Càng quen với sự chiếu cố và lòng tốt mà ông chủ nhà dành cho mình, tôi càng cảm thấy nhức nhối với bí mật nặng nề, bấy giờ đã trở thành một nỗi hối hận sâu sắc mà trước đó tôi từng cảm nhận. Tôi thấy mình ở đó, thâm nhập vào giữa gia đình kia với một cái tên giả, những đường nét biến đổi, với một sự tồn tại giả tưởng và gần như chẳng nhất quán. Tôi phải kéo mình sang một bên, liên tục tự nhủ không được tiếp cận quá sâu vào cuộc sống của kẻ khác, rằng tôi phải trốn chạy khỏi mọi sự thân mật và hài lòng với cuộc sống bên lề tất cả mọi thứ.
– Tự do! – Tôi vẫn nói; nhưng tôi đã bắt đầu thẩm thấu ý nghĩa sự tự do của tôi và bắt đầu đong đếm giới hạn của nó.
Đây: ví dụ như tự do có nghĩa rằng tôi chỉ đứng đó vào buổi tối, mặt hướng ra cửa sổ mà ngắm nhìn dòng sông đen sậm đương âm thầm chảy trôi giữa hai bờ đất mới đắp, bên dưới những cây cầu mà trên ấy có dòng xe cộ phản chiếu ánh đèn xuống mặt sông, loằng ngoằng như thể những con rắn lửa. Hay tự do có nghĩa rằng tôi sẽ bằng trí tưởng tượng của mình mà theo đuổi dòng nước kia, từ thượng nguồn xa xôi ẩn trong rặng Appennini trôi tới vô vàn những vùng đồng quê, bấy giờ chảy qua thành phố, rồi lại trở về vùng đồng quê và đổ mãi cho tới cửa biển. Tự do cũng có nghĩa rằng tôi sẽ mường tượng về đại dương tăm tối ầm ào sóng vỗ, nơi những dòng nước sau bao ngày chảy trôi cũng tới đó mà thả mình. Thi thoảng tôi hé ra một cái ngáp vặt.
– Tự do… Tự do… – Tôi lẩm bẩm. – Thế nhưng không phải tự do ở nơi khác cũng như vậy hay sao?
Một vài tối, tôi thấy cô chủ nhà vận chiếc váy nọ trên ban công bên cạnh. Nàng đương tưới nước cho những chậu hoa. “Đây mới là cuộc sống!” Tôi nghĩ. Và bằng đôi mắt, tôi dõi theo cô nàng ngọt ngào đương nhẹ nhàng chăm sóc những cánh hoa, chốc chốc hy vọng nàng sẽ hướng ánh nhìn sang phía cửa sổ phòng tôi. Nhưng vô vọng. Nàng biết tôi ở đó; nhưng khi có một mình, nàng vờ như không biết. Tại sao? Chỉ có thể là nàng ngại ngùng, chần chừ, hoặc nàng thầm giận tôi, cô chủ nhà đáng mến, vì tôi đã nhẫn tâm mà tỏ ra thiếu trân trọng nàng?
Kìa, bình tưới hoa đã được đặt xuống, bấy giờ nàng đương dựa mình vào lan can ban công mà ngắm nhìn dòng sông, có chăng để tỏ cho tôi thấy nàng chẳng quan tâm đến tôi dù chỉ ít chút. Bản thân nàng còn những suy nghĩ nghiêm túc hơn cần cân nhắc, trông nàng với cái thái độ kia, và nàng cần được yên tĩnh.
