Vài ngày sau tôi đặt chân đến Roma, với mục đích tìm nơi cư ngụ.
Tại sao là Roma chứ không phải nơi khác? Lý do thật sự bây giờ tôi đã thấy, sau tất cả những thứ đã xảy ra với tôi. Nhưng tôi sẽ không trình bày lý do ấy để tránh làm gián đoạn lời kể của mình bằng những suy ngẫm hoàn toàn không hợp lý tại thời điểm này. Tôi đặt chân tới Roma, trên hết vì tôi chuộng Roma hơn bất kỳ thành phố nào khác, và rồi cũng vì tôi thấy đây là nơi lý tưởng nhất để một kẻ lang thang như tôi lui về ở ẩn, giữa vô vàn những kẻ lang thang khác.
Việc lựa chọn một ngôi nhà, hay nói đúng hơn là một căn phòng nhỏ bé khiêm nhường, trên một con phố vắng lặng và trong một gia đình khả dĩ, khiến tôi lao tâm khổ tứ. Cuối cùng tôi cũng tìm thấy ngôi nhà ấy ở đường Ripetta, mặt tiền hướng ra sông1. Thú thực, ấn tượng đầu tiên về cái gia đình sẽ tiếp nhận tôi chẳng mấy khả quan; tới mức khi trở về khách sạn, tôi cứ băn khoăn mãi, liệu có nên tiếp tục tìm kiếm hay không.
Trên cửa, ở tầng tư, có hai bảng tên: PALEARI một bên, PAPIANO một bên; bên dưới gắn một tấm danh thiếp, đính bằng hai chiếc đinh đồng, có ghi: Silvia Caporale.
Ra mở cửa cho tôi là một người đàn ông đã ngoại lục tuần (Paleari? Papiano?). Ông mặc quần lót lụa, cặp chân trần xỏ trong đôi dép xù xì, mình trần, hồng hào, tuyệt không một sợi lông, hai bàn tay đầy xà phòng, trên đầu cũng phủ một lớp bọt bong bóng.
– Ôi xin lỗi! – Ông ta thốt lên. – Tôi cứ tưởng là bà người hầu. Xin hãy bình tĩnh: bộ dạng tôi thế này… Adriana! Terenzio! Ra đây, ngay lập tức! Ra xem có một quý ông này… Xin ngài hãy bình tĩnh một chút; ngài muốn… Ngài muốn hỏi gì?
– Ở đây còn một phòng kèm đồ đạc cho thuê chứ?
– Còn thưa ngài. Con gái tôi kia: nó sẽ tiếp chuyện ngài. Nhanh lên, Adriana, căn phòng!
Bỗng một thiếu nữ xuất hiện với vẻ bối rối. Trông nàng be bé, tóc vàng, làn da trắng, đôi mắt xanh màu thiên thanh, ngọt ngào mà man mác buồn, cũng như tất thảy khuôn mặt nàng. Adriana, tên nàng cũng giống tên tôi! “Ồ, xem kìa!” Tôi nghĩ. “Thật tình cờ trùng hợp làm sao!”
– Mà Terenzio đâu rồi? – Người đàn ông đầu đầy bọt bong bóng hỏi.
– Ôi Chúa ơi, bố, bố biết thừa là anh ta đang ở Napoli từ hôm qua rồi kia mà. Bố đi vào đi! Nếu bố thấy mình lúc này… – Thiếu nữ bé nhỏ nọ hoảng hốt trả lời bằng một chất giọng dịu dàng mà, ngay cả khi có chút khó chịu, chất giọng ấy vẫn thể hiện được bản chất ngọt ngào của nàng.
Ông bố rút lui, miệng nhắc đi nhắc lại: – Phải rồi! Phải rồi! -Ông ta kéo lê đôi dép đi trong nhà, tiếp tục thoa xà phòng lên cái đầu nhẵn thín và cả bộ râu trắng xám to bự.
Tôi chẳng thể nhịn cười, nhưng tôi nở nụ cười hiền từ, để không làm cô con gái thêm phần hoảng hốt. Nàng khẽ nheo đôi mắt như để né tránh nụ cười của tôi.
Thoạt tiên tôi những tưởng nàng là một thiếu nữ. Nhưng khi quan sát kĩ những đường nét trên gương mặt, tôi nhận ra nàng đã là phụ nữ, và vì vậy nàng phải mặc bộ váy trong nhà kia. Bộ váy đó khoác cho nàng cái vẻ vụng về khi nó chẳng vừa với dáng vóc và đặc điểm khuôn mặt của một phụ nữ bé nhỏ như nàng. Nàng đương để tang.
