặt tên cho nó là "Tiểu Tha". Xích Dương đón nhận cái tên này.

Vượt qua eo biển Ebbon, băng qua họng vịnh Hupunor, lướt trên mặt biển lấp lánh ánh vàng, ngọn tháp trắng của thành phố trung tâm thế giới dần dần hiện ra từ cõi sương mù xa xăm. Khi thuyền tiến vào cảng, Xích Dương đứng nơi mũi thuyền, thấy một tia sáng bạc lóe lên trên đỉnh ngọn tháp cao nhất——đó là thanh kiếm của Erreth-Akbe.

Giờ đây Xích Dương lại mong mình có thể ở lại trên thuyền tiếp tục giương buồm, chẳng cần lên bờ, chẳng phải bước vào đại thành, chẳng phải chen chúc giữa những bậc quyền quý với phong thư cần dâng lên quốc vương. Xích Dương biết mình không phải kẻ đưa thư thích hợp, cớ sao gánh nặng nhường này lại đè nặng lên vai chàng? Một gã thuật sĩ thôn dã chẳng hề hay biết gì về những sự việc vĩ đại cùng pháp nghệ thâm sâu như chàng, sao lại được chọn để vượt qua hết đại lục này đến đại lục khác, từ diện kiến pháp sư đến bái kiến quốc vương, từ cõi dương thế bước vào cõi âm ty?

Trước đó, Xích Dương từng bày tỏ nỗi lòng tương tự với Chim Cắt: "Mọi chuyện vượt quá tầm hiểu biết của con." Lão nhân nhìn Xích Dương một hồi, rồi gọi chân danh của chàng: "Hurry, thế giới bao la, không điều kỳ dị nào là không có, nhưng vĩnh viễn chẳng thể vượt qua sự bao la và kỳ diệu của tâm trí. Thỉnh thoảng hãy ngẫm nghĩ câu này."

Phía sau thành phố, sắc trời chuyển sang màu tím đen u ám vì một cơn mưa bão nơi nội lục, càng làm tôn lên vẻ trắng buốt nhức mắt của tòa cao tháp, hải âu lượn quanh bên trên tựa như những đốm tàn lửa bay lơ lửng.

"Bông Hồng Đẹp" hạ neo, bắc ván cầu. Xích Dương đeo tay nải bước xuống thuyền, các thủy thủ chúc chàng may mắn. Nhấc chiếc giỏ vốn dùng để nhốt gà mái đã được đậy kín, Tiểu Tha đang kiên nhẫn nép bên trong, Xích Dương bước lên bờ.

Đường phố chằng chịt đông đúc, nhưng đại lộ dẫn tới vương cung lại vô cùng bắt mắt. Xích Dương lúng túng chẳng biết làm sao, đành đi đến vương cung, nói rằng mình mang theo một bức thư của Đại Pháp sư Chim Cắt gửi cho quốc vương.

Chàng phải nói đi nói lại điều đó hết lần này đến lần khác.

Hết thị vệ này đến quan viên khác, từ bậc thềm thênh thang bên ngoài vương cung, đến sảnh phụ cao vút, rồi cầu thang tay vịn mạ vàng, đến các văn phòng nội sảnh treo đầy gấm vóc; bước qua sàn lát gạch men, sàn cẩm thạch, sàn gỗ sồi, đi qua đủ kiểu trần nhà khảm hoa văn, đòn tay đan chéo, rui mè uốn lượn, chạm trổ rực rỡ, Xích Dương không ngừng lặp lại câu bùa hộ mệnh, nhất quyết không chịu giao thư ra: "Tôi phụng mệnh cựu Đại Pháp sư Chim Cắt, mang thư đến cho quốc vương." Những lính gác, thị tòng, triều thần quan viên đầy vẻ ngờ vực, thoáng chút vô lễ, vờ vĩnh ân cần, đưa đẩy quanh co, mang ý đồ ngăn trở, cứ tụ tập thành từng nhóm quanh chàng, bám theo, cản trở bước chân chậm chạp của chàng trên đường tiến vào hoàng cung.

Bất thình lình, tất cả mọi người đều biến mất không còn tăm hơi. Một cánh cửa mở ra, rồi khép lại sau lưng chàng.

Xích Dương đứng một mình trong căn phòng tĩnh mịch, một ô cửa sổ rộng nhìn về phía mái nhà hướng tây bắc. Mây đen đã tan, đỉnh núi xám trắng mênh mông của núi Ebbon lơ lửng phía trên những rặng núi xa xăm.

Lại một cánh cửa nữa mở ra. Một nam tử bước vào, toàn thân vận hắc y, trạc tuổi Xích Dương, cử chỉ mau lẹ, ngũ quan anh tuấn, cương nghị, gương mặt nhẵn nhụi không tì vết như tượng đồng. Người đó đi thẳng về phía Xích Dương: "Xích Dương đại nhân, ta là Lê Bạch Nam."

Lê Bạch Nam đưa tay phải ra, chạm lòng bàn tay vào tay Xích Dương theo tập tục đảo Ea và đảo Enlad. Xích Dương theo phản xạ đáp lại động tác quen thuộc, đoạn mới sực nhớ ra mình nên quỳ gối hoặc chí ít là cúi đầu hành lễ, nhưng dường như đã quá muộn để làm vậy. Chàng đứng trơ ra đó, ngây như phỗng.

"Ngươi từ chỗ chủ nhân Chim Cắt của ta tới sao? Chim Cắt đại nhân thế nào? Người vẫn bình an chứ?"

"Vâng, bệ hạ. Đại nhân bảo thảo dân dâng lên ngài..." Xích Dương vội vàng rút phong thư trong áo khoác ra——vốn dĩ chàng định đợi đến khi được dẫn vào đại điện nơi quốc vương ngự trên ngai vàng mới quỳ dâng lên——"Bức thư này, thưa bệ hạ."

Xích Dương rốt cuộc cũng nhớ ra phải cúi đầu. Quốc vương bước đến bên cửa sổ đọc thư.

Lê Bạch Nam đọc ít nhất hai lần, sau đó gấp thư lại, thần sắc vẫn khó dò như trước. Chàng bước đến bên cửa, dặn dò vài câu ra bên ngoài, rồi quay lại bên Xích Dương. "Mời," quốc vương nói, "mời ngồi cùng ta. Họ sẽ mang chút đồ ăn tới. Ta biết ngươi đã ở trong cung suốt buổi chiều, nếu đội trưởng cấm vệ nơi cổng thành có chút đầu óc, biết sai người truyền tin, thì đã đỡ cho ngươi bao nhiêu công sức, khỏi phải trèo đèo lội suối qua những bức tường thành và hào sâu vây quanh ta thế này... Ngươi ở tại nhà của chủ nhân Chim Cắt sao? Căn nhà nằm nơi bờ vực thẳm ấy à?"

"Vâng."

"Ta ghen tị với ngươi đấy. Ta chưa từng đến đó. Kể từ khi chúng ta chia tay ở Roke nửa đời người trước, đến nay vẫn chưa từng gặp lại. Đại nhân không cho ta tới Gont tìm người." Lê Bạch Nam mỉm cười, dường như mọi điều chàng nói đều nhẹ tựa lông hồng. "Vương quốc của ta là do đại nhân ban tặng."

Lê Bạch Nam vừa ngồi xuống, vừa gật đầu với Xích Dương, ra hiệu cho chàng ngồi vào chiếc ghế đối diện chiếc bàn nhỏ. Xích Dương nhìn mặt bàn khảm ngà voi và bạc, chạm khắc hoa lá cây thanh lương trà quấn quanh một thanh trường kiếm thanh mảnh.