Tôi mỉm cười khi nghĩ vậy. Nhưng rồi, khi thấy nàng rời khỏi ban công, tôi ngẫm rằng có thể nhận định của mình là sai lầm. Ấy chính là hậu quả từ mối bất bình bản năng khi con người ta chẳng được quan tâm chăm sóc. “Tuy nhiên,” tôi tự hỏi, “tại sao nàng phải quan tâm đến mình, phải trò chuyện với mình, trong khi nàng đâu cần thiết phải làm vậy? Ở đây mình tượng trưng cho sự đen đủi trong cuộc đời nàng, sự điên rồ của bố nàng; có thể còn là sự sỉ nhục đối với nàng. Biết đâu nàng lại chẳng tiếc nuối cái thời mà bố nàng vẫn đương tại nhiệm và chẳng cần phải cho thuê phòng, phải đón những kẻ lạ mặt vào nhà. Và rồi một kẻ lạ mặt như mình! Có thể mình làm nàng sợ với con mắt và cặp kính này, tội nghiệp cô bé…”
Âm thanh của một chiếc xe băng qua cây cầu gỗ bên cạnh kéo tuột tôi khỏi dòng suy tư. Tôi thở hắt ra một tiếng rồi lui mình khỏi khung cửa sổ. Tôi nhìn chiếc giường, nhìn những cuốn sách, lúng túng giữa cái này cái kia. Rốt cục tôi nhún vai, chộp lấy cái mũ xấu xí và rời đi, hy vọng trốn chạy khỏi nỗi nhàm chán dai dẳng.
Theo ngẫu hứng nhất thời tôi cất bước, hoặc tới những con đường đông đúc hoặc tới những khu phố quạnh hiu. Tôi còn nhớ vào một đêm, ở Quảng trường San Pietro, tôi có ấn tượng về một giấc mơ, một giấc mơ xưa cũ, giấc mơ mà tôi có được ở thế giới trần tục, khi tôi đứng giữa hai hàng cột sừng sững, trong sự tĩnh lặng chừng như ngày càng sâu lắng nhờ tương phản với tiếng nước vỗ ầm ào trong hai đài phun. Tôi tới gần một đài. Lúc ấy chừng như xung quanh tôi chỉ thứ nước ấy có sức sống, còn vạn vật ở đó trở nên mờ ảo và gợi buồn sâu sắc trong vẻ trang trọng, im lìm và bất động.
Trong lúc quay trở lại đường Borgo Nuovo, tôi vô tình gặp một lão say. Khi bước qua mà thấy tôi trầm tư ở đó, lão cúi xuống, nghiêng nghiêng đầu mà ngắm nghía mặt tôi từ phía dưới lên. Lão vừa lắc nhẹ cánh tay tôi vừa nói:
– Vui lên!
Bất ngờ, tôi dừng lại mà nhìn lão một lượt từ trên xuống:
– Vui lên! – Lão lặp lại, kèm theo lời kêu gọi là một cử chỉ khoát tay ý nói: “Mày làm gì đấy? Mày nghĩ gì đấy? Đừng lo lắng gì cả!”
Và rồi lão lếch thếch bỏ đi, một tay tựa vào tường.
Vào giờ ấy, giữa con đường hiu quạnh, tôi đương ở gần ngôi đền vĩ đại1, với những suy tư mà lão kia đã khiến tôi cảm nhận vẫn còn vương vấn trong tâm trí. Sự xuất hiện của lão già say xỉn này với lời khuyên đáng yêu, cảm động đầy tính triết lý khiến đầu óc tôi lùng bùng: tôi đứng đó chẳng biết bao lâu mà dõi mắt theo lão, và rồi cảm giác ngỡ ngàng trong tôi gần như vỡ òa bằng một trận cười điên loạn.