Nàng thấp giọng, tránh nhìn tôi (ai mà biết được thoạt tiên tôi đã tạo cho nàng ấn tượng như thế nào!). Qua một hành lang tăm tối, nàng dẫn tôi vào căn phòng tôi định thuê. Mở cửa vào, tôi thấy như lồng ngực mình được rộng mở trước không khí, trước ánh sáng đương tràn ngập căn phòng qua hai khung cửa sổ khoáng đạt nhìn ra sông. Từ trong phòng phóng mắt nhìn xa có thể thấy đỉnh đồi Monte Mario, cầu Margherita và tất cả khu Prati mới dựng, mãi đến tận lâu đài Castel Sant’Angelo. Ngay phía dưới phòng là cầu Ripetta cổ và cây cầu mới đương được dựng ngay cạnh bên. Xa hơn ngoài kia là cầu Umberto và tất thảy những ngôi nhà cổ ở khu Tordinona uốn cong theo triền sông. Cuối cùng, ở bờ bên này là ngọn đồi Janiculum xanh mướt và đài phun nước vĩ đại của nhà thờ San Pietro in Montorio cùng bức tượng Garibaldi cưỡi trên lưng ngựa.
Chính vì góc nhìn rộng mở ấy mà tôi chọn thuê căn phòng, và thêm nữa cũng bởi căn phòng ấy được trang trí với sự giản đơn thanh thoát bằng những tấm giấy dán tường màu sáng, trắng và xanh da trời.
– Ban công bên cạnh này, – người phụ nữ bé nhỏ mặc bộ váy trong nhà nọ nói với tôi, – cũng thuộc quyền sở hữu của chúng tôi, ít nhất là hiện giờ. Người ta bảo sẽ phá nó đi, vì nó nhô ra ngoài.
– Nhô… gì cơ?
– Nhô ra ngoài: nói như vậy không phải sao? Nhưng còn lâu, phải đến khi họ làm xong đường Lungotevere đã.
Nghe nàng nói nhỏ nhẹ, giọng nghiêm túc, mà nàng lại mặc váy áo kiểu kia, tôi cười và nói:
– À vậy à?
Nàng giận. Nàng hạ mắt và mím môi thật nhẹ. Để làm nàng vui, cả tôi cũng bắt đầu nói với giọng nghiêm túc:
– À… xin lỗi, tiểu thư: nhà này không có trẻ con2, phải vậy không?
Nàng lắc đầu mà chẳng mở miệng. Có lẽ trong câu hỏi của tôi nàng vẫn thấy chút gì mỉa mai, mà tôi đâu có muốn như vậy. Tôi đã nói các bé trai chứ không phải các bé gái. Tôi vội vàng chữa lời lần nữa:
– Vậy… tiểu thư cho hỏi: ở đây không cho thuê cả các phòng khác nữa, đúng không?
– Đây là phòng tốt nhất rồi, – nàng trả lời mà chẳng thèm nhìn tôi. – Nếu ngài thấy không thoải mái…
– Không không… Tôi hỏi để biết nếu như…
– Chúng tôi có cho thuê một phòng nữa, – nàng nói, mắt hướng lên với ánh nhìn thờ ơ gượng gạo. – Phòng đằng kia, phía đối diện… nhìn ra mặt đường. Có một quý cô thuê phòng ấy và ở với chúng tôi cho tới nay đã được hai năm: chị ấy dạy đàn piano… nhưng không dạy ở nhà.
Nàng vừa nói, vừa hé một nụ cười nhè nhẹ, phảng phất ánh buồn. Nàng nói tiếp:
– Có tôi, bố tôi và anh rể tôi…
– Ông Paleari?
– Không: Paleari là bố tôi; anh rể tôi tên Terenzio Papiano. Anh ấy sẽ phải đi khỏi đây, cả em trai anh ấy hiện đang ở với chúng tôi nữa. Chị gái tôi đã mất… được sáu tháng rồi.
Để đổi chủ đề, tôi hỏi nàng tiền thuê tôi phải trả là bao nhiêu. Chúng tôi thỏa thuận ngay tức thì. Tôi hỏi nàng liệu có cần đặt cọc hay không.
– Tùy ngài, – nàng đáp. – Hoặc ngài có thể để lại tên mình…
Với nụ cười lo âu, tôi đưa tay lên ngực và nói:
– Tôi không có… không có đến một tấm danh thiếp… Tôi tên Adriano, vâng, chính vậy đấy: tôi đã nghe qua rằng tiểu thư cũng tên là Adriana. Có thể tiểu thư sẽ thấy phiền…
– Không đâu! Tại sao cơ chứ? – Nàng nói, hẳn đã nhận ra sự xấu hổ ngốc nghếch của tôi và lần này nàng cười hệt như một bé gái.
– Vậy thì, nếu tiểu thư không phiền, tôi tên là Adriano Meis: thực vậy! Tôi có thể ở đây luôn tối nay hay không? Hoặc sáng mai tôi quay lại thì hơn…
Nàng đáp: “Như ngài muốn,” – thế nhưng tôi ra về với ấn tượng rằng nàng hẳn sẽ hạnh phúc lắm nếu tôi không trở lại. Tôi đã cả gan không coi trọng bộ váy mặc ở nhà của nàng.
Tuy nhiên, chỉ vài ngày sau, tôi đã được thấy và chứng kiến tận mắt rằng cô nàng tội nghiệp ấy buộc phải mặc bộ váy trong nhà kia, mà nếu có thể thì nàng rất sẵn lòng cởi bỏ. Tất thảy gánh nặng gia đình đặt trên vai nàng, và thực rắc rối nếu nàng không sẵn sàng đảm đương!