"Chuyến đi có thuận buồm xuôi gió không?" Quốc vương hỏi, nhân lúc người hầu bưng thịt nguội, cá hồi hun khói, rau sống, phô mai lên mà chuyện trò việc nhà. Chàng ăn uống ngon lành để Xích Dương thấy tự nhiên dùng bữa, đồng thời rót thứ rượu màu vàng cực nhạt như hoàng ngọc vào chiếc ly pha lê. Chàng nâng ly: "Kính chủ nhân và người bạn chí cốt của ta."

Xích Dương lẩm bẩm: "Kính ngài." Đoạn uống cạn.

Quốc vương nhắc tới chuyện ghé thăm đảo Taon mấy năm trước——Xích Dương vẫn nhớ sự náo động mà quốc vương gây ra ở Meoni; chàng cũng nhắc đến một số nhạc sĩ Taon hiện đang ở trong thành tấu nhạc cho cung đình, bao gồm cả những nghệ sĩ thụ cầm và ca sĩ mà Xích Dương có thể quen biết vài người, những cái tên quốc vương nhắc tới quả thực nghe rất quen tai. Quốc vương rất giỏi khiến khách khứa cảm thấy thoải mái tự nhiên, đồ ăn và rượu ngon hiển nhiên cũng góp công không nhỏ.

Hai người dùng bữa xong, quốc vương lại rót thêm nửa ly rượu cho mỗi người rồi nói: "Bức thư này chủ yếu nói về ngươi. Trước đây ngươi có biết không?" Giọng điệu chàng chẳng khác gì lúc chuyện trò việc nhà vừa rồi, Xích Dương nhất thời chưa kịp phản ứng.

"Thảo dân không biết." Xích Dương đáp.

"Có lẽ biết nội dung thư liên quan đến điều gì chăng?"

"Có lẽ là giấc mơ của thảo dân." Xích Dương nói, giọng trầm xuống, cúi đầu nhìn mặt đất.

Quốc vương quan sát Xích Dương một thoáng, ánh mắt không hề khiến người ta phản cảm, nhưng lại thẳng thắn và bộc trực hơn hầu hết mọi người. Chàng cầm bức thư lên, đưa cho Xích Dương.

"Bệ hạ, thảo dân không biết nhiều chữ."

Lê Bạch Nam không hề ngạc nhiên——có những thuật sĩ biết đọc, có người lại không; nhưng chàng rõ ràng rất hối hận vì đã khiến khách thấy tự ti, làn da màu đồng ánh vàng bỗng đỏ ửng, chàng nói: "Thứ lỗi cho ta, Xích Dương. Ta có thể đọc bức thư này cho ngươi nghe được không?"

"Xin bệ hạ cứ đọc." Xích Dương nói. Sự bối rối của quốc vương trong khoảnh khắc đã khiến Xích Dương cảm thấy mình ngang hàng với vua, lần đầu tiên chàng cất lời đáp một cách tự nhiên và nhiệt thành.

Lê Bạch Nam lướt qua những lời cung kính mở đầu cùng vài dòng nội dung trong thư, rồi cất giọng đọc to:

"'Người mang phong thư này đến cho con là Xích Dương của đảo Taon, trong giấc mộng bất đắc dĩ bị triệu gọi đến nơi mà hai ta từng cùng nhau bước qua. Hắn sẽ kể cho con nghe về mọi đau đớn nơi nỗi đau lụi tàn, cùng những biến dời phát sinh nơi chốn bất biến. Chúng ta đã đóng lại cánh cửa do Cob mở ra, giờ đây, có lẽ chính bức tường sắp sửa sụp đổ. Xích Dương đã tới Roke, chỉ có Azver lắng nghe lời hắn, ta nghĩ bệ hạ sẽ lắng nghe và hành động theo sự dẫn lối của trí tuệ và nhu cầu. Xích Dương sẽ thay ta gửi đến bệ hạ sự tôn kính và phục tòng trọn đời, cũng như gửi tới Điềm Na sự tôn kính và thương nhớ trọn đời của ta, đồng thời mang một lời nhắn tới con gái yêu quý Điềm Cáp Nỗ của ta.' Đoạn cuối đại nhân ký tên bằng phù văn đảo Taon." Lê Bạch Nam dời mắt khỏi trang thư, nhìn thẳng vào Xích Dương, bắt lấy ánh mắt chàng. "Hãy kể cho ta nghe giấc mơ của ngươi." Lê Bạch Nam nói.

Xích Dương bèn thuật lại câu chuyện của mình một lần nữa.

Câu chuyện ngắn gọn, nhưng chẳng mấy trôi chảy. Dù Xích Dương cũng tràn đầy kính sợ trước Chim Cắt, song cựu Đại Pháp sư từ diện mạo, y phục cho đến lối sống đều giống như một lão dân làng hay một nông phu, cùng một tầng lớp với Xích Dương, bình đẳng ngang hàng, sự giản dị ấy đã làm vơi bớt vẻ e thẹn ngoài mặt của Xích Dương; thế nhưng dẫu Lê Bạch Nam có tỏ ra hòa nhã, lịch thiệp đến đâu, trông chàng vẫn giống một vị vua, cử chỉ như một vị vua, và chàng đích thực là vua, khiến Xích Dương cảm thấy một khoảng cách khó bề san lấp. Xích Dương kể xong thật nhanh, an lòng dừng lời.

Lê Bạch Nam hỏi vài câu: Bách Hợp và Bồ Nông mỗi người chỉ chạm vào Xích Dương một lần, sau đó không hề chạm vào nữa sao? Và cái chạm của Bồ Nông có cảm giác như thiêu đốt?

Xích Dương chìa tay ra. Dưới làn da rám nắng suốt một tháng qua, vết dấu gần như đã biến mất hoàn toàn.

"Nếu tiến lại gần hơn, những người bên tường có thể sẽ chạm vào thảo dân." Xích Dương nói.

"Nhưng ngươi đứng rất xa?"

"Thảo dân làm vậy."

"Và ngươi không nhận ra những người đó ở chốn nhân gian sao?"

"Đôi khi, thảo dân nghĩ mình có lẽ nhận ra một, hai người trong số họ."

"Nhưng phu nhân không xuất hiện nữa sao?"

"Bệ hạ, nơi đó đông đúc vô cùng. Đôi khi thảo dân cảm thấy thê tử của mình ở đó, nhưng lại không nhìn thấy."

Bàn luận về chuyện này lại khiến nó trở nên quá gần gũi, quá đỗi sát sườn. Xích Dương cảm thấy nỗi sợ hãi lại dâng lên trong lòng, cảm thấy bốn bức tường trong phòng dường như sắp tan biến, bầu trời đêm và đỉnh núi hình vương miện lơ lửng kia như bức màn được kéo lên rồi biến mất, bỏ lại một mình chàng đứng nơi chàng vẫn hằng chôn chân, trên sườn dốc tăm tối bên cạnh bức tường đá.

"Xích Dương."

Xích Dương ngẩng đầu, tâm thần chấn động, đầu óc choáng váng. Căn phòng dường như sáng rực vô cùng, gương mặt quốc vương cương nghị và rõ nét.

"Ngươi bằng lòng ở lại vương cung chứ?"

Đó là một lời mời, nhưng Xích Dương chỉ có thể gật đầu, đón nhận như một mệnh lệnh.

