Tôi đã nghĩ:
“Mình sẽ chuộc lại khu Lồng gà rồi lui về đó, ở vùng đồng quê làm một lão xay bột. Người ta ở gần đất thì tốt hơn, và dưới đất có lẽ còn tốt nữa.
“Rốt cục thì mỗi nghề đều có niềm an ủi riêng của nó. Ngay cả cái nghề đào mồ cũng vậy. Thợ xay bột có cái thú được nghe tiếng cối xay ầm ào dịch chuyển, được ngắm những làn bụi bay trong gió hay thân mình phủ đầy bột.
“Mình dám chắc là đến tận bây giờ, ở chỗ cối xay vẫn chưa có ai mở được một túi ngũ cốc ra xay cả. Nhưng một khi mình nắm quyền trở lại:
– Ngài Mattia, chốt cối xay! Ngài Mattia, ổ trượt hỏng rồi! Ngài Mattia, khía cối xay!
Như hồi vẫn còn mẹ mình với tâm hồn cao đẹp của bà, và lão Malagna quán xuyến tất cả.
Rồi trong lúc mình săn sóc cối xay kia thì bọn nông dân sẽ cướp sạch hoa màu ngoài khu canh tác. Nếu mình tập trung quay qua đó thì bọn thợ xay sẽ lại cướp sạch chỗ tiền công xay bột. Bọn nông dân và bọn thợ xay, người tung kẻ hứng, còn mình sẽ ngồi giữa mà thản nhiên ngắm nghía.
Hay mình sẽ thó một bộ quần áo cũ của ông Francesco Antonio Pescatore trong cái rương mà bà mẹ vợ mình trân quý đến mức đặt cả băng phiến lẫn hạt tiêu vào trong để lưu giữ như thể thánh vật. Mình sẽ bắt mụ mặc vào rồi cho mụ làm thợ xay bột và trông coi bọn người làm.
“Hẳn không khí đồng quê sẽ giúp vợ mình khá lên. Biết đâu khi có nàng ở đó, một vài chiếc lá sẽ rời cành, những chú chim non sẽ ngừng hót. Hy vọng nàng sẽ không làm nguồn nước cạn khô. Còn mình vẫn sẽ làm một thằng thủ thư ở nhà thờ Santa Maria Liberale, cô đơn càng cô đơn.”
Dòng suy nghĩ cứ chảy trôi trong đầu tôi như vậy khi đoàn tàu chạy. Tôi không thể nhắm mắt, mỗi lần nhắm lại là cái xác của chàng trai trẻ kia hiện ra tức thì, rõ ràng đến tàn nhẫn. Cái xác nằm đó, giữa lối đi, co ro cúm rúm dưới hàng cây to lớn bất động giữa ban mai mát lành. Vậy nên tôi phải an ủi mình bằng một cơn ác mộng khác đỡ đẫm máu hơn, cơn ác mộng vật chất về mẹ vợ và vợ tôi. Tôi sung sướng mường tượng ra cảnh trở về của mình, sau mười ba ngày mất tích bí hiểm.
Tôi chắc chắn rằng (tôi tưởng như đã nhìn ra được hai người họ vậy!) khi tôi bước vào, họ sẽ trưng cái vẻ thản nhiên khinh khỉnh nhất có thể. Họ sẽ ném cho tôi chỉ một ánh nhìn như muốn nói:
“Mày lại về đây hay sao? Còn chưa ngã gãy cổ chết à?”
Họ im lặng, tôi im lặng.
Nhưng rồi chỉ một lúc sau, mụ góa Pescatore hẳn sẽ phun một tràng mạt sát vì cái công việc mà có thể tôi đã để mất.
Tôi đã mang chìa khóa thư viện theo người. Được tin tôi biến mất, hẳn đồn cảnh sát sẽ lệnh cho phá cửa. Khi không tìm thấy xác tôi trong đó, đồng thời cũng không thu thập được tin tức hay dấu vết gì về tôi, người bên Tòa thị chính có thể sẽ chờ tôi quay trở lại trong ba, bốn, năm ngày hay một tuần. Sau đó họ sẽ thế chỗ tôi bằng một kẻ vô công rồi nghề khác.
Vậy thì tôi còn ngồi đấy mà làm gì? Tôi sẽ lại trở thành một tên lang thang trong thị trấn hay sao? Có thể lắm! Hai người đàn bà khốn khổ chẳng thể chịu trách nhiệm với một thằng ăn không ngồi rồi, một tên vô lại đã trốn đi chẳng rõ vì lý do gì, vân vân và vân vân.
