Kẻ hoài nghi về tôn giáo là người luôn dao động trước mọi thứ quan điểm, không một quan điểm nào lay động nổi tâm can nhưng cũng chẳng bên nào lung lạc được anh ta. Một kẻ cả tin hơn vẻ bề ngoài của hắn, bởi chính vì tin vào vạn vật nên rốt cuộc hắn chẳng tin hẳn vào điều gì. Tôn giáo này dọa hắn tránh xa tôn giáo đối lập, nhưng chẳng tôn giáo nào thuyết phục nổi hắn quy y. Hắn suýt thành một tín đồ Kitô giáo nếu không vì trong thâm tâm hãy còn chút vô thần, và suýt thành kẻ vô thần nếu không vướng bận một phần Kitô giáo; hắn đã là một kẻ dị giáo hoàn hảo, ngặt nỗi có quá nhiều ngã rẽ khiến hắn phân vân. Hắn tìm thấy lý lẽ ở mọi quan điểm nhưng chẳng thấy chân lý ở đâu; thật vậy, một lý lẽ cỏn con cũng làm hắn bối rối, còn lý lẽ thấu đáo nhất cũng chẳng tài nào làm hắn thỏa mãn. Xét cho cùng, hắn chỉ là một tín đồ Kitô giáo hỗn độn và hoang dại, chẳng chịu đóng khung trong hình thức nào mà sẵn sàng dung nạp tất thảy. Hắn theo tôn giáo của xứ sở mình chỉ vì nó ở gần tay nhất, dù hắn chẳng thấy lý do gì ngăn mình chọn đạo khác; hắn chọn đạo này không phải vì nó tốt hơn, mà bởi chẳng có mấy khác biệt giữa chúng. Hắn thích vạch ra mối nghi ngờ và sự cấn cá hơn là tháo gỡ chúng, và luôn tự làm khó chính mình. Học thức của hắn quá tầm với bộ óc, phán đoán lại quá non kém so với học thức, và sự tự mãn về cả hai điều đó đã phá hỏng tất cả. Thật tiếc cho cái rủi ro được làm kẻ có chữ của hắn; bởi nó chỉ chuốc thêm sự phân tâm, hỗn loạn cho bản thân hắn và cho cả thế giới vì hắn. Hắn thường bàn lui bàn tới về sự bấp bênh trong quan điểm của chúng ta, và khả năng sai lầm khiến hắn chẳng dám dấn thân vào chân lý. Hắn phiền muộn vì tính thổ nhưỡng của tôn giáo theo từng quốc gia, rằng tại sao đạo Tin Lành lại sinh ra ở Anh còn đạo Công giáo lại ở xứ người, và rằng vận may cùng tinh tú lại chi phối quá nhiều đến thế. Hắn không ưa mối liên kết giữa phúc lợi chung và thần học, lo sợ đó có thể là một âm mưu thâm độc của triều đình.
Trong những bất đồng của chúng ta với thành Rome, tâm trí hắn kỳ lạ thay vô cùng bất định, mỗi ngày lại là một con người mới tùy theo những chiêm nghiệm từ cuốn sách bàn luận mới nhất dẫn dắt hắn. Hắn có thể mến mộ mái đầu bạc phơ của đạo Giáo hoàng, nếu như không có vài thói lú lẫn ở đó làm hắn chùn bước; hắn sẽ đến với chúng ta sớm hơn, ngặt nỗi cái tên mới mẻ của chúng ta lại làm hắn khiếp sợ. Hắn bị thu hút bởi những phép lạ của họ, nhưng lại ngờ vực đó là trò lừa bịp; hắn suy ngẫm về giáo lý của chúng ta có phần hay hơn, nhưng lại có vẻ quá trống rỗng và trần trụi. Hắn không tài nào nhét vào đầu óc mình ý niệm chân lý chỉ độc quyền ở xó xỉnh của chúng ta, và cũng khó lòng bị thuyết phục rằng những huyền thoại cổ xưa của họ là sự thật. Hắn khá ưng ý với đức tin của chúng ta, và còn ưng ý hơn với việc làm của họ, đôi khi lại vô cùng xúc động trước lòng nhiệt thành ở Amsterdam. Lương tâm hắn tự xía vào giữa những kẻ đấu kiếm, để rồi khi muốn phân rẽ cả hai, nó lại bị thương bởi cả hai bên. Có lúc hắn ngả nghiêng về phía chúng ta sau khi đọc một tác giả uy tín, nhưng rồi khi đọc Bellarmine hắn lại thụt lùi xa tít tắp; và các giáo phụ cứ xô đẩy hắn từ bờ bên này sang bờ bên kia. Giờ đây Socinus và Vorstius lại một lần nữa tra tấn tâm can hắn, và hắn chẳng đồng điệu với ai tệ hại bằng chính bản thân mình. Hắn