"Tốt lắm. Ngày mai ta sẽ sắp xếp để ngươi chuyển lời nhắn cho Điềm Cáp Nỗ phu nhân. Phu nhân sẽ muốn nói chuyện với ngươi."

Xích Dương cúi đầu. Lê Bạch Nam xoay người rời đi.

"Bệ hạ..."

Lê Bạch Nam quay người lại.

"Thảo dân có thể giữ con mèo bên mình được không?"

Không hề mỉm cười, nhưng cũng chẳng mang ý giễu cợt. "Dĩ nhiên là được."

"Bệ hạ, thảo dân thực lòng lấy làm tiếc vì đã mang đến tin tức khiến ngài phiền muộn."

"Bất kỳ lời nào từ người phái ngươi đến gửi gắm, đối với ta đều là ân huệ, sứ giả cũng vậy. Hơn nữa, ta thà nghe tin dữ từ miệng người thành thật, còn hơn nghe lời dối trá từ kẻ siểm nịnh a dua." Lê Bạch Nam nói, Xích Dương nghe thấy âm hưởng quê hương đích thực từ những lời ấy, lòng chợt nhẹ nhõm hơn đôi phần.

Quốc vương vừa rời khỏi phòng, lập tức có người thò đầu vào từ cánh cửa Xích Dương bước vào ban nãy: "Tiên sinh, xin đi theo tôi, để tôi dẫn ngài về phòng." Người đến đã cao tuổi, phong thái tôn quý, y phục tinh xảo, Xích Dương đi theo sau lưng, hoàn toàn chẳng rõ đây là một quý tộc hay là người hầu, do đó không dám mở lời hỏi chuyện Tiểu Tha. Trước khi vào căn phòng hội kiến quốc vương, các quan viên, thị vệ và thị tòng đã kiên quyết bắt Xích Dương phải để lại chiếc giỏ cho họ trông giữ. Trước đó đã có mươi mười lăm quan viên liếc nhìn đầy nghi hoặc, kiểm tra với vẻ bất mãn, chàng cũng đã giải thích mươi mười lăm lần rằng mang theo mèo là vì trong thành không có chỗ gửi gắm. Xích Dương đã phải đặt chiếc giỏ ở một sảnh phụ rất xa, dọc đường đi tới đây không hề thấy căn phòng đó, giờ đây càng không thể tìm ra, nơi này đã cách nửa tòa hoàng cung, tràn ngập những hành lang, đại sảnh, lối đi, cánh cửa...

Người dẫn đường cúi chào Xích Dương, để chàng lại một mình trong căn phòng nhỏ nhắn hoa lệ, treo đầy gấm vóc, trải kín thảm hoa; có một chiếc ghế đệm thêu hoa văn; một ô cửa sổ hướng ra bến cảng; một chiếc bàn, bên trên bày giỏ trái cây tươi mùa hạ cùng một ấm nước. Thậm chí còn có cả một chiếc giỏ nhốt gà.

Xích Dương mở giỏ ra. Tiểu Tha thong thả bước ra, tỏ vẻ quen thuộc với vương cung. Con mèo vươn vai một cái, ngửi ngửi ngón tay Xích Dương xem như chào hỏi, rồi bắt đầu đi tuần tra khắp phòng. Tiểu Tha phát hiện một hốc tường có rèm che, bên trong đặt một chiếc giường, liền lập tức nhảy tót lên nệm. Cửa phòng vang lên tiếng gõ cẩn trọng, một người trẻ tuổi bưng chiếc hộp gỗ không nắp vừa to, vừa phẳng, vừa nặng bước vào, cúi chào Xích Dương, khẽ nói: "Tiên sinh, cát vệ sinh cho mèo." Đoạn đặt chiếc hộp vào góc sát tường trong hốc nghỉ, lại cúi đầu rồi lui ra.

"Nói cho mày nghe này..." Xích Dương nói, ngồi phịch xuống giường, chàng vốn không quen nói chuyện với mèo con. Mối quan hệ giữa hai bên là sự đụng chạm trong im lặng và tin cậy, nhưng Xích Dương cảm thấy cần phải nói đôi câu: "Hôm nay tao đã gặp nhà vua rồi đấy."

Trước khi có thể lên giường nghỉ ngơi, có quá nhiều người đang chờ để hội kiến quốc vương, quan trọng nhất trong số đó chính là sứ tiết của Chí Tôn vương Kargad. Họ đã hoàn thành nhiệm vụ đến Hupunor, chuẩn bị cáo từ, kết quả nhiệm vụ tuy khiến họ hài lòng, nhưng lại chẳng phải điều Lê Bạch Nam mong muốn.

Lê Bạch Nam vốn rất mong chờ chuyến viếng thăm của sứ tiết Kargad, bởi hành động này tượng trưng cho sự kiên nhẫn bày tỏ thiện chí, mời gọi và thương lượng suốt nhiều năm qua cuối cùng cũng đơm hoa kết trái. Trong mười năm đầu tiên sau khi chàng đăng cơ, quan hệ với người Kargad chẳng có chút tiến triển nào, bởi Thần vương Awabath từ chối các đề nghị ký kết hiệp ước và thông thương, chẳng đợi sứ giả cất lời đã đuổi về, tuyên bố thần linh quyết không hòa đàm với lũ phàm nhân tà ác, đặc biệt là tộc thuật sĩ đáng chết. Thế nhưng sau những lời tuyên bố về đế quốc thần thánh quen thuộc của Thần vương, lại chẳng hề xuất hiện hạm đội hùng hậu mà lão dùng để đe dọa, chở đầy những chiến binh mũ lông che kín trời để đến chinh phục các đảo phía tây không tôn thờ chân thần; ngay cả những hành vi cướp bóc của hải tặc quấy nhiễu các hòn đảo phía đông của Quần Đảo vương quốc suốt thời gian dài cũng dần biến mất. Hải tặc trở thành những kẻ buôn lậu, lén chở hàng cấm từ đảo Karego sang trao đổi đồ sắt, thép và đồ đồng với cư dân quần đảo, bởi vì đại lục Kargad thiếu thốn tài nguyên khoáng sản và kim loại.

Thế là, từ miệng những thương nhân phi pháp này, tin tức về sự trỗi dậy của Chí Tôn vương lần đầu tiên được truyền ra.

Nơi đại lục Kargad, tại hòn đảo Hur-at-Hur nghèo nàn rộng lớn ở cực đông, Phiên vương Tholes tự xưng là hậu duệ của dòng dõi Hupun-Soreg và đại thần Uo, tự phong là Hur-at-Hur Chí Tôn vương. Sau đó, Tholes chinh phục đảo Enlad-nini, dẫn đầu hạm đội cùng đại quân gồm người của đảo Hur-at-Hur và Enlad-nini, tuyên bố thống trị hòn đảo trung tâm trù phú Karego. Các chiến binh áp sát thủ đô Awabath, dân chúng trong thành đồng loạt nổi dậy chống lại bạo chính của Thần vương, tàn sát các thượng tế, trục xuất quan viên khỏi đền thờ, mở toang cổng thành, đường phố cờ hoa rợp trời, người dân ca múa đón vua Tholes vào thành, kế thừa ngai vàng của dòng dõi Soreg.

Thần vương cùng tàn dư và tế ty trưởng trốn đến Lăng mộ Atuan. Giữa sa mạc, trong ngôi đền bên cạnh thần điện của Kẻ Vô Danh bao đời đã sụp đổ vì động đất, một gã tế ty hoạn quan đã cắt đứt cuống họng Thần vương.

