Mattia Pascal Quá Cố

Lượt đọc: 62 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
ADRIANO MEIS

❊ ❊ ❊

Vốn tôi chẳng muốn lường gạt người khác, mà bởi chính họ đã tự mình nhầm lẫn. Trong hoàn cảnh này, với tâm thế nhẹ nhàng, có thể không đáng trách nhưng chắc chắn chẳng đáng khen, để tuân lệnh thần May mắn và thỏa mãn nhu cầu của chính bản thân, tôi lập tức biến mình thành một con người khác.

Tôi gần như chẳng tự hào gì về kẻ xấu số mà người ta đã muốn kết liễu một cách thảm hại, dưới lòng kênh bên cạnh cối xay bột. Sau biết bao những trò xuẩn ngốc mà anh ta gây ra, có lẽ anh ta chẳng đáng được hưởng một kết cục tốt đẹp hơn.

Lúc ấy tôi chẳng muốn lưu lại bất cứ dấu vết nào của anh ta trên người, không chỉ vẻ bề ngoài, mà còn cả nội tâm bên trong nữa.

Và bấy giờ tôi cô độc. Nếu cô độc hơn nữa thì hẳn tôi đã chẳng thể sống được trên cõi đời này. Tôi chẳng còn mối quan hệ hay nghĩa vụ nào với hiện tại; tự do, tươi mới và hoàn toàn làm chủ bản thân mình, không còn những gánh nặng của quá khứ, với khả năng kiến tạo tương lai phía trước theo ý muốn riêng mình.

Ôi, hệt như được chắp thêm đôi cánh! Tôi thấy mình nhẹ nhõm làm sao!

Những sự việc vừa qua và thứ cảm xúc kéo theo sau đó đã cướp đi cảm quan của tôi về sự tồn tại của mình. Tôi phải kiến tạo cho mình một cảm quan khác về cuộc sống, đào tận gốc trốc tận rễ những trải nghiệm bất hạnh của Mattia Pascal quá cố.

Quyết định là ở tôi: tôi có khả năng và nhất định phải vẽ ra cho mình định mệnh mới, trong phạm vi thần May mắn cho phép.

“Trước nhất,” tôi tự nhủ, “mình sẽ chăm sóc sự tự do này. Mình sẽ dẫn nó bước đi trên những con đường bằng phẳng và mới mẻ. Mình sẽ không để sự tự do ấy bị nguy hại. Mình sẽ nhắm mắt mà bước đi mỗi khi cuộc sống bày ra những cảnh tượng tồi tệ nào đó. Mình sẽ sống với những thứ vô tri, và mình sẽ lên đường kiếm tìm cảnh sắc, những địa điểm mới lạ và thanh bình. Dần dần mình sẽ đi học; mình sẽ thay đổi bản thân bằng một quá trình học tập nhiệt huyết và cần mẫn, để rồi sau cùng, mình có thể nói rằng bản thân không những đã sống qua hai cuộc đời, mà còn đã từng là hai người khác biệt.”

Ngay tại Alenga, tôi đã vào một tiệm cắt tóc trước giờ khởi hành ít lâu, để bắt đầu một cuộc đời mới bằng cách cắt ngắn bộ râu: tôi những muốn cạo sạch, ngay tại đó, cả bộ ria mép nữa. Thế nhưng tôi kiềm mình vì sợ rằng sẽ gây chú ý ở thị trấn nhỏ nọ.

Ông thợ cắt tóc kiêm luôn nghề thợ may. Ông đã già, lưng gần như gập xuống do thói quen phải cúi mình lâu ngày. Ông luôn luôn giữ mình ở một tư thế. Ông đeo kính trễ xuống chỏm mũi. Trông ông giống thợ may hơn là thợ cắt tóc. Trang bị bằng cây kéo vĩ đại như dùng để cắt len, tới nỗi ông phải dùng cả tay còn lại để nâng lên, ông xâu xé bộ râu xấu xí của tôi như thể một cơn đại họa của Chúa, bộ râu giờ lạc lõng trên khuôn mặt. Tôi chẳng dám ho he gì: tôi nhắm mắt mà không dám mở ra cho tới lúc cảm thấy người mình chầm chậm quay.

Mình đẫm mồ hôi, ông lão tài hoa kia đưa cho tôi một chiếc gương nhỏ để tôi có thể nhận xét xem tay nghề của ông tuyệt vời đến mức nào.

Tôi thấy hơi quá đà!

– Không, cảm ơn bác, – tôi che mặt. – Bác cất nó đi. Cháu không muốn làm nó sợ.

Ông mở to mắt mà nói:

– Làm ai sợ? – Ông hỏi

– Làm cái gương nhỏ này sợ này. Nó mới đẹp làm sao! Chắc phải là đồ cổ…

Cái gương hình tròn, tay cầm khảm ngà: ai mà biết được gốc tích của nó thế nào và bằng cách nào mà nó xuất hiện ở đó, trong cái tiệm cắt tóc kiêm tiệm may kia. Ông nhìn tôi ngỡ ngàng nên rốt cục, để không làm mếch lòng ông lão, tôi cầm cái gương lên.

Quả thực là tuyệt vời!