Ông bố, Anselmo Paleari, cái ông lão đã ra mở cửa cho tôi trong khi đầu phủ đầy bọt bong bóng xà phòng, ông ấy có bộ não cũng hệt như bong bóng vậy. Ngày tôi đặt chân vào nhà, ông tự giới thiệu với tôi, chẳng phải vì, – ông nói, – để xin lỗi vì sự xuất hiện khiếm nhã lần trước của ông, mà vì cái thú được làm quen với tôi, bởi tôi có phong thái của một học giả hay một nghệ sĩ, có thể chăng:
– Tôi nhầm sao?
– Ngài nhầm rồi. Nghệ sĩ… hoàn toàn không! Học giả… cũng tầm tầm… Tôi thích đọc vài cuốn sách.
– Ồ, ngài có nhiều cuốn hay đó! – Ông nói khi thấy gáy một vài cuốn tôi đã đặt trong ngăn kéo bàn. – Rồi một ngày nào đó, tôi cũng sẽ cho ngài xem những cuốn của tôi nhé? Tôi cũng có nhiều cuốn hay. Nhưng!…
Rồi ông nhún vai và đứng nguyên ở đó, mơ mộng, đôi mắt vô hồn, hiển nhiên chẳng nhớ được gì, chẳng nhớ nổi bản thân đang ở đâu hay với ai. Ông lặp lại đôi lần: – Nhưng!… Nhưng!, - khoé miệng trễ xuống, ông quay lưng rời đi mà chẳng chào tôi.
Thoạt tiên, tôi ngỡ ngàng. Nhưng rồi, khi ông cho tôi xem những cuốn sách có trong phòng của ông, như đã hứa, tôi không chỉ hiểu ra sự xao nhãng thoáng chốc của ông, mà còn nhiều thứ khác nữa. Những cuốn sách kia đều mang tiêu đề kiểu: Cái chết và thế giới bên kia – Con người và thân thể – Bảy nguyên tắc của loài người – Nhân quả – Chìa khóa thuyết thần trí – A B C của thuyết thần trí – Học thuyết bí mật – Cõi Trung giới - vân vân và vân vân…3
Ông Anselmo sống với Thuyết thần trí4.
Người ta cho ông về hưu trước thời hạn, khi đang tại nhiệm chức trưởng bộ phận trong một bộ nào đó tôi chẳng biết. Họ đã đảo lộn cuộc đời ông, không chỉ về mặt tài chính, mà còn bởi khi đã tự do và làm chủ thời gian của mình, giờ đây ông chìm đắm vào những nghiên cứu viển vông và những suy nghĩ trừu tượng. Hơn bao giờ hết ông lùi xa khỏi thế giới vật chất. Ít nhất non nửa lương hưu ông dùng vào việc sắm đống sách kia. Ông ấy đã lập được hẳn một thư viện nhỏ. Thế nhưng, Thuyết thần trí chắc không thỏa mãn ông hoàn toàn. Chắc hẳn con mối của sự chỉ trích đã gặm nhấm ông, bởi bên cạnh những cuốn sách về Thuyết thần trí kia, ông còn cả một bộ sưu tập phong phú những cuốn tiểu luận và nghiên cứu triết học cổ đại lẫn hiện đại và cả những cuốn khảo cứu khoa học. Thời gian gần đây ông thiên về những thử nghiệm tâm linh.
Ông ấy đã tìm thấy trong quý cô Silvia Caporale, giáo viên dạy piano, người thuê nhà ông, những khả năng tâm linh tuyệt diệu, dù thực ra vẫn chưa được phát triển và hoàn thiện. Thế nhưng với thời gian và sự luyện tập, khả năng ấy chắc chắn sẽ được phát triển, cho tới khi quý cô nọ chứng tỏ được bản thân vượt xa những những đồng cốt có tiếng nhất.
Về phần mình, tôi có thể khẳng định rằng mình chưa bao giờ nhìn thấy một gương mặt xấu xí phàm tục đến vậy, hệt một chiếc mặt nạ Carnevale5; hay một đôi mắt nào đau khổ hơn đôi mắt của quý cô Silvia Caporale. Đôi mắt cô đen vô cùng, cương nghị, to tròn. Đôi mắt ấy cho người ta cái ấn tượng rằng hẳn đằng sau có gắn đối trọng bằng chì, y hệt những con búp bê tự động. Quý cô Silvia Caporale đã hơn bốn mươi và có hẳn một bộ ria mép dưới chiếc mũi tựa một quả bóng ưng ửng đỏ.
Sau tôi mới biết cô ta là một người phụ nữ điên dại vì tình, và cô nghiện rượu. Cô tự biết mình xấu, giờ còn già và tuyệt vọng, vậy là cô uống. Một vài đêm cô trở về nhà trong tình trạng đáng thương vô cùng: chiếc mũ cong tớn, chiếc mũi trông như quả bóng của cô đỏ ửng như củ cà rốt, còn đôi mắt lờ đờ, đau thương hơn bao giờ hết.