“Vui lên! Vâng, ông bạn thân mến. Nhưng tôi chẳng thể nào mà tìm tới một quán rượu như ông để kiếm tìm niềm vui dưới đáy một chiếc cốc đã cạn, như ông đã khuyên. Tôi chẳng thể nào tìm thấy nó ở đấy, đáng tiếc thay! Tôi cũng chẳng thể tìm thấy nó ở đâu khác! Tôi thường ngồi ở một quán cà phê, ông bạn thân mến, giữa những con người đáng kính đương hút thuốc và tán gẫu về chính trị. Tất cả chúng ta chỉ có thể vui vẻ, hay nói đúng hơn là hạnh phúc, với một điều kiện duy nhất, trích lời một vị luật sư bảo hoàng, người thường hay ghé quán cà phê của tôi: với điều kiện rằng có một vị vua tối cao cai trị tất cả chúng ta. Ông không biết những điều này, kẻ say xỉn thông thái tội nghiệp; ông còn chẳng bao giờ có những suy nghĩ ấy. Nhưng nguyên nhân chính cho mọi điều tồi tệ của chúng ta, cho nỗi buồn của chúng ta, ông có biết nó là gì hay không? Nền dân chủ, ông bạn thân mến, là nền dân chủ, hay chính phủ được số đông bầu ra. Bởi khi quyền lực nằm trong tay của chỉ một người duy nhất, kẻ ấy sẽ biết mình cô độc và phải chiều lòng đám đông; nhưng khi đám đông nắm quyền, họ sẽ chỉ nghĩ tới việc chiều lòng bản thân mình, thế nên thành ra chế độ độc tài ngu xuẩn và đáng hận nhất: chế độ độc tài giấu mình bằng chiếc mặt nạ tự do. Chắc chắn vậy! Sao ông lại nghĩ tôi đang đau khổ? Tôi đau khổ bởi chính chế độ độc tài giấu mình bằng chiếc mặt nạ tự do kia… Ai hãy cứ về nhà nấy thôi!”
Nhưng đêm đó là đêm của những cuộc hội ngộ.
Một lúc sau, trên đường ngang qua khu Tordinona gần như chìm trong bóng tối, tôi nghe thấy một tiếng thét dữ dội nổi lên giữa những tiếng gằn giọng khác, từ một trong những con hẻm phía cuối đường. Bỗng tôi chạm trán một nhóm người đang ẩu đả. Bốn tên lưu manh, trong tay những cây ba toong có quả nắm, đương bâu lấy một cô gái làng chơi.
Tôi kể về cuộc mạo hiểm này chẳng phải để tô điểm bản thân bằng một hành động dũng cảm, mà thực ra tôi muốn nói rằng hậu quả của hành động ấy đã khiến tôi sợ hãi tới mức nào. Bốn thằng vô lại, nhưng tôi cũng có một cây ba toong tốt bịt sắt. Hai tên trong số đó cầm dao xông về phía tôi. Tôi chống cự cũng tàm tạm, vung vẩy quay cuồng, nhảy hết chỗ nọ chỗ kia mà tránh né. Cuối cùng tôi cũng hạ được tên hung hăng nhất bằng một cú giáng chính giữa đầu, bằng đầu bịt sắt chiếc ba toong: tôi thấy hắn lảo đảo, rồi bỏ chạy. Ba tên còn lại thấy vậy cũng bỏ chạy theo, có thể vì sợ sẽ có ai đó xuất hiện khi nghe tiếng kêu thất thanh của người phụ nữ. Chẳng biết thế nào mà tôi bị thương ở trán. Tôi quát người phụ nữ đừng kêu cứu nữa mà hãy im lặng. Nhưng khi thấy mặt tôi dầm dề những máu, cô đã chẳng thể kiềm chế mà khóc, đầu tóc rối bù. Cô định giúp tôi, băng cho tôi bằng chiếc khăn tay lụa mà cô giắt trên ngực, giờ đã tơi tả sau trận hỗn chiến:
– Không, không, cảm ơn, – tôi bảo cô, khó chịu mà né tránh. -Đủ rồi… Không có gì đâu! Đi đi, đi ngay đi… Đừng để bị nhìn thấy.