Sau khi các đặc điểm nhận dạng của Mattia Pascal đã chịu những sự thay đổi sâu sắc và cần thiết, tôi thoáng thấy con quái vật nào đó trong cái mớ hỗn độn kia chừng như sắp nhảy bổ ra! Đây lại là một lý do khác để tôi ghét bỏ anh ta! Cái cằm bé tẹo, nhọn hoắt và quặp vào trong. Anh ta đã giấu cái cằm ấy trong bộ râu đồ sộ suốt bao ngày tháng. Tôi thấy như bị phản bội. Bây giờ tôi phải trưng nó ra, cái vật bé tẹo khả ố ấy! Và anh ta đã để lại cho tôi cái mũi gì thế này! Rồi còn con mắt kia nữa!

“Ôi, con mắt này,” tôi nghĩ, “nó cứ mê đắm lệch về một bên. Nó sẽ ngự trị mãi mãi trên khuôn mặt mới! Mình chẳng thể làm gì khác ngoài giấu nó đi bằng một cặp kính màu. Đương nhiên cặp kính ấy sẽ làm mình trở nên khả ái hơn. Mình sẽ nuôi tóc dài, và với cái vầng trán vĩ đại này, cộng thêm cặp kính và râu ria nhẵn nhụi, trông mình sẽ giống một nhà hiền triết người Đức. Một chiếc áo khoác đen dài chấm gối và một chiếc mũ rộng vành xấu xí nữa.”

Chẳng còn cách nào khác: với cái bộ dạng như vậy, trông tôi chắc phải giống một nhà hiền triết lắm. Cũng được thôi, bình tĩnh: tôi sẽ trang bị cho bản thân một chút triết học tạp nham, pha chút khiếu hài hước, để có thể dấn thân vào giữa nhân loại khốn khổ này. Dù cho tôi có cố gắng thế nào đi chăng nữa thì đối với tôi, nhân loại vẫn có chút khả ố và tầm thường.

Cái tên, có thể nói tôi đã được người ta tặng cho trên chuyến tàu sắp khởi hành sau vài tiếng từ Alenga đến Torino.

Có hai người đàn ông ngồi cùng toa với tôi đương tranh luận sôi nổi về tính biểu tượng trong Công giáo. Đối với một kẻ ngờ nghệch như tôi, hai người ấy trông rất có vẻ uyên bác.

Một người trông trẻ hơn, khuôn mặt trắng bệch bị một bộ râu rậm rạp và xồm xoàm xâm chiếm. Anh này có vẻ vô cùng hả hê khi tuyên bố cái thông tin mà anh bảo là có nguồn gốc từ rất lâu rồi, được Thánh Justino tử đạo1, Tertullian2 hay những vị nào khác mà tôi không biết ủng hộ, rằng Chúa Giê-su hẳn phải xấu điên.

Anh ta nói oang oang, trái ngược lạ lùng với cái khí chất mà anh ta phát ra:

– Đúng mà, đúng mà, xấu điên! xấu điên! Ngay cả Cyril thành Alexandria3 cũng bảo vậy! Chắc chắn đấy. Cyril thành Alexandria thậm chí đã khẳng định rằng Chúa Giê-su là kẻ xấu nhất trong những kẻ xấu xí.

Người còn lại, một ông lão gầy gò nhỏ thó, bình thản với dáng vẻ trầm ngâm khắc khổ, nhưng đường cong nơi khóe miệng đã phản bội sự chế giễu mà ông ẩn giấu. Ông ngồi thẳng lưng, cái cổ dài è ra phía trước như phải vác đòn gánh. Ông cho rằng những Thánh kinh cổ đại thường không đáng tin.

– Bởi trong những thế kỷ đầu, Nhà thờ tập trung hướng đến học thuyết và tinh thần của Người khởi xướng. Người ta chẳng quan tâm nhiều, đó, chẳng quan tâm nhiều đến đặc điểm hình thể của Người.

Đến một lúc, cả hai người họ bàn về Thánh Veronica4 và hai bức tượng ở thành phố Paneade, được cho là hình ảnh của Chúa Giê-su và người phụ nữ băng huyết5.

– Nhưng phải rồi! – Anh chàng râu ria vặc lại. – Bây giờ đã chẳng còn nghi ngờ gì nữa! Hai bức tượng ấy tái hiện Hoàng đế Adriano6 với thành phố đương quỳ mọp dưới chân.

Ông lão nhỏ thó vẫn bình thản bảo vệ ý kiến của mình. Ý kiến ấy hẳn phải trái ngược với ý kiến của chàng kia, bởi anh ta nhìn tôi, vẻ không khuất phục mà liên tục lặp lại.

– Adriano!

- …Beroníke, trong tiếng Hy Lạp. Từ Beroníke ta có: Veronica…

– Adriano! (hướng về phía tôi)

– Hoặc là, Veronica, vera icon: một kiểu biến dạng thường gặp…

– Adriano! (hướng về phía tôi)

– Bởi Beroníke trong đoạn Acta Pilati…

– Adriano!

Anh ta cứ thế mà lặp lại cái tên Adriano chẳng biết bao nhiêu lần. Lúc nào đôi mắt của anh cũng hướng về phía tôi.

Khi hai người bọn họ xuống tàu ở một nhà ga và bỏ lại tôi một mình trong khoang, tôi nhìn ra ngoài cửa sổ mà dõi theo: họ vừa rời đi vừa tiếp tục tranh luận.

Đến một lúc, ông lão nhỏ thó mất kiên nhẫn và bắt đầu chạy.