Cô vật mình xuống giường, và ngay lập tức tất cả số rượu vang đã tiêu thụ trước đó trào ra qua hai hàng nước mắt vô tận. Thấy vậy, cô nàng bé nhỏ mặc bộ váy trong nhà sẽ chạy tới mà ôm cô vào lòng, an ủi cô tới tận đêm khuya: nàng thương cô, tình thương đánh tan cảm giác chếnh choáng trong cô. Nàng biết cô chỉ có một mình trên thế gian và bất hạnh vô cùng, thêm cơn giận dữ kìm nén trong thân thể khiến cô thù ghét cuộc sống, thứ mà cô đã hai lần định từ bỏ. Nàng nhẹ nhàng bắt cô phải hứa sẽ ngoan, sẽ không làm như thế nữa. Và vâng thưa quý vị, ngày hôm sau cô ta xuất hiện với một bộ phục trang kệch cỡm, làm vài động tác hệt như khỉ, bỗng chợt chuyển mình thành một đứa bé gái ngây thơ kì cục.
Vài lire mà cô ta kiếm được nhờ đệm đàn cho một ca sĩ nghiệp dư ở một quán cà phê kiêm rạp hát nào đó, tất cả đều đổ vào rượu hoặc quần áo. Cô chẳng trả lấy một đồng tiền thuê nhà lẫn chút đỉnh tiền ăn uống trong gia đình. Nhưng làm sao người ta đuổi cô đi cho được. Ông Anselmo Paleari sẽ phải làm thế nào với đống thử nghiệm tâm linh của mình?
Rốt cục thì còn một lý do khác. Hai năm trước, khi mẹ mất, cô Caporale đã tìm nơi khác để sinh sống. Khi tới đây sống cùng nhà Paleari, cô đã gửi gắm số tiền thu được từ việc bán lại đồ đạc trong căn nhà cũ cho Terenzio Papiano, khoảng sáu ngàn lire, để chung vốn vào một thương vụ mà hắn bảo đảm sẽ sinh lời: sáu ngàn lire ấy giờ mất tăm.
Khi chính quý cô Caporale khóc lóc mà thú nhận với tôi, và tôi đã có thể phần nào đó tha thứ cho ông Anselmo Paleari. Thoạt tiên tôi những tưởng chỉ vì sự điên rồ của bản thân mà ông đã lưu giữ một người phụ nữ kiểu ấy ở gần con gái mình.
Thế nhưng chẳng có gì đáng sợ đối với Adriana bé nhỏ, thật tâm thánh thiện và quá đỗi thông thái, tâm hồn nàng thấy ghê tởm hơn tất thảy những thực nghiệm thần bí của ông bố, và mấy lần gọi hồn thông qua quý cô Caporale nọ.
Adriana bé nhỏ sùng đạo. Ngay ngày đầu tiên, tôi đã nhận ra điều ấy nhờ chậu nước thánh bằng thủy tinh xanh được treo lên tường phía trên bàn ngủ, cạnh giường tôi. Tôi ngả lưng với điếu thuốc ngậm miệng còn đương cháy, và bắt đầu thả mình vào một trong những cuốn sách của ông Paleari. Trong vô thức, tôi ném tóp thuốc đã tắt vào trong chậu nước thánh. Ngày hôm sau, chậu nước thánh không còn ở đó nữa. Thay vào đó, trên bàn ngủ có một chiếc gạt tàn. Tôi hỏi nàng xem có phải nàng đã tháo chậu nước thánh xuống. Mặt ửng đỏ, nàng đáp:
– Thực tình xin lỗi ngài, tôi tưởng ngài cần một cái gạt tàn lắm mà.
– Nhưng đích thực là có nước thánh trong chậu hay sao?
– Có. Chúng tôi có nhà thờ San Rocco ngay đối diện…
Thế rồi nàng rời đi. Người phụ nữ bé nhỏ ấy những tưởng tôi là một kẻ mộ đạo, khi nàng lấy nước thánh ở nhà thờ San Rocco để cho vào chậu nước thánh của tôi? Cho chậu của tôi và cả chậu của nàng, hiển nhiên rồi. Ông bố hẳn nhiên không dùng đến thứ ấy. Và trong chậu nước thánh của quý cô Caporale, giả như cô ta có nó đi chăng nữa, thì hẳn trong đó cũng toàn rượu thánh.
*
Từ lâu tôi đã cảm thấy như lơ lửng trong một khoảng không lạ kỳ, và chỉ cần một chất xúc tác nhỏ nhất có thể làm tôi rơi vào một dòng suy nghĩ triền miên. Chuyện chậu nước thánh này khiến tôi nghĩ lại, rằng từ tấm bé, tôi đã chẳng quan tâm đến những tập tục tôn giáo, cũng chẳng đến bất cứ nhà thờ nào cầu nguyện ngoài những lúc Pinzone dắt tôi cùng Berto tới, theo lệnh mẹ. Tôi chưa bao giờ cảm thấy nhu cầu phải tự vấn xem liệu mình có lòng tin hay không. Và Mattia Pascal đã chết một cái chết tồi tệ mà chẳng được tôn giáo cứu giúp.