Tholes tuyên bố mình là Chí Tôn vương tối cao của bốn hòn đảo Kargad. Lê Bạch Nam vừa nghe tin liền phái sứ giả đến, gửi lời chào mừng tới bậc quân vương của nước láng giềng hữu bang, bày tỏ thiện chí của Quần Đảo vương quốc.

Năm năm sau đó, tiến trình ngoại giao diễn ra vô cùng gian nan trắc trở. Tholes tính tình bạo ngược, ngai vàng bấp bênh. Nền chính trị thần quyền sụp đổ khiến quyền kiểm soát đất nước của Tholes tràn ngập biến số, việc thâu tóm quyền lực cũng bị nghi ngờ, các phiên vương không ngừng nổi dậy, buộc phải dùng tiền bạc mua chuộc hoặc dùng vũ lực ép buộc họ quy phục. Tín đồ các giáo phái tràn ra từ các đền thờ và hang động, gào thét lớn tiếng: "Kẻ mạnh ắt bại!" Tiên tri rằng động đất, sóng thần, dịch bệnh sẽ giáng xuống đầu những kẻ có tội giết thần. Trong nước rối ren bất an, lãnh thổ chia cắt, Tholes tự nhiên chẳng thể tin tưởng dân tộc Quần Đảo giàu mạnh.

Vua của Quần Đảo dù có bày tỏ thiện chí đến đâu, giương cao chiếc vòng Hòa Bình ra sao, đối với Tholes đều vô nghĩa. Chẳng lẽ người Kargad không có quyền sở hữu chiếc vòng đó sao? Chiếc vòng ấy xuất hiện từ thời viễn cổ ở phương Tây, nhưng từ rất lâu trước đây, vị vua xuất thân từ dòng dõi Hupun-Soreg đã đón nhận món quà từ tay Erreth-Akbe, tượng trưng cho tình hữu nghị giữa người Kargad và tộc Hardic. Sau khi chiếc vòng biến mất, chỉ còn lại chiến tranh, tình hữu nghị chẳng còn tồn tại, nhưng Ưng Pháp Sư đã tìm lại chiếc vòng, trộm về, lại còn bắt đi Nữ tế ty Đệ nhất của Lăng mộ Atuan mang về Hupunor. Chữ tín của dân tộc Quần Đảo từ đó có thể thấy rõ một ban.

Thông qua sứ giả, Lê Bạch Nam kiên nhẫn và nhã nhặn chỉ ra rằng, ban đầu, chiếc vòng Hòa Bình là món quà Morred tặng cho Yevaud, là tín vật được vị vua và vương hậu được yêu mến nhất của Quần Đảo vương quốc trân quý, cũng vô cùng thiêng liêng, bởi trên vòng có khắc một phép chúc phúc vô cùng mạnh mẽ: phù văn Gắn Kết. Gần bốn thế kỷ trước, Erreth-Akbe đã mang chiếc vòng đến đại lục Kargad, hứa hẹn một nền hòa bình vững như bàn thạch, nhưng các tế ty Awabath đã phá vỡ lời hứa, cũng bẻ gãy chiếc vòng. Bốn mươi năm trước, Chim Cắt của Roke và Điềm Na của Atuan đã hàn gắn lại chiếc vòng. Vậy thì, hòa bình đâu?

Mọi thông điệp mà Lê Bạch Nam gửi tới vua Tholes đều nhấn mạnh điểm này hết lần này đến lần khác.

Chừng một tháng trước, không lâu sau Lễ Khiêu Vũ Dài mùa hạ, một đoàn hạm đội đã căng buồm vượt qua eo biển Ebbon, tiến vào eo biển Ebbon, băng qua vịnh Hupunor. Những thân thuyền thon dài giương buồm đỏ thắm, chở các chiến binh đội mũ lông vũ, những sứ tiết áo gấm lộng lẫy, cùng vài người phụ nữ che mặt.

"Hãy để hậu duệ của Uo, con gái của Chí Tôn vương Tholes đang ngự trên ngai vàng dòng dõi Soreg, tựa như Vương hậu Yevaud của Solia, đeo chiếc vòng Hòa Bình nơi cổ tay. Đây sẽ là biểu tượng cho nền hòa bình vĩnh kết giữa các hòn đảo phương Tây và phương Đông."

Đó là thông điệp của Chí Tôn vương gửi cho Lê Bạch Nam, được viết bằng những phù văn Hardic thật lớn trên một cuộn giấy da, nhưng trước khi dâng lên vua Lê Bạch Nam, đại sứ của Tholes đã dõng dạc đọc to nội dung thông điệp trong buổi yến tiệc nghênh đón sứ tiết. Khi ấy toàn thể vương công quý tộc đều có mặt để bày tỏ sự tôn trọng đối với sứ giả Kargad. Đại sứ thực ra chẳng biết chữ phù văn Hardic, mà dựa vào trí nhớ để đọc thuộc lòng một cách chậm rãi và lớn tiếng, do đó có lẽ đã phủ lên nội dung ấy một bầu không khí như tối hậu thư.

Công chúa không hé nửa lời, đứng giữa mười thị nữ hoặc nữ nô cùng đến Hupunor, xung quanh còn vây quanh một nhóm cung nữ được phân công đến chăm sóc và bày tỏ sự tôn kính trong cơn hỗn loạn. Toàn thân công chúa phủ kín trong lớp khăn voan mỏng (rõ ràng là phong tục của quý phụ đảo Hur-at-Hur), màu đỏ tươi, thêu chỉ vàng, rủ xuống từ một chiếc mũ vành phẳng hoặc mũ miện, trông như một cột trụ tròn màu đỏ, diện mạo hoàn toàn không thể nhận diện, chẳng hề cử động, hoàn toàn im lặng.

"Chí Tôn vương Tholes đã ban cho chúng ta niềm vinh dự tột bậc." Lê Bạch Nam nói một cách rõ ràng và trầm tĩnh, thoáng ngập ngừng. Triều thần và sứ tiết nín thở chờ đợi. "Công chúa, hoan nghênh người đã đến." Lê Bạch Nam nói với bóng hình phủ lớp voan mỏng, vóc dáng ấy vẫn bất động như tượng.

"Hãy để công chúa ngụ tại Hà Cung, và chu toàn mọi ước nguyện của nàng." Lê Bạch Nam dặn.

Hà Cung nằm ở ranh giới phía bắc thành phố, ăn sâu vào bức tường thành cổ, ban công vươn ra mặt nước mảnh mai của sông Seren, là một tòa lâu đài nhỏ xinh đẹp do Nữ vương Heru xây dựng, vì thế thường được gọi là "Nhà Của Nữ Vương". Khi Lê Bạch Nam kế vị, chàng hạ lệnh trùng tu và trang hoàng lại Hà Cung cùng cung Maharenian (còn gọi là "Tân Cung"), hiện nay triều đình đặt tại Tân Cung, Hà Cung chỉ dùng để tổ chức các lễ hội mùa hè, đôi khi dùng làm nơi tĩnh tâm trong vài ngày ngắn ngủi.

Giữa đám triều thần dấy lên một sự xôn xao nho nhỏ. "Nhà Của Nữ Vương" ư?

Sau vài câu chào hỏi xã giao với sứ giả Kargad, Lê Bạch Nam rời khỏi điện yết kiến, bước vào phòng thay đồ. Tại đây, chàng mới có thể tận hưởng khoảng thời gian tĩnh lặng hiếm hoi của một bậc đế vương, bên cạnh rốt cuộc chỉ còn lại lão bộc Lão Tượng, người đã quen biết chàng từ thuở lọt lòng.

