Ivanhoe: A Romance

Lượt đọc: 126 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chú Thích J.—lâu Đài Coningsburgh.

❊ ❊ ❊

Khi tôi lần cuối chiêm ngưỡng tàn tích đầy thú vị mang đậm dấu ấn thời gian này, một trong số rất ít những công trình công sự của người Saxon còn sót lại, tôi vô cùng ao ước được phác thảo một thứ lý thuyết về đề tài ấy; mà nhờ có đôi chút hiểu biết gần đây về kiến trúc của người Scandinavia cổ đại, tôi thấy nó mang một vẻ hấp dẫn rất riêng. Dù vậy, hoàn cảnh bắt buộc tôi phải tiếp tục cuộc hành trình, không có đủ thảnh thơi để ngắm nhìn Coningsburgh lâu hơn một thoáng qua. Thế nhưng, ý tưởng đó cứ bám chặt lấy tâm trí khiến tôi không khỏi xiết bao cám dỗ, muốn viết đôi dòng phác họa lại cốt lõi của giả thuyết mình, dẫu đành phó mặc cho những nhà khảo cổ uyên bác hơn việc đính chính hay bác bỏ những kết luận có phần vội vã ấy.

Những ai từng đặt chân đến Quần đảo Zetland hẳn đã quá quen thuộc với mô tả về những tòa lâu đài mà người dân bản xứ gọi là Burgh; còn người vùng cao gọi là Duns — bởi chúng cũng xuất hiện rải rác cả ở các đảo phía Tây lẫn trên đại lục. Pennant từng khắc họa một góc nhìn về tòa Dun-Dornadilla nổi tiếng tại Glenelg; và còn rất nhiều công trình tương tự khác, tất cả đều được xây dựng theo một lối kiến trúc đặc thù, minh chứng cho một cộng đồng đang ở giai đoạn sơ khai nhất của xã hội loài người. Tiêu bản hoàn mỹ nhất chính là công trình trên đảo Mousa, nằm gần đại lục Zetland, nơi có lẽ vẫn giữ nguyên vẹn hiện trạng như thủa có người sinh sống.

Đó là một ngọn tháp tròn đơn độc, với phần tường hơi khum vào ở giữa rồi lại phình ra ở phần đỉnh theo hình chiếc hộp đựng súc sắc, nhờ đó những người phòng thủ trên cao có thể dễ dàng bảo vệ phần chân đế hơn. Tháp được dựng từ những phiến đá thô, được tuyển chọn kỹ lưỡng, xếp thành từng lớp hoặc vòng tròn vô cùng khít khao nhưng hoàn toàn không dùng đến bất kỳ loại vữa gắn nào. Nhìn bề ngoài, ngọn tháp dường như chưa từng có mái che dưới bất kỳ hình thức nào; một ngọn lửa từng được nhóm lên ở chính giữa khoảng không gian mà nó bao bọc, và thoạt tiên, công trình này có lẽ chẳng khác nào một bức tường quây lại như tấm bình phong xung quanh ngọn lửa hội đồng lớn của bộ tộc. Thế nhưng, dẫu phương tiện hay sự khéo léo của những người thợ xây chưa vươnm tới việc tạo ra một mái che, họ đã bù đắp sự thiếu hụt ấy bằng cách kỳ công bố trí các căn phòng ngay bên trong phần lõi của bức tường tháp. Vòng tường thành tạo thành một lớp bảo vệ kép, trong đó phần tường phía trong cách phần tường kia khoảng hai đến ba thước Anh, được nối liền bởi một dải đá phẳng dài xếp đồng tâm, từ đó tạo nên một chuỗi các vòng tròn hoặc các tầng đồng tâm với nhiều cao độ khác nhau vươn lên tận đỉnh tháp. Mỗi tầng hay dãy hành lang này đều trổ bốn khung cửa sổ hướng thẳng về bốn phương trời, và dĩ nhiên là được xếp chồng lên nhau một cách ngăn nắp. Bốn dãy cửa sổ thẳng đứng ấy đóng vai trò dẫn không khí, và khi ngọn lửa được nhóm lên, chúng truyền hơi ấm — hoặc ít nhất là khói — đến từng ngành hành lang. Lối đi từ tầng này sang tầng khác cũng mộc mạc và nguyên sơ không kém. Một lối mòn theo nguyên lý mặt phẳng nghiêng uốn lượn vòng quanh tòa nhà tựa như đường xoắn ốc, dẫn lối đến các tầng khác nhau, lần lượt cắt qua từng tầng và cứ thế nâng dần độ cao lên tận đỉnh tường tháp. Bên ngoài hoàn toàn không có khung cửa sổ nào; và tôi xin bổ sung thêm rằng, một khoảng sân quây hình vuông, hoặc đôi khi hình tròn, đã tạo cho cư dân trong thành Burgh cơ hội nhốt giữ bất kỳ bầy cừu hay gia súc nào mà họ sở hữu.