Bất chợt, tôi thấy mình trong một tình cảnh thực đặc biệt. Đối với tất cả những kẻ mà tôi đã từng quen biết, tôi đã trút bỏ được -chẳng biết là xấu hay tốt – suy nghĩ nhọc nhằn và gây tổn thương nhất của một người đương sống: suy nghĩ về cái chết. Ai mà biết được có bao nhiêu kẻ ở Miragno đã nói:
– Rốt cục thì anh ta cũng sung sướng! Dù thế nào đi chăng nữa, anh ta cũng đã giải quyết xong vấn đề lớn nhất rồi.
Trong khi ấy, tôi chẳng giải quyết được vấn đề gì cả. Bây giờ tôi cầm những cuốn sách của ông Anselmo Paleari trong tay, những cuốn dạy về người chết, những người thực sự đã chết. Họ đang phải chịu tình cảnh y hệt tôi, trong “lớp vỏ” của Kâmaloka - Cõi dục vọng. Đặc biệt là những kẻ tự sát: tác giả cuốn Plan Astral - Cõi Trung giới (premier degré du monde invisible, d’après la théosophie, tang thứ nhất của thế giới vô hình, theo Thuyết thần trí), ông Leadbeater6 mô tả họ như những kẻ rạo rực bởi tất cả những cám dỗ của loài người, nhưng họ không thể thỏa mãn bởi cơ thể trần tục bị tước bỏ, mà họ chẳng nhận thức được là mình đã đánh mất nó.
“Ồ, ngẫm một chút xem nào,” tôi nghĩ, “biết đâu mình đã chết đuối bên cái cối xay khu Lồng gà, trong khi đó mình vẫn ảo tưởng rằng bản thân còn sống.”
Người ta vẫn cho rằng vài loại điên rồ có tính lây lan. Loại của ông Paleari, dù thoạt tiên tôi đã gắng sức chống chọi, nhưng rốt cục nó cũng bám dính lấy tôi. Cũng chẳng phải tôi hoàn toàn tin rằng mình đã chết: cái chết cũng không quá tệ, bởi việc nặng nhọc nhất là chết đi, và một khi đã chết, tôi chẳng tin người ta lại có cái ước muốn đáng buồn là sống dậy. Bỗng chợt tôi nhận ra mình phải chết thêm lần nữa: đây mới là điều tệ hại! Liệu sẽ có ai nhớ đến tôi nữa? Sau vụ tự sát của tôi ở Lồng gà, hiển nhiên tôi chẳng còn gì khác phía trước ngoài cuộc sống. Và kìa, giờ đây: ông Anselmo Paleari cứ liên tục đẩy tôi tới trước bóng tối của cái chết.
Ông chẳng biết nói gì khác, người đàn ông thánh thiện này! Ông ấy nói với lòng nhiệt thành, và thi thoảng khi câu chuyện lên đến cao trào, từ trong ông tuôn trào những hình ảnh và một vài biểu hiện kỳ dị mà khi nghe ông ấy nói, tôi lập tức muốn được trốn chạy khỏi ông và đi tìm nơi khác sống. Thế nhưng dù cho đôi lúc tôi cảm thấy ấu trĩ, học thuyết và lòng tin của ông Paleari cũng an ủi tôi phần nào. Và khi tôi nhận ra sự thật rằng một ngày nào đó, tôi sẽ phải chết một cái chết thật, thì tôi chẳng thấy phiền khi nghe người khác nói về cái chết theo cách ấy.