– Ai nói thế? – Chàng trai trẻ đứng nguyên tại chỗ với vẻ thách thức, lớn giọng hỏi.

Ông lão kia quay lại gào:

– Camillo De Meis!

Tôi tưởng như cả ông ta cũng gào lên với tôi cái tên ấy, trong khi tôi đương nhẩm lại một cách máy móc:

- Adriano… - Tôi lập tức vứt chữ de và giữ lại chữ Meis.

“Adriano Meis! Phải… Adriano Meis, nghe hay đấy chứ…”

Tôi thấy cái tên này hợp với khuôn mặt nhẵn râu của tôi, hợp với cặp kính, với mái tóc dài, với cái mũ rộng vành xấu xí mà tôi buộc phải đội.

“Adriano Meis. Tuyệt quá rồi! Họ đã làm phép Rửa tội7 cho tôi.”

Cắt đứt hoàn toàn những ký ức gắn liền với cuộc đời trước đây, thời điểm ấy toàn bộ tâm trí tôi hướng đến việc bắt đầu một cuộc sống mới. Tôi thấy trong mình lâng lâng niềm vui con trẻ, lương tâm tôi như được gột rửa thanh khiết, tinh thần tôi như thức dậy, nhìn ngắm vạn vật xung quanh để xây dựng nên con người mới. Trong khi ấy, tâm hồn tôi cứ quay cuồng trong niềm vui của sự tự do mới có. Tôi chưa bao giờ cảm nhận được con người và sự vật như vậy. Khoảng cách giữa tôi và tất cả như được khai thông. Những mối quan hệ mới mà chúng ta phải thiết lập với nhau đối với tôi trở nên thực nhẹ nhàng và dễ dàng bởi, tôi chẳng còn nhu cầu phải hỏi chuyện người khác để thỏa mãn bản thân mình nữa. Ôi, tâm hồn tôi nhẹ nhàng vui tươi làm sao, với niềm say mê bình lặng khó diễn tả thành lời! Thần May mắn đã giúp tôi loại bỏ mọi rắc rối, bất chợt tách biệt tôi khỏi cuộc sống bình thường, biến tôi thành khán giả đứng bên ngoài những tranh chấp mà người đời đương vật lộn. Nàng chỉ bảo tôi rằng:

“Rồi anh sẽ thấy, anh sẽ thấy. Khi đứng từ ngoài nhìn vào, những tranh chấp sẽ trở nên kì lạ ra sao! Kia là một kẻ bụng dạ sục sôi chỉ để chọc giận một ông lão nhỏ thó tội nghiệp, chỉ vì hắn cho rằng Chúa Giê-su xấu nhất trong những kẻ xấu xí…”

Tôi mỉm cười. Tôi bỗng thấy muốn mỉm cười trước mọi vật và mọi việc; ví như hàng cây ở vùng đồng quê hiện lên lạ lùng, đương chạy ngược hướng với tôi trong ảo ảnh. Tôi cũng muốn cười với những ngôi nhà rải rác đây đó mà trong trí tưởng tượng của tôi, những ông địa chủ đương phồng má mà thở liên hồi vào màn sương, kẻ thù của ô liu; họ giương nắm đấm bất lực vì trời chẳng chịu đổ mưa. Tôi cười với những chú chim non đương tan đàn xẻ nghé, khiếp sợ cái thứ đen đen đang ầm ào tiến về vùng đồng quê. Tôi cười với làn sóng những đường dây điện tín mang đến cho các tờ báo một vài tin tức nhất định, như cái tin từ Miragno về vụ tự sát của tôi gần cối xay khu Lồng gà. Tôi cười với vợ của nhân viên trạm tàu, mang bầu và đội mũ của chồng, đương phất cờ báo hiệu.

Thế nhưng, được một lúc, tôi nhìn xuống chiếc nhẫn cưới đương thít chặt lấy ngón áp út bàn tay trái. Tôi bỗng cảm thấy rung lắc dữ dội vô cùng. Tôi nhắm mắt mà dùng tay còn lại nắm chặt bàn tay kia, những định giải thoát bản thân mình khỏi cái vòng nhỏ xíu bằng vàng ấy một cách vụng trộm, chỉ để không phải nhìn thấy nó thêm nữa. Tôi mường tượng thấy chiếc nhẫn tuột ra, mặt trong có khắc hai cái tên: Mattia – Romilda và ngày cưới. Tôi phải làm gì với nó đây?

Tôi mở mắt, chau mày mà suy nghĩ hồi lâu xem nên làm gì với chiếc nhẫn trong lòng bàn tay.

Mọi thứ xung quanh tôi lại như chìm vào bóng tối.

Đây chính là mắt xích cuối cùng của sợi dây níu giữ tôi lại quá khứ! Chiếc nhẫn cưới bé nhỏ, nhẹ tênh, nhưng đồng thời nặng trĩu! Thế nhưng sợi dây kia đã đứt, vậy thì mắt xích cuối cùng tôi cũng phải vứt bỏ đi thôi!

Tôi những định vứt nó ra ngoài cửa sổ, nhưng rồi tôi nghĩ lại. Được số phận ưu ái đến không tưởng như vậy, tôi làm sao có thể đặt niềm tin vào số phận nữa. Bấy giờ, tôi phải tin rằng mọi thứ đều có thể xảy ra, ngay cả chuyện một chiếc nhẫn nhỏ xíu bị ném ra ngoài vùng quê rộng mở, tình cờ bị một lão nông nào nhặt được, để rồi cứ người này chuyền cho người kia. Với hai cái tên và ngày cưới được khắc bên trong, sự thật sẽ bị hé lộ, rằng kẻ chết đuối ở khu Lồng gà chẳng phải chàng thủ thư Mattia Pascal.