Tôi tới đài phun nước nhỏ trên một đoạn dốc lên cầu gần đó để rửa trán. Nhưng, trong khi tôi đương ở đó, có hai người lính gác lấy làm lo lắng và muốn biết chuyện gì đã xảy ra. Ngay lập tức, người phụ nữ nọ, dân gốc Napoli, đã thuật lại “chuyện phiền nhiễu mà cô ta đã trải qua” với tôi, chẳng tiếc những lời trân trọng và ngưỡng mộ nhất bằng thổ ngữ dành cho tôi. Cô ta muốn tốt cho tôi, muốn giúp tôi thoát khỏi hai vị công chức mẫn cán này, trong khi họ nhất định muốn đưa tôi đi trình báo sự việc. Tuyệt vời! Chẳng thiếu gì nữa! Làm việc với đồn cảnh sát, bây giờ! Tôi sẽ xuất hiện trên mặt báo ngày hôm sau cứ như một người hùng, trong khi tôi những phải im lặng, trong bóng tối, trong quên lãng…
Người hùng, đó, tôi làm sao có thể là một người hùng thực sự được nữa. Chỉ trừ khi tôi chết đi… Nhưng tôi đã chết rồi mà!
*
– Xin lỗi, ngài góa vợ ư, ngài Meis?
Cô Caporale bất chợt hỏi tôi vào một tối trên ban công, nơi cô trò chuyện cùng Adriana và cũng là nơi họ đã mời tôi cùng họ giết chút thời gian.
Thoạt tiên, tôi buồn; tôi trả lời:
– Ồ không, sao thế được?
– Bởi ngài cứ dùng ngón cái mà ấn ngón áp út, như những ai muốn xoay nhẫn quanh ngón tay. Như vậy đấy… Có đúng không, Adriana?
Nhưng hãy xem xem con mắt của phụ nữ đã có thể rong ruổi tới chốn nào, hay nói đúng hơn, của một vài người phụ nữ cụ thể, bởi Adriana tuyên bố rằng nàng chưa bao giờ nhận thấy điều ấy.
– Bởi em chưa bao giờ để ý đến chuyện ấy thôi! – Cô Caporale thốt lên.
Tôi phải thừa nhận rằng, ngay cả khi tôi chẳng để tâm, cũng có thể tôi có thói quen ấy.
– Đúng thực là tôi đã từng đeo một chiếc nhẫn ở đây, – tôi buộc phải nói thêm, – suốt một thời gian dài, và sau đó tôi phải nhờ một người thợ kim hoàn cắt ra, âu cũng vì nó siết chặt ngón tay và làm tôi khó chịu.
– Chiếc nhẫn tội nghiệp! – Cô uất ức rên rỉ, cái người phụ nữ tứ tuần nọ, với vẻ giả tạo trẻ con vào tối hôm ấy. – Nó siết chặt lắm sao? Không chịu tuột ra khỏi ngón tay luôn sao? Biết đâu đó lại chẳng là ký ức về một…
– Silvia! – Adriana nhỏ bé ngắt lời, giọng trách móc.
– Có gì xấu đâu chứ? – Cô kia tiếp tục. – Ý chị là mối tình đầu… Nào, ngài hé lộ cho chúng tôi một chút đi, ngài Meis. Lẽ đâu ngài lại không bao giờ chia sẻ chuyện đó hay sao?
– Đây, – tôi nói, – tôi đang nghĩ đến cái suy luận mà cô rút ra từ thói quen ấn ngón tay của tôi. Thực là một suy luận võ đoán, thưa quý cô thân mến, bởi những kẻ góa bụa, theo tôi biết, họ cũng chẳng có thói quen tháo nhẫn cưới khỏi ngón tay đâu. Thứ đè nặng họ hơn cả khi người vợ không còn nữa chính là người vợ, không phải chiếc nhẫn. Nói cách khác, cũng như các cựu binh đeo huân chương, thì tôi tin những kẻ góa bụa đeo nhẫn.