Còn tôi, im lặng.
Dần dà, cơn giận của mụ Marianna Dondi lớn lên vì sự im lặng khinh khỉnh của tôi. Cơn giận ấy lớn lên, sục sôi rồi bùng nổ, còn tôi, vẫn đứng đó, im lặng!
Đúng thời điểm, tôi sẽ rút ví trong túi áo ngực và để những tờ một nghìn lire lên bàn mà đếm: đây, đây, đây và đây…
Mụ Marianna Dondi sẽ trợn tròn mắt, há hốc miệng. Cả vợ tôi nữa.
Thế rồi:
“Mày cướp ở đâu ra thế?”
“…bảy mươi bảy, bảy mươi tám, bảy mươi chín, tám mươi, tám mươi mốt; năm trăm, sáu trăm, bảy trăm; mười, hai mươi, hai mươi nhăm; tám mươi mốt ngàn bảy trăm hai mươi nhăm lire và bốn mươi xu.”
Tôi sẽ chầm chậm mà thu lại đống tiền rồi bỏ vào ví, rồi tôi sẽ đứng dậy.
“Hai người không muốn tôi ở nhà nữa phải không? Tốt thôi, cảm ơn nhiều! Tôi biến đây, vĩnh biệt.”
Tôi vừa nghĩ thế vừa cười.
Hành khách trên tàu nhìn tôi và rồi cả họ cũng bật cười khúc khích.
Tôi cố gắng nghiêm túc hơn bằng cách nghĩ về những tay chủ nợ của mình. Tôi sẽ phải chia tiền cho chúng, làm sao giấu cho được. Và rồi giấu tiền mà không tiêu thì phỏng có lợi ích gì?
Tiêu xài ư, hẳn mấy tên khốn ấy sẽ không cho phép tôi rồi. Để làm lại cuộc đời ở đó, với cối xay ở Lồng gà và hoa màu thu hoạch từ trang trại, tôi sẽ phải trả công cho quản đốc. Tên quản đốc sẽ ngốn của tôi một khoản lớn (cả cái cối xay nữa). Vậy thì chẳng biết bọn chủ nợ sẽ phải chờ thêm bao nhiêu năm. Nếu tôi trả bằng tiền mặt ngay bây giờ thì có thể còn lời lãi được chút ít. Tôi tính:
“Một khoản đẹp cho thằng đỉa hút máu Recchioni; một khoản lớn nữa cho lão Filippo Brísigo, hy vọng lão đủ tiền ma chay cho bản thân: lão đã hết thời rút ruột được đám dân nghèo; một khoản cho lão Lunaro keo kiệt người Torino; khoản nữa cho mụ góa nhà Lippani… Ai nữa nhỉ? A! Còn nữa! Bọn Della Piana, Bossi và Margottini… Tất cả đều là chủ nợ của mình!”
Tóm lại, tôi đã vì bọn chúng mà thắng cược ở Monte Carlo! Hai ngày thua kia mới đáng giận làm sao! Tôi đã có thể lại giàu… lại giàu!
Tôi buông vài tiếng thở dài. Điều ấy khiến những vị khách đồng hành với tôi càng cười tợn. Thế nhưng tôi chẳng thấy lòng an tĩnh. Trời sắp tối: không khí như biến mình thành tàn tro; chuyến hành trình đã trở nên nhàm chán tới khó chịu vô cùng.
Ở ga tàu Italia đầu tiên, tôi mua một tờ báo với hy vọng nó sẽ giúp mình ngủ được. Giở tờ báo ra và dưới ánh đèn điện, tôi bắt đầu đọc. Tôi tìm được chút an ủi khi biết tòa lâu đài Valençay đã được rao bán đấu giá lần thứ hai, mà người thắng cuộc là Bá tước De Castellane với số tiền vị chi là hai triệu ba trăm ngàn franc. Diện tích khu vực bất động sản bao quanh tòa lâu đài rộng tới hai ngàn tám trăm héc-ta: hùng vĩ nhất nước Pháp.
“Cũng như Lồng gà…”
Tôi đọc thấy trưa nay tại Potsdam, Hoàng đế Đức đã đón tiếp đoàn đại biểu Ma-rốc, với sự có mặt của Quốc vụ khanh, Nam tước de Richtofen. Đoàn đại biểu đã diện kiến cả Hoàng hậu và sau đó được chiêu đãi bữa sáng, và ai biết được bọn họ đã ngấu nghiến hết chừng nào!