“Không, không,” tôi nghĩ, “cần một nơi an toàn hơn… Nhưng ở đâu mới được?”

Đoàn tàu dừng lại ở một nhà ga khác. Tôi nhìn quanh và ngay lập tức nảy ra một ý mà trước giờ tôi vẫn ngại ngần chưa thử. Tôi nói vậy, âu cũng để biện minh trước những ai yêu cử chỉ cao đẹp, những người không hay cả nghĩ, những người không thích nhớ rằng có vài nhu cầu đang cai trị nhân loại, những nhu cầu mà kể cả một kẻ đang buồn đau sâu sắc cũng phải tuân phục. Caesar, Napoléon, và cả người phụ nữ đẹp nhất thế gian cũng vậy, cho dù nàng ta chẳng xứng đáng được tôn vinh ngang hàng hai vị kia… Vậy thôi. Tôi tìm tới chỗ một bên có ghi Đàn ông và bên kia ghi Phụ nữ. Tôi đã chôn giấu chiếc nhẫn cưới của mình ở đó.

Vậy là, không phải vì muốn làm xao nhãng bản thân, mà vì muốn làm cho cuộc đời được dựng lên từ hư vô của tôi có tính nhất quán, tôi bắt đầu nghĩ về Adriano Meis. Tôi vẽ ra cho anh một quá khứ. Tôi tự hỏi bố mình là ai, mình sinh ra ở đâu, vân vân và vân vân… Tôi bình tĩnh, gắng sức nhìn ra và định rõ trọn vẹn tới từng chi tiết nhỏ nhặt nhất.

Tôi là con một: điều này thiết tưởng chẳng có gì phải bàn cãi.

“Mình sẽ còn đơn độc hơn cả bây giờ… Nhưng không! Ai mà biết được có bao nhiêu kẻ giống mình, trong tình cảnh y hệt, những người anh em của mình. Có người sẽ bỏ lại mũ và áo khoác với một bức thư trong túi, trên thành một cây cầu nhìn xuống sông. Và rồi, thay vì ném mình xuống dòng nước, anh ta sẽ thản nhiên mà bỏ đi, tới châu Mỹ hay bất kỳ nơi đâu. Vài ngày sau, người ta sẽ phát hiện một cái xác không thể nhận dạng: cái xác ấy sẽ là của người có bức thư bỏ lại trên thành cầu. Và chẳng ai thắc mắc gì thêm nữa! Đúng thực là mình đã không có chủ đích làm việc ấy: không thư, không áo khoác, không mũ… Nhưng mình cũng giống như họ, chỉ hơn có điều: mình có thể tận hưởng sự tự do của mình mà chẳng phải day dứt điều gì- Người ta đã muốn đem tặng nó cho mình mà, vậy nên…”

Vậy nên, tôi là con một. Sinh ở… – không định vị chính xác nơi sinh có lẽ sẽ an toàn hơn. Làm thế nào nhỉ? Người ta đâu thể sinh ra trên mây, với mặt trăng làm bà đỡ. Thế nhưng tôi đã đọc được trong thư viện rằng giữa bao nghề, cổ nhân cũng bắt mặt trăng làm bà đỡ, và trong lúc cầu nguyện, các thai phụ sẽ gọi nàng với cái tên Lucina8.

Thế nhưng sinh ở trên mây thì không. Nhưng người ta có thể sinh ra trên một con tàu hơi nước, được chứ, ví dụ thế. Đó, tuyệt quá rồi! Tôi sinh ra trong một chuyến hành trình. Bố mẹ tôi đang đi xa… nhưng họ để tôi sinh ra trên một con tàu hơi nước? Đúng rồi, đúng rồi, nghiêm túc đi! Một lý do hợp lý khiến cho một người phụ nữ mang bầu sắp sinh phải đi xa… Hay bố mẹ tôi đã đi châu Mỹ?

Tại sao không? Có bao người đến đó cơ mà… Cả Mattia Pascal tội nghiệp cũng những muốn đến đó mà. Vậy thì hãy cứ cho rằng tám mươi hai ngàn lire này bố tôi đã kiếm được ở châu Mỹ đi? Tuyệt vời! Với tám mươi hai ngàn lire trong túi, ông ấy hẳn sẽ chờ đến khi vợ mình hạ sinh đứa con trai một cách thuận lợi trên đất liền. Và rồi thì, ôi! Một người di cư chẳng thể kiếm được tám mươi hai ngàn lire ở châu Mỹ dễ hơn thế. Bố tôi… – nhân thể, ông tên là gì nhỉ? Paolo. Đúng rồi: Paolo Meis. Bố tôi, Paolo Meis, đã thất vọng như bao người khác. Ông đã gồng mình suốt ba, bốn năm trời. Sau đó, ông nản lòng. Từ Buenos Aires, ông viết một bức thư về cho ông nội…

A, một ông nội, một ông nội. Tôi muốn được biết ông ấy. Một ông lão khả ái bé nhỏ, ví dụ vậy, giống như cái ông xuống tàu đoạn trước, một học giả về tính biểu tượng trong Công giáo.