– Có logic không? – Ngày nọ ông hỏi tôi, sau khi đọc cho tôi nghe một đoạn trong một cuốn của Finot7 đầy rẫy triết lý cảm tính u ám, cứ như thể giấc mơ của một tên đào mộ nghiện ngập về cuộc sống của các loài giòi bọ sản sinh từ những thân thể thối rữa. – Có logic không? Vật chất, vâng, vật chất: chúng ta hãy cứ cho rằng tất thảy mọi thứ đều là vật chất. Thế nhưng có hàng loạt hình dáng, kiểu cách, hay tính chất của vật chất: có hòn sỏi và khí ether8 không trọng lượng, lạy Chúa! Trên cơ thể của chính tôi có móng, có răng, có lông, và chết tiệt, có hẳn những mô mắt mỏng manh vô cùng. Giờ thì, vâng thưa ngài, ai có thể phủ nhận rằng thứ mà chúng ta gọi là linh hồn có thể chính nó cũng là vật chất? Nhưng ngài cũng phải đồng ý với tôi rằng nó chẳng phải loại vật chất như móng, như răng, hay như lông: nó là ether, hay loại gì tôi chẳng biết. Ether, vâng, ngài cứ giả định vậy, nhưng linh hồn thì không ư? Có logic không? Nó cũng là vật chất, vâng thưa ngài. Hãy theo dòng suy luận của tôi, và xem tôi đi tới đâu, kể cả khi thừa nhận tất cả. Chúng ta đến với Tự nhiên. Bây giờ chúng ta coi loài người như kẻ thừa kế của vô vàn các thế hệ, có phải không? Như một thành phẩm từ cái dây chuyền chậm chạp của Tự nhiên. Ngài, ngài Meis thân mến, cho rằng loài người là thú vật, một con thú độc ác vô cùng mà nếu xét tổng thể thì thực đáng khinh? Tôi thừa nhận cả điều này, và tôi cho rằng: ngài nói đúng, trong các nấc thang vạn vật, loài người chẳng có một chỗ đứng vượt trội; từ giống trùng lên tới con người, cứ cho là có tám, hay bảy, hay chỉ năm bậc đi. Nhưng, lạy Chúa! Tự nhiên đã gắng gượng suốt hàng ngàn, hàng ngàn và hàng ngàn thế kỷ để leo được năm bậc này, từ loài trùng cho đến loài người; mọi thứ phải tiến hóa, đúng vậy không? Từ loài trùng, vật chất cố gắng đạt được hình dáng và thể chất ở bậc này, để trở thành con thú có khả năng cướp bóc, con thú giết chóc, con thú lừa lọc, nhưng vẫn đủ khả năng viết Thần Khúc, ngài Meis ạ, đủ khả năng để hy sinh như mẹ ngài hay mẹ tôi đã làm; và bỗng nhiên, tách, mọi thứ trở về con số không? Có logic hay không? Mũi tôi, chân tôi sẽ trở thành trùng, chứ không thể nào là linh hồn tôi được! Cả linh hồn cũng là vật chất, vâng thưa ngài, ai bảo không phải chứ? Nhưng không giống mũi hay chân tôi. Có logic hay không?
– Xin lỗi, ngài Paleari, – tôi phản đối, – nếu một người đàn ông tốt bụng đương tản bộ rồi bị ngã đập đầu, cuối cùng thành dở hơi. Vậy linh hồn ở đâu?
Ông Anselmo chững lại một giây để quan sát, cứ như thể sẽ có một hòn đá bất chợt rơi trước chân ông ấy vậy.
– Linh hồn ở đâu?
– Vâng, ngài hoặc tôi, tôi dù rằng không phải là một người đàn ông tốt bụng, nhưng… thôi, thế này: tôi tản bộ, bị ngã, đập đầu xuống đất, thành dở hơi. Vậy linh hồn ở đâu?
Ông Paleari đan tay vào nhau và, với vẻ thấu cảm hiền từ, ông đáp:
– Nhưng, lạy Chúa tôi, sao ngài lại muốn ngã đập đầu chứ, ngài Meis thân mến?
– Đấy là giả dụ vậy…
– Nhưng không thưa ngài: ngài cứ tản bộ thoải mái. Cứ xem mấy người già, họ chẳng có nhu cầu ngã đập đầu, nhưng tự nhiên họ vẫn thành dở hơi đó thôi. Vậy ý ngài là gì? Ngài muốn với cái thử nghiệm ấy, rằng khi cơ thể xuống cấp, ngay cả linh hồn cũng lụi tàn, để chứng minh rằng sự biến mất của vật này đồng nghĩa với sự biến mất của vật kia? Nhưng xin lỗi! Ngài cứ thử nghĩ đến trường hợp còn lại xem: những người mà thân thể đã vô cùng mỏi mệt nhưng ánh sáng của linh hồn vẫn luôn ngời tỏ mãnh liệt: như Giacomo Leopardi9 và hàng loạt những người già khác, ví như Giáo Hoàng Leo XIII! Vậy thì sao? Ngài hãy thử tưởng tượng đến chiếc đàn piano và người nghệ sĩ: tới một thời điểm nào đó, khi đang chơi, chiếc đàn bị lệch tông; một phím không đánh được nữa; hai, ba dây bị đứt; vậy thì sao chứ! Với một thứ nhạc cụ xuống cấp đến vậy, người nghệ sĩ, dù cho có tài giỏi vô cùng, cũng buộc phải chơi một bản nhạc không hề dễ nghe. Và nếu chiếc piano chẳng thể cất tiếng, vậy người nghệ sĩ cũng không tồn tại luôn hay sao?
– Vậy não bộ là chiếc đàn piano; còn người chơi là linh hồn?
– Một phép đối chiếu cũ rích thôi, ngài Meis ơi! Nếu não bộ mỏi mệt, chắc chắn linh hồn cũng sẽ ngớ ngẩn, hay điên rồ, hay thế nào tôi chẳng rõ. Có nghĩa là nếu người nghệ sĩ làm hỏng nhạc cụ, không phải vì vô tình, mà do bất cẩn hay cố ý, thì người ấy sẽ phải đền: ai làm hỏng thì phải đền: phải đền tất cả, phải đền. Nhưng đây là một vấn đề khác. Xin lỗi, đối với ngài, nó chẳng có nghĩa lý gì hay sao, rằng tất cả nhân loại, tất cả, kể từ thời đại xa xưa nhất mà chúng ta biết đến, đã luôn luôn có lòng hướng đến một cuộc sống khác ở thế giới bên kia? Đấy là một sự thật, một sự thật với minh chứng rõ ràng.