Lê Bạch Nam đập mạnh cuộn giấy da lộng lẫy ánh vàng xuống bàn. "Miếng phô mai trong bẫy chuột," toàn thân chàng run rẩy, rút thanh đoản đao chưa từng rời thân ra khỏi vỏ, đâm thẳng xuyên qua bức thư của Chí Tôn vương. "Con lợn nướng trên xiên sắt, như một món hàng. Chiếc vòng trên cổ tay nàng ta, chính là chiếc gông trên cổ ta."

Lão Tượng bối rối, kinh hãi ngơ ngác nhìn Lê Bạch Nam. Vương tử Arren của Enlad chưa từng nổi giận bao giờ. Khi vương tử còn là một đứa trẻ, ngài có thể khóc trong chốc lát, một tiếng nức nở cay đắng, chỉ thế mà thôi. Sự rèn giũa của ngài quá hoàn hảo, khả năng tự kiềm chế quá mạnh mẽ, cơn thịnh nộ không thể nào phát tiết; còn khi đã là quân vương một nước, vượt qua cõi âm ty để giành lại lãnh thổ, ngài trở nên nghiêm nghị, nhưng Lão Tượng ngỡ rằng ngài luôn quá kiêu hãnh, quá kiên cường, sẽ không nổi giận.

"Người Kargad tuyệt đối không thể lợi dụng ta!" Lê Bạch Nam nói, lại đâm thanh đoản đao xuống một lần nữa, sắc mặt vì giận dữ mà đen sầm, mù quáng, khiến lão nhân thực sự sợ hãi mà lùi bước.

Lê Bạch Nam nhận ra lão nhân đang ở bên cạnh——chàng luôn chú ý đến những người xung quanh mình.

Chàng tra đoản đao vào vỏ, cất giọng bình ổn hơn đôi chút: "Lão Tượng, ta lấy chân danh thề, tuyệt không cho phép Tholes coi ta là bàn đạp để bước lên ngai vàng. Ta sẽ hủy diệt hắn trước, cùng cả vương quốc của hắn." Lê Bạch Nam hít sâu một hơi rồi ngồi xuống, để Lão Tượng cởi tấm vương bào nặng trịch thêu đầy chỉ vàng khỏi vai mình.

Lão Tượng chưa từng hé nửa lời về cảnh tượng này, nhưng đương nhiên xung quanh đã râm ran lời đồn đại, bàn tán về nàng công chúa Kargad, cùng việc nhà vua sẽ sắp đặt nàng ra sao... hay là đã sắp đặt thế nào rồi.

Lê Bạch Nam không nói rõ là chấp nhận lời đề nghị nghênh thấu công chúa, nhưng mọi người đều đồng tình rằng nàng được cống nạp để làm vợ chàng, những lời hoa mỹ về chiếc vòng của Yevaud chẳng thể che giấu được lời đề nghị, giao dịch hay mối đe dọa thực sự đằng sau. Thế nhưng Lê Bạch Nam cũng không hề từ chối, phản ứng của chàng (sau muôn vàn phân tích) là hoan nghênh công chúa tới, để mọi sự diễn ra theo ý nàng, và cho nàng ở tại Hà Cung——Nhà Của Nữ Vương. Điều này hẳn phải có thâm ý chứ? Nhưng nói đi cũng phải nói lại, tại sao không để công chúa ở Tân Cung? Tại sao lại ở tận đầu bên kia của thành phố?

Kể từ khi Lê Bạch Nam đăng cơ, các quý tộc khuê tú cùng những công chúa hoàng tộc cổ xưa của Enlad, Ea, Shelieth đều đến viếng thăm, hoặc lưu lại trong cung, nhận được sự tiếp đãi chu đáo nhất của quốc vương, và khi họ lần lượt gả cho các quý tộc hay cự phú, quốc vương đều cùng họ khiêu vũ trong hôn lễ. Ai nấy đều biết, quốc vương thích sự bầu bạn và lời khuyên của phụ nữ, rất sẵn lòng tán tỉnh những cô gái xinh đẹp, và mời những nữ nhân thông tuệ hiến kế, để trêu đùa hoặc an ủi chàng, nhưng chưa từng có cô gái hay nữ nhân nào có lấy nửa phần cơ hội dính vào tin đồn sẽ gả cho vua, và cũng chưa từng có ai được an trí tại Hà Cung.

Các cố vấn của chàng định kỳ lại bóng gió: Quốc vương phải có vương hậu.

"Arren, con thực sự nên thành thân rồi." Lần cuối cùng Lê Bạch Nam gặp mẫu thân, bà đã nói như vậy.

Hậu duệ của Morred, lẽ nào lại tuyệt tự sao? Bách tính truyền tai nhau hỏi.

Lê Bạch Nam nói với tất cả mọi người, bằng những lời lẽ khác nhau và theo những cách khác nhau: Hãy cho ta thời gian; ta phải tái thiết vương quốc đổ nát này. Hãy để ta dựng xây nên cung điện xứng tầm với một bậc Chí Tôn vương hậu, một lãnh thổ mà con ta có thể trị vì. Và bởi vì Lê Bạch Nam được muôn dân yêu mến tin tưởng, vẫn còn trẻ trung, tuy phong thái trang nghiêm nhưng cũng đầy sức quyến rũ, do đó càng có sức thuyết phục hơn, có thể trốn thoát khỏi mọi thiếu nữ ôm ấp hy vọng. Cho đến tận bây giờ.

Ẩn dưới lớp khăn voan đỏ trang nghiêm kia là thứ gì? Hạng người nào đang sống trong chiếc lều trơ trọi không chút đặc điểm ấy? Những cung nữ được phân công làm tùy tùng cho công chúa bị tra hỏi đến khốn đốn. Công chúa đẹp hay xấu? Có thực là vừa cao vừa gầy? Hay vừa lùn vừa béo? Trắng trẻo như sữa? Hay mặt đầy vết rỗ, chột một mắt? Tóc vàng hay tóc đen? Bốn mươi lăm tuổi, hay là mười tuổi? Là một ả ngốc chảy nước dãi, hay là một tuyệt sắc giai nhân thông minh tuyệt đỉnh?

Dần dà, lời đồn nghiêng hẳn về một phía: Công chúa còn rất trẻ, nhưng không phải con nít, tóc không vàng cũng chẳng đen, vài cung nữ nói nàng trông cũng tạm được, có người lại bảo nàng rất thô tục. Các cung nữ đều nói công chúa chẳng biết lấy nửa câu tiếng Hardic, cũng không muốn học, chỉ trốn tránh giữa đám nữ tỳ, nếu buộc phải rời khỏi phòng thì nấp dưới tấm màn voan. Quốc vương từng lịch thiệp ghé thăm một lần, công chúa không hề cúi đầu, không nói năng, cũng chẳng làm bất kỳ cử chỉ nào, chỉ đứng đờ đẫn. Lão phu nhân Iyenna tức tối nói: "Chẳng khác nào một cái ống khói bằng gạch!"

Lê Bạch Nam thông qua sứ tiết phái tới Kargad và viên đại sứ Kargad nói tiếng Hardic khá tốt để trò chuyện với công chúa, nhọc nhằn bày tỏ lời tán dương, đồng thời hỏi thăm xem nàng có nguyện vọng, nhu cầu gì chăng. Thông dịch viên trò chuyện với nữ tỳ, mạng che mặt của nữ tỳ mỏng hơn, dễ nhìn xuyên qua hơn. Các nữ tỳ vây quanh cây cột tròn màu đỏ bất động kia, sau một hồi thì thầm rù rì, liền đáp lại viên thông dịch, thông dịch viên lại bẩm báo với quốc vương: Công chúa rất mãn nguyện, không có yêu cầu gì.