Ôi cái viễn tưởng say mê bí hiểm! Vì cái nhu cầu khó hiểu nào mà tôi có cái ý tưởng rằng bố tôi, ông Paolo Meis kia, là một kẻ xốc nổi? Đây, đúng rồi, bố đã làm phật lòng ông nội tôi biết bao nhiêu: bố đã cưới vợ mà chẳng được ông nội đồng ý, rồi chạy trốn đến châu Mỹ. Hẳn bố cũng cho rằng Chúa Giê-su xấu điên. Và bố đã thấy Chúa Giê-su xấu xí đầy giận dữ ở đó, trên đất Mỹ. Với người vợ đương cận ngày sinh nở, ngay lập tức bố trở về khi nhận được tiền của ông nội.

Nhưng tại sao tôi lại phải sinh ra giữa chuyến hành trình? Chẳng phải sẽ tốt hơn nếu tôi sinh ra hẳn ở châu Mỹ, ở Argentina, vài tháng trước khi bố mẹ tôi hồi hương hay sao? Sao không chứ! Hoặc hay hơn, ông nội đã mềm lòng vì đứa cháu trai bé bỏng vô tội. Vì tôi, chỉ vì tôi mà ông tha thứ cho con trai mình. Và như vậy, cái thằng tôi bé bỏng đã vượt Đại Tây Dương, có thể trong khoang hạng ba. Và trong chuyến hành trình ấy tôi mắc chứng viêm phế quản, nhưng kỳ diệu thay, tôi vẫn giữ được mạng sống. Tuyệt quá rồi! Ông nội cứ kể cho tôi chuyện ấy mãi. Thế nhưng không như những kẻ khác, tôi không tiếc khi đã chẳng chết đi hồi mới được mấy tháng tuổi. Không, bởi vì rốt cục, tôi đã phải chịu đựng những nỗi đau gì trong cuộc đời này? Thú thực, nỗi đau chỉ có một: ấy chính là cái chết của ông nội, người đã nuôi nấng tôi nên người. Bố tôi, Paolo Meis là một người bất cần và không chịu bị kìm kẹp. Một lần nữa bố trốn đi châu Mỹ chỉ sau vài tháng, bỏ lại vợ con cho ông nội. Bố chết nơi đất khách quê người vì bệnh sốt vàng da. Khi tôi lên ba, mẹ tôi mất, vậy nên tôi chẳng có ký ức gì về bố mẹ ngoài chút thông tin ấy. Nhưng còn nữa! Tôi vẫn không biết chính xác mình sinh ra ở đâu. Ở Argentina, tốt thôi! Nhưng chỗ nào? Ông nội tôi cũng chẳng biết vì bố tôi chẳng bao giờ kể, hoặc giả ông đã quên mất. Tôi thì chắc chắn không thể nhớ được rồi.

Tóm tắt lại, tôi là:

a) con một của Paolo Meis; b) sinh ra ở châu Mỹ, Argentina, không có địa điểm cụ thể; c) tới Italia khi mới vài tháng tuổi (viêm phế quản); d) không có bất kỳ ký ức hay thông tin về bố mẹ; e) lớn lên với ông nội.

Tôi lớn lên ở đâu? Mỗi chỗ một chút. Trước tiên là Nice. Ký ức lẫn lộn: Quảng trường Masséna, đường Promenade, Đại lộ de la Gare… Rồi, ở Torino.

Tôi đương trên đường tới Torino, và tôi có nhiều việc phải làm. Tôi phải chọn lấy một con đường và một ngôi nhà, nơi ông nội đã gửi gắm tôi cho một gia đình cho tới năm tôi lên mười. Tới nơi tôi sẽ tưởng tượng ra gia đình ấy, khi đã có tất cả đặc điểm của khu vực xung quanh. Tôi sẽ sống, hay nói đúng hơn, sẽ nối tiếp dòng ảo tưởng ở đó, trong thực tại cuộc sống của Adriano Meis bé con.

*

Sự tiếp diễn này, cái công trình viễn tưởng về một cuộc sống không thực sự được sống, mà do nhặt nhạnh dần dần chỗ này chỗ khác, cái công trình ấy được tôi dựng lên và cảm nhận, nó giúp tôi thẩm thấu một niềm hân hoan lạ lùng và mới mẻ. Nhưng tôi không khỏi cảm thấy một nỗi buồn miên man nào đó trong quãng thời gian đầu của chuyến lãng du. Tôi sẽ biến chuyến lãng du này thành một công việc hàng ngày. Tôi sẽ không chỉ sống trong hiện tại, mà cả quá khứ, những năm tháng mà Adriano Meis chưa từng được sống.

Tôi thấy khó tin, hay hầu như không tin vào những thứ mà tôi đã tưởng tượng ra. Đúng thực là chẳng có thứ gì tưởng tượng mà không có gốc rễ gắn với thực tại, dù sâu hay nông. Thế nhưng ngay cả những thứ tưởng như lạ lùng nhất cũng có thể là thật. Hay đúng hơn, chẳng có ảo vọng nào thiếu đi sự cuồng điên, thiếu đi những chuyến phiêu lưu gắn liền với hiện thực, những thứ bung nở và bùng nổ từ dưới tầng đáy sâu tột cùng của cuộc sống. Thế nhưng, ảo vọng ấy thực khác biệt với những sáng kiến mà từ đó chúng ta vẽ ra cái thực tại phập phồng sống động kia! Sáng kiến của chúng ta cần biết bao những sự việc vô cùng nhỏ nhặt và kỳ quái để trở mình thành chính cái thực tại ấy, cần biết bao những sợi dây để kéo cái thực tại ấy lại gần với cuộn len của cuộc sống, những sợi dây mà ta đã tỉa tót để vo tròn chúng lại thành một thể hợp nhất!