– À vâng! – Cô Caporale cảm thán. – Ngài bẻ lái câu chuyện thực chuyên nghiệp.
– Gì cơ! Tôi đang đi sâu vào câu chuyện mà!
– Đi sâu gì chứ! Tôi chẳng bao giờ đi sâu vào thứ gì cả. Tôi có cái ấn tượng kia, vậy thôi.
– Rằng tôi góa vợ?
– Vâng thưa ngài. Không phải kể cả với em, Adriana, ông đây cũng có cái vẻ đó sao, ông Meis ấy?
Adriana hướng mắt lên nhìn tôi, nhưng rồi liền cụp xuống ngay tắp lự. Thẹn thùng, nàng chẳng biết chịu đựng ánh nhìn của người khác. Nàng mỉm cười, nụ cười ngọt ngào man mác buồn như thường lệ, rồi nàng bảo:
– Chị bảo em biết cái vẻ của mấy người góa bụa là có ý gì? Chị hay thật đấy!
Hẳn trong lúc ấy, một suy nghĩ, một hình ảnh đã vụt qua tâm trí Adriana. Nàng lo lắng, rồi hướng ánh nhìn ra dòng sông phía dưới. Chắc chắn cô kia hiểu điều đó nghĩa là gì, bởi cô cũng thở dài mà quay ra ngắm nhìn dòng sông.
Hiển nhiên đã có một người thứ tư, một kẻ vô hình đã tới với chúng tôi. Khi nhìn bộ váy trong nhà và cũng là chiếc áo tang của Adriana, rốt cục tôi cũng hiểu. Tôi luận rằng Terenzio Papiano, người anh rể hiện đang ở Napoli, hẳn không có vẻ của một người đàn ông góa vợ đau khổ, mà cái vẻ ấy thì tôi có, như lời cô Caporale.
Thú thực là tôi thấy thích khi cuộc hội thoại chấm dứt một cách tệ hại thế này. Nỗi đau mà Adriana phải chịu đựng vì người chị gái quá cố và Papiano góa vợ chính là hình phạt cho sự thiếu tinh tế của cô Caporale.
Nhưng chẳng phải nếu nhìn nhận thẳng thắn, câu hỏi mà đối với tôi là thiếu tinh tế, suy cho cùng chỉ là do trí tò mò tự nhiên vô cùng chính đáng, dấy lên từ sự im lặng kì lạ bao bọc lấy con người tôi hay sao? Bởi giờ đây tôi chẳng thể chịu đựng sự cô độc thêm nữa và buông xuôi trước cám dỗ được ở cạnh bên người khác. Vậy trước những câu hỏi của họ, những người hoàn toàn có quyền được biết họ đang nói chuyện với ai, tôi phải thỏa mãn họ, phải hạ mình theo cách tốt nhất có thể, nghĩa là nói dối, là tưởng tượng: chẳng còn cách nào khác! Lỗi chẳng phải ở họ, mà ở tôi. Giờ tôi đã làm nó nghiêm trọng thêm nữa, đúng vậy, bằng lời nói dối. Nhưng nếu tôi không muốn chịu đựng những lời nói dối đó, tôi sẽ phải rời đi, tiếp tục hành trình lang thang khép mình cô độc.
Tôi để ý thấy chính Adriana, trong khi chẳng bao giờ hỏi tôi những câu hỏi thiếu tinh tế, nàng lại tập trung lắng nghe tôi trả lời cô Caporale. Thú thực, những câu hỏi của cô này thi thoảng vượt quá giới hạn của trí tò mò tự nhiên và chính đáng.
Ví như một tối, trên ban công, bấy giờ đã là nơi chúng tôi thường tề tựu khi tôi trở về sau bữa tối, cô Caporale vừa cười vừa hỏi tôi, bỏ ngoài tai tiếng thét dữ dội của Adriana: – Không, Silvia, em cấm đấy! Chị dám? – Cô ta hỏi tôi:
– Xin lỗi, ngài Meis, Adriana muốn biết tại sao ngài không nuôi lấy một bộ ria mép.