Cả Nga hoàng và Phu nhân cũng đã tiếp đón một đặc phái viên của Tây Tạng tại Petergof. Đặc phái viên đã trình lên Nga hoàng và Phu nhân những tặng phẩm của đức Đạt Lai Lạt Ma.
“Tặng phẩm của đức Đạt Lai Lạt Ma?” Tôi tự hỏi, nhắm mắt mà trầm ngâm. “Có thể là gì được nhỉ?”
Hệt như ma túy: bởi vừa đọc, tôi vừa lịm dần. Nhưng tôi chẳng ngủ được lâu: chỉ một lúc sau tôi bừng tỉnh vì tiếng tàu dừng lại ở một nhà ga khác.
Tôi nhìn đồng hồ: 8 giờ 15 phút. Khoảng một tiếng nữa tôi sẽ đến nơi.
Tôi vẫn cầm tờ báo trên tay. Tôi giở sang trang thứ hai để xem vật phẩm tuyệt hảo nhất của đức Đạt Lai Lạt Ma là thứ gì. Đôi mắt tôi bỗng rơi xuống chữ
TỰ SÁT
đúng vậy, in đậm.
Tôi nghĩ ngay đến vụ lùm xùm ở Monte Carlo rồi vội vàng đọc. Thế nhưng tôi chững lại, bất ngờ ngay từ dòng đầu tiên, chữ in bé tí: “Điện tín từ Miragno”.
“Miragno? Ở quê mình ai đã tự tử vậy?”
Tôi đọc: “Ngày hôm qua, thứ Bảy ngày 28, một thi thể trong tình trạng thối rữa nghiêm trọng đã được tìm thấy dưới dòng kênh bên một cối xay bột…”
Bỗng nhiên, mọi thứ xung quanh tôi như tối sầm lại khi tôi thoáng thấy tên khu trang trại nhà mình ở dòng tiếp theo. Thực khó mà đọc được những dòng chữ bé tí kia với chỉ một con mắt. Tôi đứng dậy mà dí sát ánh đèn.
“…Cối xay thuộc một trang trại có tên Lồng gà, cách thị trấn chúng ta hai cây số. Nhà chức trách đã gấp rút tới hiện trường cùng với một số lực lượng khác. Thi thể đã được kéo lên khỏi kênh để khám nghiệm và bảo quản. Muộn hơn cùng ngày, thi thể được nhận diện là của…”
Tim tôi nhảy dựng lên cổ. Trong trạng thái bấn loạn, tôi nhìn quanh những vị khách đồng hành đương ngủ.
“gấp rút tới hiện trường… kéo lên khỏi kênh… và bảo quản… được nhận diện là của vị thủ thư của chúng ta…”
“Mình ư?”
“gấp rút tới hiện trường… muộn hơn cùng ngày… của vị thủ thư của chúng ta Mattia Pascal, người đã mất tích vài ngày trước. Nguyên nhân tự sát: khó khăn tài chính.”
“Mình ư?… Mất tích… nhận diện… Mattia Pascal…”
Tôi đọc không biết bao nhiêu lần mấy dòng ấy một cách ngấu nghiến hung tợn, với trái tim đang bị giằng xé. Khi cơn kích động đầu tiên ập tới, tất cả nguồn năng lượng sống trong tôi trào lên dữ dội nhằm phản đối: cứ như thể cái tin vắn tắt vô nghĩa và khó chịu kia đối với tôi cũng có thể là thật vậy. Thế nhưng dù không thật đối với tôi, nó vẫn thật đối với những kẻ khác. Những kẻ khác này đã biết tin về cái chết của tôi từ ngày hôm qua, điều đó là chắc chắn. Sự chắc chắn vĩnh viễn và tuyệt đối ấy đè nặng tôi ngạt thở… Một lần nữa, tôi đảo mắt nhìn quanh những vị khách đồng hành. Trong mắt tôi, dường như cả họ cũng đang nghỉ ngơi với sự chắc chắn ấy. Tôi những muốn kéo giật họ ra khỏi sự thư thái và cái thái độ đáng nguyền rủa kia, lay họ dậy mà gào lên rằng đó không phải sự thật.
“Có thể sao?”
Tôi đọc lại một lần nữa cái tin điên rồ kia.