Giờ đây tôi là gì nếu không phải là một người giả tưởng? Một sáng kiến nhặt nhạnh trên đường đương mong muốn, và thậm chí phải ép mình sống vì mình, ngay cả khi chìm trong thực tại.

Chứng kiến cuộc sống của những kẻ khác và quan sát họ một cách tỉ mỉ nhất, tôi nhìn ra vô vàn những mối liên kết và đồng thời tôi cũng thấy cả những sợi dây đứt đoạn giữa bản thân và cuộc sống. Giờ đây, với cái thực tại này, liệu tôi còn có thể nối chúng lại với nhau? Ai mà biết được liệu chúng sẽ kéo tôi đi đâu. Có thể chúng sẽ trở thành sợi dây cương kìm hãm những con ngựa xổng chuồng, những con vật đang lôi xềnh xệch cỗ xe thảm hại mà chở trên đó là sáng kiến cần thiết của tôi. Không. Tôi phải nối lại những sợi dây đó chỉ bằng trí tưởng tượng của mình.

Và tôi bám theo những cậu bé, cô bé từ năm đến mười tuổi, trên những con đường, những khu vườn, học theo chúng cách bước đi, những trò chơi, thu thập của chúng những phương thức biểu cảm, để rồi dần dần dựng nên tuổi thơ của Adriano Meis. Tôi đã làm tốt, tới mức rốt cục cái tuổi thơ ấy hiện lên trong tâm trí tôi với một tính nhất quán hầu như thực thụ.

Tôi chẳng muốn tưởng tượng ra một người mẹ mới. Tôi tưởng như điều ấy sẽ làm vấy bẩn ký ức sống động và đau thương về người mẹ thật của tôi. Nhưng một ông nội, vâng, một ông nội như trong giả định đầu tiên, tôi muốn tạo ra ông.

Ôi, có biết bao những ông nội thật sự, những ông lão nhỏ bé mà tôi đã bám theo để học hỏi, một vài người ở Torino, một số khác ở Milano, ở Venezia, Firenze, tất cả tạo nên ông nội tôi! Tôi lấy của ông này hộp thuốc bằng ngà và khăn tay to bự kẻ ô vuông đỏ đen, của ông khác đằng kia một cây ba toong, của một ông thứ ba cặp kính và bộ râu dài ngoẵng, của ông thứ tư cách đi đứng và hỉ mũi, của ông thứ năm cách nói cười. Tất cả quy tụ lại thành một ông lão phong nhã, có chút nóng tính, yêu nghệ thuật, một ông nội vô tư đến nỗi không cho tôi theo học các khóa học chính thống. Ông muốn tự mình dạy dỗ tôi bằng những cuộc đối thoại sôi động, dẫn tôi đi theo khắp các thành phố, bảo tàng và triển lãm.

Trong những chuyến hành trình đến Milano, Padova, Venezia, Ravenna, Firenze, Perugia, ông luôn giữ tôi bên mình như hình với bóng, ông nội giả tưởng của tôi, người nhiều lần nói chuyện với tôi bằng giọng của một người hướng dẫn già dặn.

Nhưng tôi cũng muốn sống cho mình, trong thực tại. Thi thoảng, tâm trí tôi sẽ bị ý niệm về sự tự do vô hạn và độc nhất của mình xâm chiếm, và rồi tôi bỗng cảm thấy một niềm hạnh phúc bất chợt, mạnh mẽ. Niềm hạnh phúc ấy chảy vào trong tôi qua một hơi thở dài lâu, vực dậy toàn bộ tinh thần tôi. Một mình! Một mình! Một mình! Làm chủ bản thân mình! Tôi chẳng phải quan tâm đến bất cứ thứ gì hay bất kì ai! Đó, tôi có thể đi đến bất cứ nơi đâu tôi muốn: thích Venezia thì Venezia! Thích Firenze thì Firenze! Niềm hạnh phúc kia sẽ theo tôi đi muôn nơi. Ôi, tôi nhớ một buổi hoàng hôn, ở Torino, trong những tháng đầu của cuộc sống mới. Tôi đương đứng trên đường Lungo Po, trên một cây cầu nhìn xuống những làn sóng vẫy vùng trong một khoảnh nước nuôi cá. Không khí trong trẻo vô cùng; tất cả mọi vật trong bóng tối chừng như trở nên lung linh hơn giữa sự trong trẻo kia. Chứng kiến cảnh tượng đó, tôi thấy như quay cuồng trong tự do, sợ mình sẽ phát điên, sẽ chẳng thể chống cự nó lâu được.

Tôi đã thay đổi ngoại hình của mình từ đầu tới chân: bộ râu cạo nhẵn, cặp kính xanh sáng với mái tóc dài, rối bù kiểu nghệ sĩ. Trông tôi như một người khác! Thi thoảng tôi lại đứng trước gương mà nói chuyện với chính mình, rồi bật cười.