– Không phải đâu! – Adriana gào lên. – Xin ngài đừng tin, ngài Meis! Là chị ấy… Tôi…
Nàng bất chợt bật khóc, cô chủ nhà đáng mến. Cô Caporale ngay lập tức dỗ dành nàng:
– Thôi nào, sao vậy! Có gì đâu chứ! Có gì xấu đâu?
Adriana dùng cùi chỏ đẩy cô ra:
– Điều xấu là chị đã nói dối, và chị làm em giận! Chúng ta đang nói về diễn viên kịch hát mà tất cả họ đều… như thế, thì bỗng nhiên chị bảo: “Cũng như ngài Meis! Ai biết được tại sao ngài ấy không nuôi một hàng ria mép chứ?…”, và rồi em chỉ nhắc lại: “Ừm, ai biết được…”
– Được rồi, – cô Caporale tiếp lời, – ai bảo “ai biết được…”, có nghĩa là người đó muốn biết!
– Nhưng chị nói trước cơ mà! – Adriana phản đối, bực tức lên đến đỉnh điểm.
– Tôi có thể trả lời không? – Tôi hỏi, những mong làm mọi người bình tĩnh.
– Không, xin lỗi, ngài Meis: chúc ngài buổi tối tốt lành! -Adriana nói, rồi nàng đứng dậy đi khỏi.
Nhưng cô Caporale kéo tay nàng lại:
– Thôi nào, sao em ngốc thế! Đùa thôi mà… Ngài Adriano tốt bụng sẽ thông cảm cho chúng ta thôi. Có phải không, ngài Adriano? Ngài nói đi… Vì sao ngài lại không nuôi ria mép.
Lần này thì Adriana cười, đôi mắt hẵng còn mọng nước.
– Bởi có một bí ẩn, – tôi đổi giọng bông đùa. – Tôi đã thề sẽ không tiết lộ!
– Chúng tôi không tin đâu! – Cô Caporale thốt lên với cùng chất giọng ấy; nhưng rồi cô nói tiếp: – Nhưng nghe này: chuyện ngài là một bí ẩn thì chẳng có gì phải bàn cãi. Nhưng ví dụ thế này, sau bữa trưa hôm nay, ngài đến Bưu điện làm gì vậy?
– Tôi đến Bưu điện?
– Vâng thưa ngài. Ngài phủ nhận ư? Tôi tận mắt nhìn thấy ngài. Khoảng 4 giờ… Lúc ấy tôi đang đi ngang qua Quảng trường San Silvestro…
– Cô nhầm rồi, thưa quý cô: đó không phải tôi.
– Hẳn rồi, hẳn rồi, – cô Caporale nói, vẻ hoài nghi. – Một người bạn qua thư bí mật… Tại sao mà quý ông đây chẳng bao giờ nhận thư ở nhà, có đúng không, Adriana? Bà giúp việc đã bảo chị, chính vậy đấy!
Adriana ngồi trên ghế, lúng túng và bực bội.
– Đừng nghe chị ấy, – nàng vừa nói vừa nhìn tôi với ánh mắt đau đớn nhưng cũng ra chiều âu yếm.
– Tôi không nhận thư ở nhà, cũng không ghé bưu điện! – Tôi đáp. – Sự thật đáng tiếc là vậy! Chẳng ai viết thư cho tôi cả, thưa quý cô, bởi một lý do vô cùng đơn giản, rằng tôi chẳng còn ai có thể viết thư cho tôi cả.
– Ngay cả một người bạn ư? Có thể sao? Không một ai?
– Không một ai. Chỉ có tôi và cái bóng của tôi trên trái đất này. Tôi có nó làm bạn đồng hành đi tới mọi miền, không ngừng nghỉ, chính cái bóng này. Trước đây, chưa bao giờ tôi dừng lại đủ lâu ở một nơi nào đó để có thể gây dựng một tình bạn bền vững.