Khi Điềm Na và Điềm Cáp Nỗ từ Gont đến nơi, công chúa đã ở được nửa tháng. Không lâu trước khi chiến thuyền Kargad đưa công chúa tới, Lê Bạch Nam đã phái thuyền và thư khẩn khoản mời hai người đến, lý do tuy chẳng liên quan gì đến công chúa hay vua Tholes, nhưng vừa có cơ hội ở riêng với Điềm Na, chàng liền buột miệng: "Ta phải làm sao với nàng ta đây? Ta có thể làm gì được chứ?"

"Kể hết cho ta nghe xem nào." Điềm Na nói, vẻ mặt hơi ngạc nhiên.

Dù những năm qua Lê Bạch Nam và Điềm Na có trao đổi vài phong thư, nhưng hai người chỉ ở bên nhau trong một khoảng thời gian rất ngắn. Lê Bạch Nam vẫn chưa quen với việc mái tóc Điềm Na đã điểm bạc, vóc dáng dường như cũng nhỏ nhắn hơn trong ký ức, nhưng khi ở bên Điềm Na, chàng lập tức cảm thấy như mười lăm năm trước, có thể nói với bà bất cứ điều gì, và bà đều sẽ thấu hiểu.

"Năm năm nay, ta nỗ lực xây dựng các kênh buôn bán giữa đôi bên, cố gắng duy trì quan hệ tốt đẹp với Tholes, hắn là phiên vương, ta không muốn vương quốc của mình giống như thời Maharenian, bị kẹp giữa loài rồng phương Tây và các phiên vương phương Đông; hơn nữa vì ta dùng phù văn Hòa Bình để trị quốc, xưa nay chưa từng có vấn đề gì lớn, cho đến tận bây giờ, cho đến khi Tholes đột nhiên gửi cô gái này tới, nói rằng nếu muốn hòa bình thì hãy trao chiếc vòng của Yevaud cho nàng ta. Chiếc vòng của người, hỡi Điềm Na! Chiếc vòng của người và Ged!"

Điềm Na ngập ngừng giây lát. "Dù sao nàng cũng là con gái của Tholes."

"Đối với một gã vua man rợ, con gái tính là gì chứ? Chỉ là món hàng, thứ có thể đem ra trao đổi để đạt được lợi ích nào đó mà thôi. Người biết rõ điều đó mà! Người sinh ra ở nơi ấy!"

Lời này chẳng giống phong thái của Lê Bạch Nam chút nào, và chàng cũng nhận ra mình lỡ lời, bỗng quỳ sụp xuống, nắm lấy tay Điềm Na, áp lên hai mắt mình để tỏ vẻ hối hận. "Điềm Na, xin lỗi. Chuyện này khiến ta phiền muộn vượt quá lẽ thường. Ta chẳng nhìn ra phải làm thế nào nữa."

"Chuyện này ấy à, chỉ cần con không làm gì cả, thì vẫn còn chút đường xoay chuyển... Biết đâu công chúa có chủ kiến của riêng mình?"

"Nàng ta làm sao có chủ kiến được? Trốn trong cái bao tải đỏ đó ư? Nàng ta không chịu nói chuyện, không chịu nhìn ra bên ngoài, nàng ta chẳng khác gì một cái cọc lều." Lê Bạch Nam cố mỉm cười, chàng bị nỗi chán ghét khó kiềm chế của bản thân làm cho kinh sợ, toan tìm cớ thoái thác: "Ta vừa nhận được tin tức đáng lo ngại truyền tới từ phương Tây thì chuyện này lại xảy ra. Ta mời người và Điềm Cáp Nỗ đến là vì chuyện khác, chứ không phải để làm phiền người bằng thứ chuyện ngớ ngẩn này."

"Đây không phải chuyện ngớ ngẩn." Điềm Na nói, nhưng Lê Bạch Nam cố ý phớt lờ, bắt đầu nói sang chuyện loài rồng.

Bởi vì tin tức đến từ phương Tây quả thực đáng lo ngại, phần lớn thời gian, Lê Bạch Nam đều thành công gạt bỏ hoàn toàn hình bóng công chúa ra khỏi tâm trí. Chàng biết rất rõ, cố ý phớt lờ không xử lý chính sự chẳng phải là thói quen của mình. Bị kiềm tỏa, ắt kiềm tỏa người khác. Vài ngày sau cuộc trò chuyện của hai người, chàng nhờ Điềm Na đến thăm công chúa, cố gắng khiến nàng mở lời. Dù sao thì, chàng bảo, hai người đều nói cùng một thứ ngôn ngữ.

"Có lẽ vậy," Điềm Na nói, "nhưng ta không quen biết bất kỳ người Hur-at-Hur nào, ở Atuan, bọn họ bị gọi là quân man rợ."

Lê Bạch Nam ngoan ngoãn nghe lời dạy bảo, nhưng Điềm Na đương nhiên cũng thực hiện thỉnh cầu của chàng. Không lâu sau, Điềm Na hồi đáp rằng bà và công chúa nói cùng một ngôn ngữ——chí ít là rất gần gũi, còn công chúa thì không hề biết trên đời có thứ ngôn ngữ khác, cứ ngỡ mọi người ở đây, bao gồm cả triều thần và cung nữ, đều là những kẻ điên độc ác, đang ríu rít sủa gâu gâu như loài thú không biết tiếng người để chế giễu nàng. Theo những gì Điềm Na biết, công chúa lớn lên giữa sa mạc, sống tại lãnh thổ ban đầu của vua Tholes ở Hur-at-Hur, trước khi bị đưa tới Hupunor chỉ ở lại cung điện Awabath một thời gian rất ngắn.

"Nàng rất sợ hãi." Điềm Na nói.

"Cho nên nàng ta mới trốn trong lều sao? Nàng ta nghĩ ta là cái gì chứ?"

"Làm sao nàng biết con là cái gì được?"

Lê Bạch Nam cau mày. "Nàng ta bao nhiêu tuổi rồi?"

"Còn rất trẻ, nhưng đã là một phụ nữ."

"Ta không thể cưới nàng ta," Lê Bạch Nam nói với một quyết tâm bất ngờ, "ta sẽ gửi nàng ta trở về."

"Một cô dâu bị trả về là một nữ nhân phải chịu nỗi sỉ nhục. Nếu con gửi trả nàng về, Tholes có thể sẽ giết nàng để gia tộc khỏi mang nhục. Hắn chắc chắn sẽ nghĩ con cố tình làm nhục hắn."

Sắc mặt cuồng nộ lại xuất hiện trên gương mặt Lê Bạch Nam.

Điềm Na ngăn chàng bộc phát. "Chỉ là hủ tục dã man thôi." Bà cứng cỏi nói.

Lê Bạch Nam đi đi lại lại trong phòng. "Được thôi, nhưng ta sẽ không bao giờ cân nhắc việc để cô gái đó trở thành vương hậu của vương quốc Morred. Có thể dạy nàng ta nói tiếng Hardic không? Ít nhất là nói vài từ? Nàng ta hoàn toàn không thể dạy dỗ được sao? Ta sẽ bảo Tholes rằng quốc vương tộc Hardic không thể cưới một nữ nhân không biết nói ngôn ngữ của bản quốc. Ta chẳng cần biết hắn có vui lòng hay không, hắn đáng phải nhận cái tát này, vả lại việc đó còn có thể cho ta thêm nhiều thời gian."