“Adriano Meis! Người đàn ông hạnh phúc! Đáng tiếc là anh phải chịu cái ngoại hình thế này… Nhưng thế phỏng có quan trọng gì? Tuyệt quá ấy chứ! Nếu chẳng vì con mắt của hắn, của cái tên mạt hạng kia, thì rốt cục anh đã chẳng xấu tệ với cái vẻ ngoài kỳ lạ có đôi chút kiêu kỳ của anh. Nhưng anh sẽ làm phụ nữ cười, đó. Rốt cục thì lỗi không phải do anh. Nếu cái tên kia đã chẳng để tóc ngắn thế, giờ anh đã không phải nuôi tóc dài thế này. Râu ria nhẵn thín trông như thầy tu không phải là gu của anh, tôi biết. Bình tĩnh nào! Khi phụ nữ bật cười… cả anh cũng sẽ cười nữa: đó là điều tốt nhất anh có thể làm.”

Tôi sống gần như cô độc, với mình và vì mình. Thi thoảng tôi sẽ nói một đôi lời với chủ khách sạn, với hầu phòng, với những người bàn bên, nhưng tôi không bao giờ kéo dài câu chuyện. Nhờ cái sự giữ gìn ấy mà tôi nhận ra mình không có khiếu nói láo. Những người khác cũng chẳng muốn nói chuyện với tôi: có thể do ngoại hình mà họ tưởng tôi là một kẻ ngoại quốc. Tôi nhớ lần thăm thú Venezia, tôi chẳng cách nào giải thích cho một ông lão lái thuyền gondola rằng tôi không phải người Đức, hay người Áo. Tôi sinh ra ở Argentina, vâng, nhưng tôi có bố mẹ người Italia. Cái “ngoại” thực sự của tôi hoàn toàn khác và chỉ mình tôi biết rõ. Tôi chẳng còn là gì. Tên tôi chẳng có trên bất cứ cuốn sổ hộ tịch nào, trừ cuốn ở Miragno, nhưng ở đó tôi là một người chết, với một cái tên khác.

Tôi chẳng quan tâm. Nhưng người Áo thì không được, tôi không thích trông giống người Áo. Tôi chưa bao giờ có cơ hội mà định hình trong đầu mình hai chữ “tổ quốc”. Ngày xưa, tôi có nhiều thứ khác phải suy tư! Bây giờ nhàn rỗi, tôi đã bắt đầu có thói quen nghĩ ngợi về nhiều thứ mà trước kia đối với tôi, chúng chẳng có nghĩa lý gì. Thú thực, những thứ ấy cứ tuôn chảy trong đầu trong khi tôi chẳng muốn, và thường thì tôi khó chịu mà đầu hàng.

Nhưng tôi cần một việc gì đó để làm khi đã chán ngấy việc đi lại và nhìn ngắm. Thi thoảng, để rút mình khỏi những suy tư nặng nề vô nghĩa ấy, tôi lại lấp kín những tờ giấy bằng chữ ký mới của mình. Tôi thử kiểu chữ khác, cách cầm bút khác với ngày xưa. Được một lúc tôi xé toạc tờ giấy và ném cây bút đi. Làm thằng mù chữ cũng được chứ sao! Tôi phải viết cho ai? Tôi không nhận và không thể nhận thư từ bất cứ ai nữa rồi.

Suy nghĩ này cũng như những suy nghĩ khác làm tôi đắm chìm trong quá khứ. Tôi lại thấy ngôi nhà, thư viện, những cung đường ở Miragno, bờ biển. Tôi tự hỏi: “Romilda liệu vẫn còn mặc đồ tang chứ? Có thể, để tránh con mắt người đời. Nàng sẽ làm gì nhỉ?” Tôi tưởng tượng ra nàng, như biết bao lần tôi đã thấy nàng ở nhà; và tôi tưởng tượng ra mụ góa Pescatore chắc chắn đương nguyền rủa những ký ức về tôi.

“Chẳng ai trong số hai người họ,” tôi nghĩ “sẽ tới thăm ngôi mộ của người đàn ông tội nghiệp kia dù chỉ một lần, dẫu cho anh ta đã chết một cách thảm thương đến vậy. Chẳng biết họ đã chôn mình ở đâu! Có lẽ cô Scolastica sẽ không muốn tốn công với mình như đã làm với mẹ. Roberto còn tệ hơn. Hẳn anh sẽ nói: ‘Ai đã bắt nó làm cái điều ấy? Rốt cục thì nó vẫn có thể sống tốt với hai lire một ngày bằng công việc thủ thư mà.’ Mình sẽ nằm lại như một con chó trong khu mộ người nghèo… Thôi nào, đừng nghĩ ngợi nữa! Thật tội nghiệp anh chàng kia. Biết đâu anh ta chẳng có những người họ hàng có nhân tính hơn, và họ sẽ đối xử với anh ta tốt hơn. Nhưng bây giờ, ngay cả đối với anh ta, điều đó phỏng còn quan trọng gì? Anh ta đâu phải nghĩ ngợi gì thêm nữa!”