Tôi hồi hộp đến mức chẳng thể chịu được nữa. Ước gì chuyến tàu này hoặc dừng lại, hoặc lao đi hối hả: cái tiến trình đơn điệu, máy móc, dai dẳng, âm ỉ và bức bối sắp khiến tôi bùng nổ. Tôi liên tục xòe tay ra rồi nắm lại, cắm chặt móng tay vào sâu trong lòng bàn tay. Tôi vò tờ báo; rồi lại giở nó ra mà đọc lấy cái tin mà tôi đã thuộc nằm lòng, từng chữ, từng chữ một.
“Nhận diện! Người ta có thể nhận diện ra mình sao?… trong tình trạng thối rữa nghiêm trọng… ha!”
Trong chốc lát tôi thấy mình dưới dòng kênh xanh rì, ướt sũng, trương phình, nổi lềnh phềnh, tởm lợm… Nỗi sợ bản năng dấy lên, tôi bắt chéo hai tay trước ngực, xiết chặt và cảm nhận:
“Không phải mình. Không phải mình… Đó là ai?… Anh ta trông nhang nhác mình, hẳn vậy rồi… Có lẽ anh ta cũng có râu nữa, giống như bộ râu của mình vậy… vóc dáng y xì… Và họ đã nhận diện ra mình!… Mất tích vài ngày trước… Hẳn rồi! Nhưng mình muốn biết, mình muốn biết kẻ nào đã vội vội vàng vàng mà nhận là mình như thế. Có lẽ nào kẻ xấu số kia giống mình đến vậy? Ăn mặc giống mình? Đến mức nào mới được? Là mụ ta, có thể là mụ ta, Marianna Dondi, mụ góa Pescatore. Ôi! Mụ đã vớt mình lên ngay lập tức, mụ đã nhận diện mình ngay lập tức! Hiển nhiên đối với mụ, đó không phải là mình rồi! – Là nó, là nó! Thằng con rể tôi! Ôi, Mattia tội nghiệp! Ôi, đứa con trai tội nghiệp của tôi! - Có thể mụ sẽ khóc nữa. Mụ sẽ quỳ gối cạnh thi thể đáng thương kia, mà anh ta thì đâu thể đá cho mụ một cú mà gào lên: – Đứng dậy đi, tôi đâu có biết bà là ai?”
Tôi rùng mình. Con tàu cuối cùng cũng dừng lại ở một nhà ga khác. Tôi mở cửa tàu, vội vàng nhảy xuống với ý nghĩ mơ hồ rằng mình phải làm cái gì đó, ngay lập tức: một bức điện khẩn để đính chính cái tin kia.
Nhảy vụt khỏi toa tàu khiến đầu óc tôi choáng váng, mà nhờ thế tôi được cứu vớt khỏi cái ý niệm ngu xuẩn kia. Trong chớp nhoáng tôi thoáng thấy… thôi đúng rồi! Sự giải thoát, sự tự do, một cuộc đời mới!
Tôi có tám mươi hai ngàn lire trong người và tôi sẽ không phải đưa tiền cho ai cả! Tôi đã chết, đã chết. Tôi không còn nợ nần, không còn vợ, không còn mẹ vợ: không còn ai cả! Tự do! Tự do! Tự do! Tôi còn mong muốn gì hơn nữa?
Trông vẻ mặt tôi hẳn phải kỳ quặc lắm khi đứng trên sân ga mà suy nghĩ như vậy. Tôi để cửa toa tàu mở. Tôi nhìn quanh thấy mấy người đương gào thét gì đó. Cuối cùng có một người lay đẩy tôi, thét to át tiếng tất cả:
– Tàu sắp rời đi rồi kìa!
– Cứ để nó rời đi, cứ để nó rời đi, quý ngài thân mến! – Đến lượt tôi gào lên. – Tôi chuyển tàu!
Một nỗi nghi ngờ dấy lên trong tôi, nghi ngờ rằng có thể cái tin kia đã bị đính chính rồi. Nhỡ ai đó ở Miragno đã nhận ra sai lầm thì sao? Biết đâu họ hàng của kẻ thật sự đã chết lại từ đâu nhảy ra mà đính chính thông tin sai lệch kia.
Trước khi vui sướng như vậy, tôi phải xác nhận, phải có được nguồn tin chính xác và cụ thể nhất. Nhưng bằng cách nào?