Đó là nét kiến trúc chung của thời kỳ hồng hoang ấy, khi những người phương Bắc tung hoành ngang dọc trên biển khơi, mang về những mái tranh nghèo nàn — theo đúng cách tôi vừa miêu tả — chiến lợi phẩm cướp được từ các quốc gia văn minh. Tại Zetland có tới vài chục tòa thành Burgh như vậy, trong mọi trường hợp đều chiếm cứ các mũi đất, doi đất, hòn đảo nhỏ và những vị trí hiểm yếu tương tự được chọn lựa một cách vô cùng đắc địa. Tôi vẫn nhớ tàn tích của một tòa thành tọa lạc trên hòn đảo giữa một hồ nước nhỏ gần Lerwick — nơi vào lúc thủy triều lên có thể thông thủy ra biển; lối tiếp cận nơi đây vô cùng khéo léo thông qua một con đường đắp hoặc bờ cát nằm thấp hơn mặt nước chừng ba đến bốn inch. Con đường này bẻ một góc gập ghềnh khi tiến sát lại thành Burgh. Người dân bản xứ dĩ nhiên đã quá tường tận điều này, nhưng những kẻ lạ mặt nếu muốn tấn công và mù tịt về khúc cua của con đường ngầm ấy, chắc chắn sẽ lao tỏm xuống lòng hồ — nơi có độ sâu ít nhất từ sáu đến bảy thước. Đây hẳn phải là mưu chước của một bậc thầy công sự tầm cỡ Vauban hay Cohorn thời cổ đại.

Phong cách của những công trình này tố cáo rằng người kiến trúc sư thuở ấy hoàn toàn không nắm giữ nghệ thuật sử dụng vữa hay bất kỳ chất kết dính nào, cũng chẳng có kỹ năng bắc vòm, dựng mái hay tạo cầu thang; thế nhưng, dẫu thiếu thốn đủ đường, họ lại thể hiện sự tài tình đáng kinh ngạc trong việc chọn lựa địa thế cho các thành Burgh, điều phối lối ra vào, đồng thời giữ được sự gọn gàng, chuẩn mực trong khâu dựng xây — bởi bản thân các công trình đã minh chứng cho một bước tiến trong nghệ thuật vượt xa sự dốt nát ở rất nhiều hạng mục kiến trúc cốt lõi.

Tôi vẫn luôn nghĩ rằng một trong những mục tiêu kỳ thú và giá trị nhất của giới khảo cổ chính là dò dẫm bước tiến của xã hội qua những nỗ lực trong thời đại đồ đá nhằm cải thiện sự thô sơ của những phát minh ban đầu, cho đến khi chúng tiệm cận sự hoàn mỹ, hoặc — như trường hợp thường xảy ra hơn — bị thay thế bởi những khám phá nền tảng và mới mẻ hơn, thứ đánh trúng cả hệ thống sơ khai lẫn những cải tiến vốn bám rễ vào đó. Chẳng hạn, nếu ta hình dung phát minh gần đây về khí đốt được cải tiến vượt bậc và ứng dụng vào đời sống gia đình đến mức soán ngôi mọi phương thức thắp sáng khác; ta hoàn toàn có thể mường tượng ra cảnh vài thế kỷ sau, những bộ óc của cả một Hội Khảo cổ học phải ngả mũ trước phát minh về một chiếc kéo dập bấc đèn có bằng sáng chế, cùng với biết bao học thuyết uyên bác được đưa ra nhằm lý giải hình thù và công năng của một vật dụng kỳ lạ nhường ấy.