– Người ta nói: bản năng gìn giữ bản thân…
– Nhưng không thưa ngài, tại sao tôi chẳng bận tâm đến nó, ngài có biết không? Đến cái túi da thối đang bao phủ lấy tôi đây! Nó khiến tôi nặng trĩu. Tôi chịu đựng nó chỉ bởi tôi phải chịu đựng nó. Nhưng nếu người ta chứng minh cho tôi thấy, hỡi ôi, rằng sau khi đã chịu đựng nó thêm năm năm, sáu năm hay mười năm, tôi sẽ chẳng tìm thấy ý nghĩa gì, và rằng lúc ấy mọi thứ sẽ kết thúc, vậy tôi sẽ vứt bỏ lớp da ấy ngay ngày hôm nay, chính giây phút này: trong trường hợp ấy, bản năng gìn giữ bản thân ở đâu? Tôi gìn giữ bản thân chỉ bởi vì tôi cảm thấy cuộc đời tôi không thể kết thúc thế này được! Nhưng người ta cũng nói rằng cá nhân đơn lẻ là một chuyện, cả nhân loại là chuyện khác. Một cá thể lụi tàn, cả giống loài vẫn tiếp tục quá trình tiến hóa. Một cách lý giải hay! Nhưng hãy nhìn nhận một chút! Nếu vậy thì nhân loại không phải là tôi, không phải là ngài và không phải là bất kỳ ai. Và chẳng phải mỗi chúng ta đều có một cảm xúc giống nhau hay sao, rằng khi tất thảy gói gọn chỉ trong hơi thở tàn tạ là cuộc sống trần tục của chúng ta, thì đây là điều vô lý và tàn nhẫn nhất: năm mươi, sáu mươi năm nhàm chán, khổ cực, mệt mỏi: vì lý do gì? Chẳng vì gì cả! Vì nhân loại? Nhưng nếu ngay cả nhân loại một ngày kia cũng sẽ diệt vong? Ngài hãy nghĩ một chút mà xem: vậy tất cả cuộc sống này, tất cả tiến trình này, tất cả quá trình tiến hóa này vì lý do gì mà xảy ra? Chẳng vì gì cả? Vậy mà trong khi đó họ vẫn nói hư vô, cái hư vô thuần khiết chẳng tồn tại… Cuộc sống này chỉ giúp phục hồi một hành tinh, đúng không? Như hôm nọ ngài đã nói. Được: cứ cho là phục hồi; nhưng ta phải xem nó có ý nghĩa gì. Cái xấu xa của khoa học, ngài nghĩ xem, ngài Meis, nằm tất cả ở đây: rằng nó chỉ muốn chiếm trọn cuộc sống mà thôi.
– À, – tôi thở dài và mỉm cười, – bởi chúng ta phải sống…
– Nhưng chúng ta cũng phải chết! – Ông Paleari phản bác.
– Tôi hiểu; nhưng tại sao phải nghĩ nhiều đến nó vậy?
– Tại sao? Bởi chúng ta chẳng thể hiểu được cuộc sống, nếu chúng ta không giải nghĩa được cái chết bằng một cách nào đó! Tiêu chí chính trong những hành động của chúng ta, cuộn dây đưa chúng ta thoát khỏi chốn mê cung này, tựu trung lại là ánh sáng, ngài Meis, ánh sáng phải khởi nguồn từ bên kia, từ cái chết.
– Ánh sáng giữa muôn vàn bóng tối phỏng có tác dụng gì?
– Bóng tối? Bóng tối với ngài thôi! Hãy thử thắp lên một ngọn đèn của đức tin, với những giọt dầu tinh khiết của tâm hồn. Không có ngọn đèn ấy, ta sẽ lang thang giữa đời như biết bao kẻ mù lòa, ngay cả với tất cả những ánh sáng đèn điện mà chúng ta đã phát minh ra! Đối với cuộc sống, đèn điện là một thứ rất tốt, tuyệt vời là đằng khác; nhưng chúng ta, ngài Meis thân mến, chúng ta cần ngọn đèn kia để thắp sáng đôi chút cho cái chết đương tới. Ngài xem, một vài tối, tôi cũng thắp lên một chiếc đèn lồng nho nhỏ bằng kính đỏ; cần phải thử nghiệm bằng mọi cách, ta phải cố gắng nhìn sang phía bên kia. Bây giờ, Terenzio, con rể tôi đang ở Napoli. Cậu ấy sẽ quay trở lại sau vài tháng, lúc ấy tôi sẽ mời ngài dự khán một buổi gọi hồn khiêm nhường của chúng tôi, nếu ngài muốn. Và ai biết được nếu ngọn đèn lồng nho nhỏ kia… Thôi, tôi sẽ không tiết lộ với ngài thêm nữa.