Tôi mò tìm tờ báo trong túi. Tôi đã bỏ nó lại trên tàu mất rồi. Tôi ngoái lại nhìn đường ray trống trơn, sáng tỏ, bỗng chốc như tan chảy vào màn đêm tĩnh lặng. Tôi thấy như lạc lối ở cái ga trung chuyển thảm hại kia. Một nỗi nghi ngờ khác lớn hơn bắt đầu xâm chiếm tôi: hay là tôi đã nằm mơ?
Nhưng không:
“Điện tín từ Miragno. Hôm qua, thứ Bảy ngày 28…”
Đó: Tôi có thể nhắc lại từng chữ từng chữ một trong bức điện tín kia. Không còn nghi ngờ gì nữa! Tuy vậy, vâng, thông tin như thế là quá ít. Tôi không thể hài lòng như vậy được.
Tôi nhìn quanh nhà ga. Tôi đọc thấy cái tên: ALENGA.
Tôi sẽ tìm được những tờ báo khác ở thị trấn ấy chứ? Tôi chợt nhớ ra hôm ấy là Chủ nhật. Vậy thì sáng hôm ấy, ở Miragno sẽ ra tờ Báo chí, tờ báo duy nhất được in ở đó. Bằng mọi giá tôi phải kiếm cho mình một bản. Tôi sẽ tìm được trong tờ báo ấy tất thảy những thông tin chi tiết nhất mà tôi cần. Thế nhưng tìm thế nào được một tờ Báo chí ở Alenga? Có thể, tôi sẽ đánh một bức điện tín cho phòng biên tập tờ báo dưới một cái tên giả. Tôi biết tay chủ tòa soạn, Miro Colzi. Mọi người ở Miragno gọi hắn là Sơn ca bé bỏng, bút danh trang nhã mà ngày trẻ hắn dùng để đăng tập thơ đầu tiên và cuối cùng của mình.
Yêu cầu một tờ báo từ Alenga liệu có thể tạo nên một sự kiện khác thường đối với Sơn ca bé bỏng hay không? Hẳn tin “thú vị” nhất tuần, mẩu tin đáng chú ý nhất của số báo ấy là vụ tự sát của tôi. Liệu yêu cầu bất thường của tôi có làm hắn dấy lên chút nghi ngờ hay không?
“Như vậy thì sao chứ?” Tôi nghĩ tiếp. “Sơn ca bé bỏng đâu thể biết rằng mình vẫn chưa chết đuối. Hắn sẽ đi tìm nguyên do cho yêu cầu ấy ở những mẩu tin đáng chú ý khác trong cùng số báo. Từ lâu hắn đã trường kỳ đấu tranh chống lại Chính quyền thị trấn vì đường dẫn nước và hệ thống khí đốt mà. Hắn sẽ tuyệt đối tin rằng vì cái ‘chiến dịch’ đó mà người ta đòi được xem báo của hắn.”
Tôi vào trong ga.
May mắn thay, người đánh chiếc xe ngựa duy nhất, xe thư tín, còn đương ở đó mà tán gẫu với nhân viên xe lửa. Ngồi xe từ nhà ga đến thị trấn nhỏ kia mất khoảng bốn mươi lăm phút, đoạn đường toàn dốc.
Tôi trèo lên thùng xe xập xệ xuống cấp, không đèn, và rồi phóng vụt đi trong bóng tối.
Có nhiều thứ làm tôi phải nghĩ. Thi thoảng, cái ấn tuợng mạnh mẽ khi đọc được thông tin liên quan mật thiết đến bản thân mình đã đánh thức tôi giữa bóng tối vô danh và cô độc. Trong giây phút ấy, tôi lại thấy mình chìm vào hư vô, như lúc nhìn cái đường ray trống vắng. Tôi sợ hãi thấy mình rời bỏ trần thế, bỏ lại chính mình ở phía sau, lạc lõng mà đợi chờ cuộc sống ở thế giới bên kia, trong khi chẳng hay biết tôi sẽ sống cuộc đời ấy bằng cách nào.
Để dứt mình khỏi dòng suy nghĩ ấy, tôi bắt chuyện với người đánh xe, hỏi anh ta xem ở Alenga có đại lý bán báo nào không:
– Sao cơ ạ? Không thưa ngài!
– Người ta không bán báo ở Alenga hay sao?
– À! Có thưa ngài. Có ông chủ tiệm thuốc bán báo, ông Grottanelli.
– Có khách sạn không?
– Có nhà trọ Palmentino.