Dựa trên một nguyên lý tương tự, tôi nghiêng về xu hướng xem tòa lâu đài Coningsburgh kỳ lạ — ý tôi là phần kiến trúc mang dấu ấn Saxon — như một bước tiến xa hơn từ nền kiến trúc thô mộc (nếu có thể gọi đó là kiến trúc) vốn gắn liền với người Saxon cũng như các tộc người phương Bắc khác. Những người thợ xây thuở ấy đã nắm vững nghệ thuật dùng vữa và làm mái cho công trình — những bước cải tiến vượt bậc so với nguyên bản Burgh ban đầu. Thế nhưng, ở ngọn tháp tròn kiên cố — một hình dáng chỉ còn thấy ở những lâu đài cổ xưa nhất — cùng các căn phòng được khoét sâu trong phần bề dày của tường và trụ ốp, cùng với lối đi trắc trở để leo từ tầng này lên các tầng phía trên, Coningsburgh vẫn vẹn nguyên sự mộc mạc thuở sơ khai, và cho thấy con người đã phải chậm rãi trải qua biết bao nhiêu chặng đường biết nhường nào để chuyển từ việc trú ngụ trong những không gian thô kệch, bất tiện do các hành lang của Lâu đài Mousa cung cấp, sang những chốn đi về lộng lẫy hơn của các lâu đài phong cách Norman, với tất cả vẻ đẹp nghiêm cẩn và mang đậm âm hưởng Gothic của chúng.

Tôi không rõ những nhận định này có mang tính mới mẻ hay không, hoặc liệu chúng có được củng cố qua những cuộc nghiên cứu thấu đáo hơn hay không; nhưng tôi cho rằng, chỉ qua một cái nhìn thoáng qua, Coningsburgh đã mang đến những chất liệu nghiên cứu đầy kỳ thú cho bất kỳ ai muốn ngược dòng lịch sử kiến trúc trở về những thời kỳ trước cuộc Khởi chinh của người Norman.

Sẽ thật tuyệt vời biết bao nếu một mô hình bằng bần (cốc) được tạo hình từ Lâu đài Mousa, bởi cấu trúc của nó không thể thấu triệt trọn vẹn chỉ qua bản vẽ mặt bằng.

Lâu đài Coningsburgh được miêu tả như sau:

“Lâu đài có quy mô lớn, với những bức tường thành bên ngoài tọa lạc trên một sườn dốc thoải hướng ra dòng sông, nhưng bị lu mờ hẳn bởi ngọn đồi cao — nơi thị trấn tọa lạc — nằm ngay đầu một thung lũng trù phú và tráng lệ được tạo bởi vòng cung những ngọn đồi phủ đầy cây xanh, nơi dòng sông Don hiền hòa uốn lượn chảy qua. Gần lâu đài có một gò mộ, tương truyền là nơi chôn cất Hengist. Lối vào được che chở ở phía bên trái bởi một ngọn tháp tròn có phần chân đế vát thoải, và có vài ngọn tháp tương tự nằm dọc bức tường thành bên ngoài; lối vào có các trụ cổng, và ở sườn phía đông, hào sâu cùng bờ đất được làm kép và có độ dốc vô cùng lớn. Trên đỉnh bức tường nghĩa trang có một tấm bia mộ, trên đó chạm nổi hình hai con quạ, hoặc những loài chim chóc tương tự. Nơi sườn phía nam của nghĩa trang nằm một tảng đá cổ có gờ nhô lên trông giống như một chiếc quan tài, trên đó khắc hình một người kỵ mã; và một người đàn ông khác cầm khiên đang giao chiến với một con thủy quái có cánh khổng lồ, cùng một người lính mang khiên theo sau hắn. Đó có lẽ là một trong những cây thánh giá thô mộc vốn không hiếm gặp tại các nghĩa trang trong hạt này. Xin hãy xem bản khắc trên trang bản vẽ thánh giá của tập sách này, bản vẽ số 14, hình 1. Cái tên Coningsburgh, danh xưng của lâu đài này trong các ấn bản cũ của bộ sách Britannia, dễ khiến người ta lầm tưởng đây từng là nơi ngự uyển của các vị vua người Saxon. Về sau, nó thuộc quyền sở hữu của Vua Harold. Kẻ Khởi chinh đã ban tặng nó cho William de Warren, kèm theo mọi đặc quyền và quyền tài gián được cho là kéo dài qua tới hai mươi tám thị trấn. Ngay góc khoảng sân mang hình thù kỳ dị ấy chính là tòa tháp lớn, hay còn gọi là pháo đài trung tâm, tọa lạc trên một gò đất nhỏ mang kích thước riêng của nó, nơi có sáu chiếc trụ chống khổng lồ nhô ra, vươn lên theo một góc dốc đứng nhằm chống đỡ và nâng niu toàn bộ công trình, đồng thời kéo dài lên phía trên dọc theo sườn tháp thành những tháp canh nhỏ. Bên trong tháp tạo thành một vòng tròn hoàn hảo có đường kính hai mươi mốt thước Anh, với độ dày tường lên tới mười bốn thước. Lối lên tháp là một cầu thang vô cùng sâu thẳm gồm những bậc đá dốc đứng, rộng bốn thước rưỡi, nằm ở sườn phía nam dẫn tới một khung cửa thấp, phía trên có một vòm tròn được bắc ngang bởi một thanh xà đá lớn. Ngay sau cánh cửa này là bậc thang dẫn thẳng xuyên qua phần bề dày của bức tường, hoàn toàn không thông với căn phòng ở tầng một — nơi có khoảng mở dẫn xuống ngục tối ngay chính giữa. Cả hai căn phòng ở tầng thấp này đều không có ánh sáng chiếu vào ngoại trừ một lỗ thủng trên sàn của tầng thứ ba; căn phòng ở tầng này, cũng như căn phòng ngay phía trên nó, được hoàn thiện bằng những khối đá nhẵn nhụi, khít khao, cả hai đều có lò sưởi với vòm đá tựa trên những cụm cột chụm ba. Tại tầng ba — hay còn gọi là phòng canh gác — có một hốc tường nhỏ trổ khe châu mai, có lẽ từng là phòng ngủ, và ở tầng ngay phía trên là một hốc tường dành cho tượng thánh hoặc bình nước thánh. Ông King phỏng đoán đây là một tòa lâu đài Saxon thuộc những kỷ nguyên đầu tiên của thời kỳ Thất quốc. Ông Watson miêu tả nó như sau. Từ tầng một lên tầng hai (tính từ mặt đất lên là tầng ba), có một lối đi bằng cầu thang trong tường rộng năm thước. Cầu thang tiếp theo phải leo qua một chiếc thang tựa, và kết thúc ở tầng thứ tư tính từ mặt đất. Cách cửa ra vào hai thước tại đỉnh của cầu thang này là một khoảng mở hướng gần về phía đông, có thể tiếp cận bằng cách giẫm lên gờ tường — phần vốn cứ mỗi tầng lại thu hẹp lại tám inch; và khoảng mở cuối cùng này dẫn vào một căn phòng hoặc nhà nguyện rộng mười nhân mười hai thước, cao mười lăm hoặc mười sáu thước, được làm vòm bằng đá sa thạch và chống đỡ bởi những cột tròn nhỏ làm bằng chất liệu tương tự, với các phần đầu cột và vòm mang phong cách Saxon. Nơi đây có một khung cửa sổ hướng đông, và ở mỗi bên tường, cách mặt đất khoảng bốn thước, là một bồn đá có lỗ thoát cùng ống dẫn nước bằng sắt để đưa nước vào hoặc xuyên qua bức tường. Nhà nguyện này nằm trong một trong các trụ chống, nhưng hoàn toàn không có dấu hiệu nào lộ ra bên ngoài, bởi ngay cả khung cửa sổ, dẫu rộng thênh thang bên trong, cũng chỉ là một khe châu mai dài và hẹp, đứng ngoài hầu như chẳng thể nhận ra. Phía bên trái nhà nguyện là một phòng cầu nguyện nhỏ, kích thước tám nhân sáu, nằm sâu trong phần bề dày của bức tường, có hốc tường bên trong và được thắp sáng bằng một khe châu mai tương tự. Cầu thang thứ tư tính từ mặt đất, cách cửa nhà nguyện mười thước về phía tây, dẫn thẳng lên đỉnh tháp xuyên qua phần bề dày của bức tường — nơi khi lên tới đỉnh chỉ vỏn vẹn ba thước. Mỗi tầng cao khoảng mười lăm thước, nhờ đó tổng chiều cao từ mặt đất lên tới đỉnh tháp sẽ là bảy mươi lăm thước. Không gian bên trong tạo thành một vòng tròn với đường kính có lẽ rơi vào khoảng mười hai thước. Cái giếng ở tận cùng đáy ngục tối hiện đã bị chất đầy đá.” — Bản “In lần thứ hai của bộ Britannia do Camden biên soạn” do Gough thực hiện, tập iii, tr. 267.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

3 Trong Tổng Số 4 tác phẩm của Walter Scott

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.