Tôi vẫn tiếp tục du ngoạn thêm chút nữa. Tôi muốn vượt ra khỏi biên giới Italia. Tôi lên tàu hơi nước mà đi tới những khu phố xinh đẹp dọc sông Rhein, tới tận Cologne. Tôi dừng chân ở những thành phố lớn như Mannheim, Worms, Mainz, Bingen, Koblenz… Tôi muốn vượt xa hơn cả Cologne, xa hơn cả Đức, chí ít là tới tận Na uy. Thế nhưng tôi tính rằng mình phải tiết chế cái sự tự do này. Để tiêu xài cả đời thì số tiền tôi đương có không nhiều. Tôi có thể sống thêm khoảng ba mươi năm nữa. Sống bên lề mọi thứ luật lệ, tôi chẳng có bất cứ giấy tờ gì để chứng minh sự tồn tại thực sự của mình, và như vậy tôi chẳng có cách nào để kiếm được một công việc. Nếu không muốn rơi vào tình cảnh thảm hại, tôi phải giảm thiểu mức sống của mình. Sau khi tính toán xong, tôi thấy mình không thể tiêu quá hai trăm lire một tháng được: ít, nhưng bằng số tiền ít hơn thế, tôi đã sống được hẳn hai năm, mà đâu chỉ có mình tôi. Rồi sẽ quen dần thôi.

Sau cùng, tôi mệt mỏi vì cứ phải lang thang trong cô độc và câm lặng. Bản năng tôi đòi hỏi một chút sự đồng hành. Nhu cầu ấy đến với tôi vào một ngày ảm đạm tháng Mười một ở Milano, ngay khi vừa trở về sau chuyến du ngoạn ngắn ngủi ở Đức.

Trời lạnh, mưa đương tới, sắp tối nữa. Tôi gặp một lão bán diêm dưới cột đèn đường. Lão ta giữ hộp diêm phía trước ngực bằng dây đeo vai, vì vậy lão chẳng thể cuộn mình hẳn hoi trong lớp áo khoác sờn cũ. Từ bàn tay đang nắm chặt trên cằm của lão có một sợi dây nhỏ buông xuống tận dưới chân. Tôi quỳ xuống xem và phát hiện ra trong một chiếc giày cũ mèm là một chú chó con bé xíu, được vài ngày tuổi. Nó run rẩy vì lạnh và rên rỉ liên hồi, trốn chui trốn nhủi trong chiếc giày. Con vật nhỏ bé đáng thương! Tôi hỏi xem lão có bán nó hay không. Lão đáp rằng có, và lão sẽ bán cho tôi với giá hời, dù rằng nó có giá trị hơn nhiều. Con vật bé nhỏ ấy sẽ lớn lên thành một chú chó đẹp, một chú chó lớn:

– Hai mươi nhăm lire…

Chú chó con tội nghiệp tiếp tục run rẩy mà chẳng tự hào vì đánh giá của lão già. Hẳn nó biết rằng không phải vì những giá trị trong tương lai của nó mà lão ra giá ấy, mà chính vì sự ngu xuẩn mà lão ta tin rằng đã đọc được trên mặt tôi.

Trong lúc ấy, tôi đã có thời gian suy tính. Nếu mua chú chó đó, vâng, tôi sẽ có được một người bạn trung thành và kín đáo. Nó sẽ yêu thương và trân trọng tôi, không bao giờ chất vấn tôi thực sự là ai, tôi đến từ đâu và rằng giấy tờ của tôi có ổn thỏa hay không. Nhưng tôi sẽ phải trả một thứ thuế để nuôi nó: tôi làm sao mà trả thuế được! Tôi tưởng đó sẽ là nguy hại đầu tiên đánh vào sự tự do của mình, một cú hích mà chính tôi chuẩn bị thực hiện.

– Hai mươi nhăm lire? Thôi chào ông! – Tôi bảo lão bán diêm.

Tôi hạ cái mũ xấu xí xuống dưới mắt và, dưới làn mưa nhẹ nhàng tinh khiết đương tự trên trời rơi xuống, tôi rời đi. Lần đầu tiên tâm trí tôi dấy lên cái suy nghĩ rằng sự tự do không giới hạn này đúng thực tuyệt vời đấy, thế nhưng có chút nghiệt ngã nếu đến một chú chó con tôi cũng chẳng thể mua nổi.

1. Thánh Justino tử đạo (100 – 165): nhà lý luận học Ki tô giáo.

2. Tertullian: (155-240): tác gia Cơ đốc giáo.

3. Cyril thành Alexandria (376-444): Thượng phụ Alexandria (Ai Cập).

4. Thánh Veronica: người phụ nữ khổ hạnh ở Jerusalem vào thế kỷ I.

5. Chúa Giê-su và người phụ nữ băng huyết: theo truyền thuyết Công giáo, người phụ nữ băng huyết là một người chảy máu không ngừng từ năm mười hai tuổi và chỉ khi gặp Chúa Giê-su, nàng mới được chữa khỏi.

6. Hoàng đế Adriano (76 – 138): tên tiếng La-tinh là Hadrianus, Hoàng đế của đế chế La Mã từ năm 117 tới khi băng hà.

7. Phép rửa tội: hay còn gọi là báp-têm (phiên âm của từ tiếng Pháp baptême): nghi thức rửa tội của người Cơ đốc giáo. Người được rửa tội sẽ được gột rửa bằng nước thánh và đặt tên thánh, tượng trưng cho việc gột bỏ những tội lỗi, quá khứ và bắt đầu một cuộc đời mời.

8. Lucina: là vị thần bảo hộ các thai phụ khi sinh trong thần thoại La Mã.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Luigi Pirandello

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.