Anh ta nhảy xuống để giảm tải cho chú ngựa bé nhỏ đương cúi đầu sát đất, thở phì phò. Tôi chỉ lờ mờ nhìn ra được hình bóng anh. Được một lúc anh ta đốt tẩu. Tôi nhìn ra anh và giật mình chợt nghĩ: “Nếu anh ta biết anh ta đang chở ai…”
Ấy nhưng tôi hỏi lại chính mình câu hỏi đó:
“Anh ta chở ai? Đến mình cũng chẳng biết nữa. Mình là ai bây giờ? Phải nghĩ xem. Một cái tên, ít nhất là một cái tên. Mình phải nghĩ ra một cái tên ngay lập tức, để còn ký bức điện tín. Hay nhỡ đâu ở chỗ nhà trọ người ta hỏi, mình còn đỡ lúng túng. Bây giờ chỉ cần nghĩ ra một cái tên là được rồi. Xem nào! Mình tên là gì nhỉ?”
Tôi chẳng bao giờ nghĩ rằng việc chọn tên họ lại tổn hao bao nhiêu sức lực và khó chịu đến vậy. Đặc biệt là cái họ! Tôi ghép các vần lại với nhau mà chẳng nghĩ ngợi gì. Một vài cái họ tuôn ra như: Strozzani, Parbetta, Martoni, Bartusi. Chúng làm thần kinh tôi căng lên ghê gớm. Tôi chẳng thấy chúng có bất kỳ đặc trưng hay ý nghĩa gì cả. Cứ như thể tên họ phải có ý nghĩa vậy… Ui dào, được thôi! Một cái họ bất kỳ… Martoni, ví dụ vậy, sao lại không chứ? Carlo Martoni… Ừm, vậy đó! Nhưng, chỉ một lúc sau, tôi nhún vai: “Ừm, Carlo Martello…” Tôi lại bắt đầu thấy khó chịu.
Tôi tới thị trấn nọ mà vẫn chưa định được một cái họ cho mình. May mắn thay, ở đằng kia, tôi thấy tiệm thuốc, đồng thời cũng là trung tâm điện tín và thư báo, tiệm tạp hóa, tiệm văn phòng phẩm, tiệm báo, tiệm bán đồ vặt vãnh và một số thứ khác, những thứ chẳng ma nào thèm ngó đến. Tôi mua một vài tờ báo mà tiệm ấy có. Báo của Genova: tờ Caffaro và tờ Thế kỷ XIX. Tôi hỏi ông chủ xem có thể kiếm được tờ Báo chí của Miragno hay không?
Ông Grottanelli này có bộ mặt của một con cú, với cặp mắt tròn tròn trông như thủy tinh. Thi thoảng ông ta lại cụp hàng mi dày, như thể làm vậy tốn nhiều công sức lắm.
– Tờ Báo chí? Tôi không biết.
– Nó là một tờ tuần báo địa phương rởm đời, – tôi giải thích. -Tôi muốn có nó. Số ngày hôm nay ấy.
– Tờ Báo chí? Tôi không biết, – ông ta nhai lại.
– Được thôi! Không quan trọng ngài có biết nó hay không. Tôi sẽ trả cho ngài phí một bức điện tín đến phòng biên tập tờ báo ấy. Tôi muốn có mười, hai mươi bản, ngày mai hoặc sớm nhất có thể. Được không?
Ông ta chẳng trả lời, con mắt ngây dại chẳng nhìn vào thứ gì cố định. Ông ta nhắc lại lần nữa: – Tờ Báo chí…? Tôi không biết. – Cuối cùng ông ta cũng quyết định viết bức điện tín dưới sự chỉ định của tôi, với địa chỉ giao hàng là tiệm thuốc của ông ta.
Sau một đêm không ngủ, trằn trọc vì những làn suy nghĩ dữ dội trong nhà trọ Palmentino, ngày hôm sau, tôi nhận được mười lăm bản của tờ Báo chí.