rón rén đặt chân vào chốn dị giáo như con mèo rụt rè chạm nước rồi lại rụt chân về, mãi vướng mắc bởi những điều chưa lời giải đáp; dẫu vậy, hắn vẫn nhặt nhạnh đôi chút từ mỗi nơi, và thà bới tìm tất cả các tôn giáo trong con người hắn còn dễ hơn là tìm ra một tôn giáo duy nhất. Hắn không thể nghĩ rằng ngần ấy con người thông thái lại có thể lầm đường, hay ngần ấy người lương thiện lại đi lệch lối, và sự kinh ngạc của hắn càng nhân lên gấp bội khi thấy những kẻ ấy chống đối lẫn nhau. Hắn căm ghét uy quyền như kẻ bạo chúa của lý trí, và bạn chẳng thể làm hắn tức điên lên hơn là đem câu "lời thầy dạy" ra áp đảo, thế nhưng việc đông đảo người đời không bị thuyết phục bởi lý trí lại chính là thứ minh chứng cho mối hoài nghi của hắn. Tóm lại, cả cuộc đời hắn là một dấu hỏi chấm, và sự cứu rỗi của hắn còn là một dấu hỏi to lớn hơn, để rồi chỉ có cái chết mới đưa ra kết luận, và khi ấy hắn mới thực sự được giải đáp.
Chú thích
[58] Robert Bellarmin, một tu sĩ dòng Tên người Ý, sinh tại Monte Pulciano, một thị trấn thuộc vùng Tuscany, vào năm 1542, và gia nhập dòng Tên vào năm 1560. Năm 1599, ông được phong mũ hồng y, và đến năm 1602 được trao chức Tổng giám mục Capua; tuy nhiên, ông đã từ từ chức này vào năm 1605, khi giáo hoàng Paul V muốn giữ ông ở bên cạnh mình. Ông tham gia các công việc của triều đình Rome cho đến năm 1621, khi đó, rời khỏi Điện Vatican, ông lui về một tu viện thuộc dòng của mình và qua đời vào ngày 17 tháng Chín cùng năm.
Bellarmin là một trong những nhà văn biện giáo xuất sắc nhất thời bấy giờ; ít có tác giả nào làm rạng danh cho nghề nghiệp hay quan điểm của mình hơn ông, và chắc chắn rằng chưa từng có ai bảo vệ giáo lý Công giáo một cách tài tình hơn, hay đấu tranh cho giáo hoàng một cách đắc lực hơn. Để minh chứng cho tài năng của Bellarmin, hầu như không có nhà thần học Tin Lành nổi tiếng nào lại không lên tiếng công kích ông; Bayle đã nhận xét rất đúng rằng: "họ làm cho tên tuổi của ông vang dội khắp nơi, ut littus Styla, Styla, omne sonaret."
[59] Faustus Socinus vốn là nhân vật rất nổi tiếng với tư cách là người sáng lập ra giáo phái mang tên mình, thiết tưởng chỉ cần điểm qua đôi nét là đủ. Ông sinh năm 1539 tại Sienna, và tiếp thu những tư tưởng của mình từ sự chỉ dạy của người chú – người vẫn luôn đánh giá cao và đặt niềm tin vào tài năng của người cháu, đồng thời để lại toàn bộ tài liệu cho ông. Sau nhiều năm bôn ba ở đời, chủ yếu tại triều đình của Francis de Medicis, Socinus đã đến Đức vào năm 1577 và bắt đầu truyền bá các nguyên tắc của người chú, mà theo người ta đồn đại, ông đã bổ sung và sửa đổi rất nhiều theo ý mình. Để bảo vệ quan điểm của bản thân, ông đã phải chịu đựng nhiều gian khổ lớn lao, gánh chịu không biết bao nhiêu sự lăng mạ và bách hại; để tránh né những điều đó, ông đã lui về một nơi gần Cracow ở Ba Lan, và mất tại đó vào năm 1504, thọ sáu mươi lăm tuổi.
[60] Conrade Vorstius, một nhà thần học uyên bác từng bị phái Calvin vô cùng că ghét, thậm chí còn vinh dự bị chính vua James I của nước Anh công kích, sinh năm 1569. Bị buộc phải rời khỏi Leiden – nơi ông từng giữ chức giáo sư thần học cùng nhiều bổng lộc khác – do sự can thiệp từ đại sứ của vua James, ông lui về Toningen và qua đời tại đó vào năm 1622 với những biểu hiện sâu sắc của lòng sùng kính và sự phó thác.