Rõ ràng, sự có mặt của ông Anselmo Paleari chẳng dễ chịu gì. Nhưng suy cho cùng, tôi nào có thể hy vọng có được sự đồng hành của ai đó gần gũi với cuộc sống hơn mà chẳng liều lĩnh gì, hay nói đúng hơn, chẳng buộc phải nói dối? Tôi vẫn nhớ Hiệp sĩ Tito Lenzi. Ông Paleari chẳng cần biết gì về tôi, hài lòng với sự chú ý mà tôi dành cho những bài diễn thuyết của ông ấy. Gần như mỗi sáng, sau khi tắm rửa như thường lệ, ông sẽ đi dạo cùng tôi. Chúng tôi sẽ tới hoặc đồi Janiculum hay Aventinus hoặc đỉnh đồi Monte Mario, vài lần tới mãi cầu Nomentano. Chúng tôi luôn nói về cái chết.
“Đây là những thứ mình nhận được,” tôi nghĩ, “khi không thực sự chết!”
Đôi lần tôi thử hướng ông nói về thứ khác; nhưng dường như ông Paleari chẳng chút bận tâm đến cuộc sống xung quanh. Ông luôn tản bộ với chiếc mũ trên tay; tới một lúc, ông giương nó lên như để chào cái bóng nào đó, rồi thốt lên:
– Vớ vẩn!
Chỉ một lần duy nhất, ông bất ngờ quay sang hỏi tôi một câu cụ thể:
– Tại sao ngài lại ở Roma, ngài Meis?
Tôi nhún vai rồi đáp:
– Bởi tôi thích ở đây…
– Nhưng Roma là một thành phố buồn, – ông lắc đầu nhận định. – Nhiều người bất ngờ vì chẳng có mối làm ăn nào thành công ở đây, chẳng có ý tưởng sống động nào bám rễ được ở nơi đây cả. Nhưng những kẻ này bất ngờ cũng bởi họ không muốn thừa nhận rằng Roma đã chết.
– Cả Roma cũng chết! – Tôi khó chịu mà cảm thán.
– Từ lâu rồi, ngài Meis! Và xin ngài hãy tin rằng mọi nỗ lực hồi sinh nó đều vô ích. Đắm mình trong giấc mộng về quá khứ hoàng kim, nó chẳng thiết gì cái cuộc sống khốn khổ đang cố chấp vẫy vùng xung quanh. Khi một thành phố có một cuộc đời như Roma, với biết bao đặc trưng nổi trội và khác biệt, nó chẳng thể trở thành một thành phố hiện đại, một thành phố như những thành phố khác. Roma nằm lại đó, với trái tim to lớn vỡ vụn, trên sườn đồi Campidoglio. Những ngôi nhà mới xây này có thể là của Roma hay sao? Xem này, ngài Meis, con gái tôi, Adriana, đã kể với tôi về chậu nước thánh trong phòng ngài, ngài nhớ chứ? Adriana đã đem nó khỏi phòng, cái chậu nước thánh ấy. Nhưng ngày hôm kia, nó trượt tay và chậu nước thánh vỡ vụn: chỉ còn mỗi cái lòng chậu, và giờ, nó ở trong phòng tôi, trên bàn viết, với công dụng như trước đó ngài đã sử dụng trong vô thức. Vậy nên, ngài Meis, số phận của Roma là y hệt. Các Giáo Hoàng đã nhào nặn ra một chậu nước thánh – hiển nhiên là bằng cách thức của riêng họ; người Italia chúng ta đã biến nó thành một chiếc gạt tàn, bằng cách thức của chúng ta. Chúng ta tới đây từ mọi miền để bỏ lại tàn thuốc vào chiếc gạt tàn ấy. Tàn thuốc là gì nếu chẳng phải biểu tượng của sự phù phiếm trong cuộc sống muôn vàn thảm hại của chúng ta, cũng như của thứ khoái cảm cay đắng độc hại về cuộc sống kia.
1. Ở đây ý chỉ sông Tevere vắt ngang Roma, cùng với sông Po và sông Arno là ba con sông lớn nhất Italia.
2. Bambini (trẻ con) cũng có nghĩa là “các bé trai”.
3. Các nhan đề sách trên đều bằng tiếng Pháp trong nguyên tác.
4. Thuyết thần trí: một phạm trù triết học nhằm hướng tới việc thông hiểu Chúa trời qua suy ngẫm và cầu nguyện.
5. Mặt nạ Carnevale: các loại mặt nạ nhiều hình dáng và sặc sỡ, đặc trưng trong lễ Carnevale, một kỳ lễ thường được tổ chức tại các quốc gia có truyền thống Công giáo.
6. Charles Webster Leadbeater (1854 – 1934): thành viên Hội Thần trí, tác giả cuốn Astral Plane (tạm dịch: Cõi Trung giới).
7. Jean Finot (1856? hoặc 1858? – 1922): nhà báo, nhà xã hội học người Pháp.
8. Ether: được khoa học thời xưa xem là sự trải rộng liên tục của một loại vật chất khác biệt với những vật chất thông thường và chiếm toàn bộ không gian, tạo nên chất liệu thay thế có tính chất vật lý cho chân không.
9. Giacomo Leopardi (1798 – 1837): nhà thơ, nhà văn, nhà tiểu luận tiêu biểu của Italia trong thời kỳ Lãng mạn.