"Con sẽ bảo nàng học tiếng Hardic chứ?"

"Nếu nàng ta cho rằng tất cả đều là tiếng lảm nhảm vô nghĩa, làm sao ta hỏi chuyện nàng ta được? Ta đến tìm nàng ta thì có ích gì? Ta nghĩ, có lẽ người có thể trò chuyện với nàng. Điềm Na... người nhất định phải nhìn ra, đây là một trò lừa bịp, lợi dụng cô gái đó để khiến Tholes trông như ngang hàng với ta; lợi dụng chiếc vòng... chiếc vòng người đã mang đến cho chúng ta... làm thành một cái bẫy! Ta thậm chí không thể vờ tha thứ. Ta sẵn lòng thỏa hiệp, trì hoãn để gìn giữ hòa bình, nhưng chỉ đến mức này thôi. Ngay cả sự lừa dối nhường này cũng là dơ bẩn. Người xem nên nói với công chúa thế nào là tốt nhất, ta không muốn có bất kỳ dây dưa nào với nàng ta cả."

Thế là Lê Bạch Nam đùng đùng mang theo một bụng nộ khí chính trực rời đi, sau đó cơn giận dần nguội lạnh biến thành một nỗi bất an nào đó, tựa như nỗi hổ thẹn tột cùng.

Vào buổi tối sau khi trò chuyện với gã thuật sĩ đảo Taon bị giấc mơ bủa vây, Lê Bạch Nam hội kiến người Kargad lần cuối cùng, giao bức thư chuyển dâng lên Chí Tôn vương. Chàng đọc to trước, giống như lúc ban đầu đại sứ đọc to nội dung thư của Tholes cho chàng nghe.

Đại sứ hài lòng lắng nghe: "Chí Tôn vương sẽ rất vui lòng."

Lê Bạch Nam vừa khách sáo với sứ tiết, trưng ra những món quà tặng cho Tholes, vừa suy nghĩ trăm mối không thông: Viên đại sứ lại dễ dàng chấp nhận câu trả lời tránh nặng tìm nhẹ này đến thế. Mọi suy nghĩ đều hướng về một kết luận: Hắn biết ta không thể dứt bỏ công chúa được nữa rồi. Tâm tư Lê Bạch Nam thầm đáp lại một cách quyết liệt: Tuyệt đối không.

Lê Bạch Nam hỏi đại sứ có đến Hà Cung để từ biệt công chúa hay không. Đại sứ ngơ ngác, như thể được hỏi xem có muốn từ biệt kiện hàng mình vừa chuyển đến hay không. Lê Bạch Nam lại cảm thấy cơn thịnh nộ dâng lên trong lòng, chàng nhìn thấy vẻ mặt đại sứ hơi biến đổi, lộ ra vẻ cảnh giác và xoa dịu. Chàng mỉm cười, chúc sứ tiết thuận buồm xuôi gió khi quay về Kargad, đoạn lập tức rời khỏi điện yết kiến, trở về phòng.

Hoạt động thường ngày của người đứng đầu một nước phần lớn là các nghi thức tế lễ, hơn nửa đời người đều nằm dưới sự dõi nhìn của công chúng, nhưng vì ngồi lên ngai vàng đã bỏ trống hàng trăm năm, tiếp quản một triều đình mà lễ nghi đã mai một, nên có vài việc chàng có thể tùy ý làm theo ý mình. Trong phòng ngủ không có lễ nghi cung đình, màn đêm thuộc về chính chàng, chàng chào chúc ngủ ngon với Lão Tượng đang ngủ ở phòng nghỉ bên cạnh, khép cửa lại, ngồi trên giường, cảm thấy mệt mỏi, tức giận, cùng một nỗi cô đơn kỳ lạ.

Lê Bạch Nam luôn đeo một sợi dây chuyền vàng mảnh mai, buộc một chiếc túi nhỏ bằng sợi vàng, bên trong đựng một viên đá cuội nhỏ, một mảnh đá vụn màu sắc tối tăm, đen đúa, gồ ghề lồi lõm. Chàng lấy viên đá ra, nắm trong lòng bàn tay, ngồi im trầm tư.

Lê Bạch Nam suy ngẫm về thuật sĩ Xích Dương cùng giấc mơ của chàng ta, cố gắng gạt bỏ tâm trí khỏi mọi chuyện ngớ ngẩn về cô gái Kargad, nhưng điều duy nhất lọt vào tâm trí chàng lại là một cơn ghen tị đau đớn đối với Xích Dương, bởi chàng ta đã đặt chân lên mảnh đất Gont, được trò chuyện với Ged, lại còn được ở cùng Ged.

Nỗi cô đơn chính là từ đó mà sinh ra. Người mà chàng tôn xưng là chủ nhân, người chàng kính yêu nhất, lại không chịu để chàng lại gần, cũng chẳng chịu đến gần chàng.

Chẳng lẽ Ged nghĩ rằng, một khi mất đi pháp lực của phù thủy, sẽ bị Lê Bạch Nam coi thường, khinh miệt sao?

Sức mạnh của Ged từng có thể hoàn toàn khống chế nhân tâm và ý chí, cho nên ý nghĩ này không phải hoàn toàn không có khả năng, nhưng sự hiểu biết của Ged về Lê Bạch Nam đáng lẽ không chỉ dừng lại ở đó, hoặc chí ít cũng phải đánh giá cao hơn mới phải.

Hay là vì từng là bậc tôn chủ và đạo sư của Lê Bạch Nam, nên không thể chịu nổi việc trở thành thần dân? Đối với lão nhân ấy, quả thực có khả năng: Địa vị của hai người đã hoán đổi một cách thẳng thắn, không thể vãn hồi như thế. Nhưng Lê Bạch Nam nhớ rất rõ, trước cái bóng của loài rồng và trước mặt tất cả các sư phụ dưới sự thống lĩnh của Ged, trên Đồi Tròn Roke, người đã quỳ hai gối trước Lê Bạch Nam, sau đó đứng dậy, hôn lên trán Lê Bạch Nam, dặn dò chàng phải tận tâm trị vì việc nước, gọi chàng là: "Quốc vương của ta, người bạn đồng hành chí ái."

"Vương quốc của ta là do đại nhân ban tặng." Lê Bạch Nam từng nói với Xích Dương như thế. Đó chính là khoảnh khắc Ged trao tặng. Trọn vẹn, và tự nguyện.

Và đó cũng chính là lý do vì sao Ged không chịu đến Hupunor, không chịu để Lê Bạch Nam tới thỉnh giáo. Người đã giao lại quyền bính... trọn vẹn, và tự nguyện, không muốn người khác hiểu lầm người can dự vào chính sự, để bóng tối che khuất ánh hào quang của Lê Bạch Nam.

"Người đã hoàn thành tâm nguyện." Sư phụ giữ cửa đã nói như vậy.

Thế nhưng câu chuyện của Xích Dương đã làm Ged chấn động, người phái Xích Dương tới tìm Lê Bạch Nam, xin chàng tùy cơ hành động.

Câu chuyện quả thực vô cùng kỳ dị, mà chuyện Ged nói bản thân bức tường có lẽ sắp sụp đổ lại càng kỳ lạ hơn. Điều này có ý nghĩa gì chứ? Tại sao giấc mơ của một người lại có sức nặng nhường này?

Từ rất lâu trước đây, khi cùng Đại Pháp sư Ged du hành, trước khi đến Selidor, Lê Bạch Nam cũng từng mơ thấy bờ cõi của Vùng Đất Khô Cằn.