Ngay từ khi được ở một mình, tôi đã vội vàng ngấu nghiến hai tờ báo của Genova kia nhưng chẳng tìm thấy bất cứ tin tức gì. Tay tôi run lên khi giở tờ Báo chí. Trang đầu, chẳng có gì. Tôi lần mò hai trang giữa. Mắt tôi lập tức rơi xuống biểu tượng báo tang ở đầu trang thứ ba. Phía dưới, tên tôi được in lớn. Như này:
MATTIA PASCAL
Đã vài ngày không có tin tức gì về anh. Đó là những ngày buồn khổ trầm uất, những ngày thương đau chẳng bút nào kể xiết đối với gia đình tràn ngập bi ai. Phần lớn mọi người đều chia sẻ nỗi buồn khổ thương đau, khi tất cả chúng ta đều dành cho anh tình yêu, trân trọng anh vì tâm hồn cởi mở, vì tính tình tươi vui và bản chất khiêm tốn. Những điều ấy, cùng với những đức tính khác nữa đã giúp anh bình thản đối mặt với khó khăn thách thức mà chẳng chút ngã lòng, âu cũng bởi những ngày tháng gần đây, từ cuộc sống sung túc vô ưu, anh đã trở thành một con người thảm hại.
Một ngày sau sự mất tích khó hiểu của anh, gia đình anh đã ngỡ ngàng mà tới Thư viện Boccamazza. Anh vốn là con người vô cùng tận tụy với công việc, luôn luôn nuôi dưỡng nguồn kiến thức sống động của mình bằng con chữ sáng suốt. Thế nhưng cánh cửa đóng chặt. Ngay lập tức, trước cánh cửa đóng chặt kia, nỗi nghi ngờ đen tối và bứt rứt xâm chiếm những người thân trong gia đình anh. Họ ngờ rằng vì một lý do bí mật nào đó mà anh đã rời xa quê hương. Nỗi nghi ngờ ấy thoi thóp được vài ngày, thế rồi dần dần tàn lụi.
Hỡi ôi! Sự thật bất hạnh thay lại không phải như vậy!
Gần đây anh đã mất đi người mẹ mà anh yêu quý vô cùng và đồng thời cả đứa con gái bé bỏng độc nhất, cộng thêm số tài sản mà anh chẳng thể lưu giữ được, tất cả những mất mát ấy đã đảo lộn tâm hồn người bạn của chúng ta vô cùng sâu sắc. Sâu sắc tới nỗi mà đã có lần anh định chấm dứt chuỗi ngày tháng nghiệt ngã của mình vào một đêm ba tháng trước, chính tại đó, con kênh bên cạnh cối xay bột, nơi gợi lại cho anh quá khứ hoàng kim của gia đình và những năm tháng hạnh phúc.
…Chẳng có đau thương nào lớn hơn
Như nhớ về những năm tháng hạnh phúc
Trong khổ cực…1
Bên xác chết sũng lạnh và xô lệch có một người thợ xay bột già, trung thành cần mẫn với gia đình chủ cũ. Ông đã nhỏ lệ khóc thương mà nấc lên trong những lời kể. Màn đêm đương buông xuống ảm đạm. Một chiếc đèn dầu ánh lên sắc đỏ dựng lên bên thi thể, hai thành viên thuộc đội Quân cảnh Hoàng gia đứng gác và ông Filippo Brina già cả (chúng tôi xin nêu danh ông để những nhà hảo tâm có thể ngưỡng vọng) vừa khóc vừa thuật lại cho chúng tôi. Trong buổi đêm sầu thảm nọ, ông đã kịp ngăn chàng trai bất hạnh kia và dự định dại dột của anh. Nhưng lần thứ hai, ông Filippo Brina đã chẳng có ở đó để ngăn anh lại. Và Mattia Pascal nằm lại trong lòng kênh bên cạnh cối xay bột, có lẽ suốt đêm và nửa ngày kế tiếp.
Chúng tôi thực chẳng muốn miêu tả lại cảnh tượng xé lòng sau đó. Chập tối ngày hôm kia, người góa phụ đau buồn đã đến bên thi thể biến dạng của người bạn đời đáng mến, người đã về với con gái bé bỏng của họ.
Toàn thị trấn đã cùng nàng bày tỏ lòng tiếc thương. Mọi người cùng nhau đưa anh tới nơi an nghỉ cuối cùng. Hiệp sĩ Pomino, ủy viên hội đồng thị trấn đã nói những lời vĩnh biệt ngắn ngủi đầy cảm động.
Chúng tôi xin gửi những lời cảm thông sâu sắc tới gia đình tội nghiệp đang chìm trong tang tóc, tới người anh Roberto đương ở rất xa Miragno. Với trái tim vỡ nát, chúng tôi xin nói lời cuối cùng với Mattia tốt bụng: Anh đã sống một cuộc đời xứng đáng, anh bạn yêu quý!