Và nơi hòn đảo cực tây ấy, chàng đã theo Ged bước vào Vùng Đất Khô Cằn, vượt qua bức tường đá, tiến vào thành phố u ám. Bóng ma của những kẻ đã khuất đứng bên ngưỡng cửa, hoặc tản bộ trên những con đường chỉ được thắp sáng bởi ánh sao vĩnh hằng bất động. Chàng theo chân Ged, đi khắp cõi âm ty, mệt mỏi đặt chân tới chân núi, một thung lũng tăm tối chỉ toàn cát bụi và đá tảng. Ngọn núi chỉ có một cái tên duy nhất: Nỗi Đau.

Lê Bạch Nam xòe lòng bàn tay ra, cúi đầu nhìn viên đá đen nhỏ đang siết chặt, rồi lại nắm chặt lại.

Sau khi hoàn thành mục đích đến Vùng Đất Khô Cằn, hai người leo lên núi từ hẻm suối cạn, không còn con đường nào khác để quay đầu. Bước lên con đường cấm kỵ của kẻ chết, leo trèo, vượt qua những tảng đá cứa rách, thiêu đốt đôi bàn tay, cho đến khi Ged không thể tiến bước được nữa. Chàng đã cố hết sức cõng Ged tiếp tục tiến lên, rồi hai người bò toài tới rìa bóng tối, bên bờ vực tuyệt vọng của màn đêm. Chàng đã trở về, cùng với Ged bước vào ánh dương quang, bước vào thanh âm của những con sóng vỗ vào bờ cõi sự sống.

Đã lâu lắm rồi chàng không nhớ lại chuyến hành trình kinh hoàng ấy một cách rõ nét đến thế, nhưng viên đá đen nhỏ mang về từ rặng núi vẫn luôn đeo lơ lửng trước ngực chàng.

Giờ đây chàng bỗng nhận ra, ký ức về mảnh đất ấy, bóng tối và cát bụi nơi đó, tuy chàng ngoảnh mặt không muốn nhìn thẳng, nhưng vẫn luôn ngự trị trong tim, chỉ tạm thời bị che khuất dưới những hoạt động sinh hoạt rực rỡ ban ngày mà thôi. Chàng quay đầu đi, biết rõ đó sẽ là nơi mình lại trở về, nhưng lại chẳng thể chịu nổi sự thật này: Trở về trong cô độc, không một bóng người đồng hành, vĩnh viễn. Ánh mắt trống rỗng, câm lặng đứng dưới bóng râm của thành phố hư ảo, vĩnh viễn chẳng thể nhìn thấy ánh mặt trời nữa, hay uống một ngụm nước, hay chạm vào một bàn tay còn hơi ấm sự sống.

Chàng đột ngột đứng dậy, rũ bỏ những ý nghĩ u ám, cất viên đá lại vào túi nhỏ, leo lên giường đi ngủ, tắt đèn, nằm xuống. Ngay lập tức chàng lại nhìn thấy mảnh đất xám xịt u ám đầy cát bụi và đá tảng, phía xa xôi phía trước nối liền với những đỉnh núi nhọn hoắt đen kịt, nhưng ở nơi này là một con dốc thoai thoải nghiêng xuống, đâm thẳng xuống dưới, sang bên phải, vươn dài vào bóng tối mịt mù tuyệt đối. "Bên kia có gì thế?" Khi không ngừng tiến bước, chàng đã hỏi Ged. Người bạn đồng hành bảo rằng không biết, có lẽ là không có điểm dừng.

Lê Bạch Nam ngồi bật dậy, vì tâm tư phiêu bạt không thể kiềm chế mà tức giận xen lẫn kinh hoàng, ánh mắt tìm kiếm ô cửa sổ. Cửa sổ hướng về phía bắc, là khung cảnh chàng yêu thích, từ Hupunor nhìn qua từng lớp núi non, thẳng tới đỉnh núi xám trắng cao vút của núi Ebbon. Xa hơn nữa, ngoài tầm mắt, vượt qua Đảo Lớn và biển Ea, chính là đảo Enlad, quê hương chàng.

Nằm trên giường chỉ có thể nhìn thấy bầu trời, bầu trời đêm mùa hạ trong trẻo vô ngần, Trái Tim Thiên Nga treo cao giữa những vì tinh tú nhỏ bé. Vương quốc của chàng. Vương quốc của ánh sáng và sự sống, những vì sao nơi đây tựa như những đóa hoa trắng như tuyết, nở rộ ở phương đông, rồi lụi tàn ở phương tây. Chàng không muốn nghĩ tới mảnh đất bên kia, nơi các vì sao vĩnh viễn không chuyển động, nơi đôi tay không còn sức lực, cũng chẳng có phương hướng đúng đắn, bởi vì chẳng có chốn nào để đi.

Nằm trên giường, ngắm nhìn những vì sao, chàng cố ý kéo tâm tư rời xa ký ức, rời xa Ged, để nghĩ về Điềm Na: giọng nói của bà, cái chạm của bà. Triều thần ai nấy đều rất xem trọng lễ nghi, đối với việc khi nào và chạm vào quốc vương ra sao đều cẩn trọng từng li từng tí; Điềm Na lại chẳng như vậy, bà sẽ cười và đặt tay lên tay chàng, đối đãi với chàng còn bạo dạn hơn cả mẫu thân chàng.

Bông Hồng, công chúa của dòng dõi Enlad, hai năm trước đã qua đời vì một trận sốt cao, khi ấy Lê Bạch Nam đang ở trên thuyền hướng về cung Berila trên đảo Enlad cùng các hòn đảo phía nam để thăm viếng hoàng tộc. Chàng chẳng hề hay biết gì về tin dữ của mẫu hậu, cho đến khi về tới nhà, trở về với thành phố và tư dinh đang chìm trong tang tóc.

Mẫu thân giờ đây đang ở nơi quốc độ tăm tối, trên mảnh đất khô cằn ấy. Nếu chàng đến nơi đó, lướt qua nhau trên đường phố, mẫu thân cũng sẽ không nhìn chàng lấy một lần, sẽ chẳng nói với chàng một lời.

Chàng siết chặt hai tay, xếp lại đệm nằm trên giường, cố gắng thả lỏng, để tâm trí rời đi, nghĩ về những điều có thể tránh xa nơi chốn ấy. Nghĩ về thuở mẫu thân còn tại thế, giọng nói của bà, đôi mắt thẳm sâu dưới đôi lông mày rậm và cao, đôi bàn tay thanh mảnh.

Hoặc là nghĩ về Điềm Na. Chàng biết mình mời Điềm Na đến Hupunor không chỉ vì có chuyện cần thỉnh giáo, mà còn vì Điềm Na là người mẹ duy nhất còn lại của chàng. Chàng muốn có được tình yêu thương ấy, để trao đi, và cũng để đón nhận. Một tình yêu thương tuyệt đối, không có ngoại lệ, không có điều kiện. Đôi mắt Điềm Na màu xám, không thẳm sâu, nhưng có thể dùng sự dịu dàng thấu suốt để nhìn thấu tim can chàng, không bị lừa gạt bởi bất cứ điều gì chàng nói hay việc chàng làm.

Chàng biết mình đã hoàn thành trọn vẹn những kỳ vọng mà người khác đặt lên vai, cũng biết mình rất giỏi đóng vai một vị vua, nhưng chỉ khi ở trước mặt mẫu thân và Điềm Na, chàng mới không mang lấy một tia nghi hoặc về bản thân, mới thấu tỏ ý nghĩa chân thực của việc làm một vị vua.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.