M.C.
Ngay cả không có hai chữ viết tắt kia thì tôi cũng nhận ra Sơn ca bé bỏng là tác giả bài báo tử.
Thế nhưng trước hết, tôi phải thú nhận rằng dù cho đã biết trước, nhưng khi thấy tên mình in ở đó, dưới dòng kẻ màu đen kia, tôi không những không cảm thấy vui sướng, mà trái tim tôi còn đập thình thịch tới mức chỉ được vài dòng tôi đã phải ngừng đọc. Đoạn “những ngày buồn khổ trầm uất, những ngày thương đau chẳng bút nào kể xiết” của gia đình tôi không làm tôi bật cười, ngay cả lòng trân trọng của đồng hương vì những đức tính tốt đẹp của tôi, cả lòng tận tụy với công việc cũng vậy. Buổi đêm sầu thảm ở Lồng gà sau cái chết của mẹ và con gái như là một minh chứng, minh chứng rõ ràng nhất cho vụ tự sát của tôi. Thoạt tiên, ký ức về đêm hôm ấy khiến tôi ngỡ ngàng nhận ra sự xuất hiện không báo trước và nham hiểm của số phận, sau rồi nó khiến tôi đau buồn và chán nản.
Không! Tôi đã không tự sát. Vào đêm nọ, đối mặt với cái chết của mẹ và đứa con gái bé bỏng, có thể tôi đã có ý tưởng ấy! Tôi đã bỏ trốn, đó là sự thực, bỏ trốn trong tuyệt vọng. Nhưng giờ, tôi đã trở về từ sòng bạc, nơi thần May mắn đã mỉm cười và vẫn tiếp tục mỉm cười với tôi bằng nụ cười lạ lùng nhất. Một kẻ khác đã bỏ mạng thay cho tôi, một kẻ khác, chắc hẳn là một kẻ lang thang. Tôi đã cướp của anh ta sự cảm thông từ những người họ hàng xa cách và cả bè bạn, và tôi đã nguyền rủa anh ta – ôi vô đạo làm sao – phải chịu đựng những gì không thuộc về bản thân mình, sự cảm thông giả tạo, và cả bài điếu văn của Hiệp sĩ Pomino mặt bự phấn!
Nhường ấy chính là ấn tượng đầu tiên của tôi khi đọc bài báo tử trên tờ Báo chí.
Thế rồi tôi nghĩ lại rằng cái chết của người đàn ông tội nghiệp kia không phải lỗi tại tôi, và dù rằng tôi còn sống, tôi cũng chẳng thể khiến anh ta hồi sinh. Tôi thiết nghĩ khi tận dụng cái chết của anh ta, tôi chẳng những không lừa gạt người thân của anh, mà còn gia ơn cho họ. Bây giờ, người chết đương là tôi chứ không phải anh ta, họ có thể tin rằng anh chỉ mất tích và tiếp tục hy vọng, hy vọng một ngày nào đó anh sẽ trở về.
Còn vợ và mẹ vợ tôi, tôi phải tin rằng họ đã thống khổ đến vậy khi hay tin tôi chết, đã có “những ngày thương đau không bút nào kể xiết” hay họ đã “buồn đau xé lòng” như mẩu tin đáng chú ý nhất của Sơn ca bé bỏng hay sao? Hỡi ôi, chỉ cần mở hé một con mắt cũng biết đó đâu phải là tôi; và ngay cả khi cặp mắt đã chìm nghỉm dưới lòng kênh, thì sao chứ? Một người vợ sao có thể dễ dàng nhận nhầm một người đàn ông khác là chồng mình như thế được?
Họ đã vội vàng nhận tôi là kẻ đã chết ấy? Mụ góa Pescatore hy vọng rằng bây giờ lão Malagna, cảm động và hối hận vì vụ tự sát ghê rợn của tôi, sẽ đến mà giải cứu nàng góa phụ trẻ tội nghiệp kia? Tốt thôi: họ hài lòng, tôi còn hài lòng gấp bội!
“Chết? Đuối nước? Một cây thập tự, và chẳng ai thèm bàn đến nữa!”
Tôi đứng dậy, vươn tay và hé ra một tiếng thở dài nhẹ nhõm.
1. câu trích trong Khúc V, dòng 121-123 của Inferno (Địa ngục), phần đầu tác phẩm La Divina Commedia (Thần Khúc) của đại thi hào Dante Alighieri.