– Ngài sướng thật, – cô Caporale thở hắt ra mà thốt lên, – ngài có thể du ngoạn suốt cuộc đời! Ít nhất thì hãy kể cho chúng tôi về những chuyến du ngoạn của ngài, nào, nếu ngài không muốn kể cho chúng tôi những thứ khác.
Dần dần, tôi vượt qua các vách đá là những câu hỏi đầu tiên có phần khiếm nhã, né tránh chúng bằng mái chèo của những câu trả lời dối trá cần thiết nhằm đưa đẩy và chống đỡ. Tôi nắm chặt cả hai tay vào những mái chèo có thể đẩy mình ra xa khỏi những vách đá kia nhất. Tôi từ từ, thận trọng xoay chuyển chúng, cốt lèo lái con thuyền tưởng tượng nho nhỏ của tôi có thể sau rốt vươn ra biển lớn và giương lên cánh buồm mộng ảo.
Và bây giờ, sau hơn một năm sống trong im lặng gượng ép, tôi thấy hứng khởi biết bao khi được nói, hàng tối, ở đó trên ban công, về những gì tôi đã thấy, về những nhận định, những sự vụ mà tôi đã gặp phải chỗ này chỗ kia. Chính tôi cũng ngỡ ngàng khi thấy mình đã khắc ghi biết bao những ấn tượng từ vô vàn cuộc phiêu du. Sự im lặng đã chôn giấu chúng trong tôi. Giờ đây, khi tôi nói, chúng lại hiện hữu, sống động mà nhảy múa trên làn môi tôi. Sự ngỡ ngàng thầm kín này đã tô màu sặc sỡ cho câu chuyện của tôi. Nhìn hai người phụ nữ hứng thú nghe tôi kể chuyện, trong tôi dần dần sinh ra cảm giác nuối tiếc một sự tốt đẹp mà tôi chưa từng thực sự say đắm; và cả cảm giác nuối tiếc này cũng tô điểm thêm cho câu chuyện của tôi.
Qua vài tối, thái độ, cách hành xử của cô Caporale đối với tôi đã biến đổi chóng mặt. Đôi mắt sầu thảm của cô trở nên yếu đuối. Hơn bao giờ hết, đôi mắt ấy gợi cho tôi hình ảnh của hai quả đối trọng bằng chì. Và cũng hơn bao giờ hết, cặp mắt và khuôn mặt giống một chiếc mặt nạ Carnevale tương phản dị hợm. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa: cô Caporale đã phải lòng tôi!
Từ cảm giác bất ngờ vô cùng kỳ cục, tôi nhận ra rằng suốt những buổi tối kia, tôi đã nói hoàn toàn chẳng vì cô Caporale, mà vì cô nàng còn lại, người luôn luôn im lặng lắng nghe. Hiển nhiên là nàng cũng cảm nhận được tôi nói vì nàng. Bởi vậy, ngay lập tức tôi và Adriana ngầm bảo nhau cùng tận hưởng những tác động kỳ khôi và bột phát, nảy sinh từ sự va chạm giữa lời đàm luận của tôi và sợi dây cảm tính vô cùng nhạy cảm của cô giáo tứ tuần dạy đàn piano này.
*
Nhưng, với phát hiện này, tôi chẳng nghĩ được gì hơn ngoài những suy tư thuần khiết về Adriana: lòng từ tâm chân thành điểm xuyết nét buồn của nàng đâu thể khiến tôi có những suy nghĩ khác. Tôi hạnh phúc xiết bao về sự kết nối đầu tiên ấy, khi nàng chiến thắng sự rụt rè cẩn trọng trong mình mà chia sẻ với tôi. Một cái nhìn thoáng qua, lóe lên như tia nắng duyên dáng dịu ngọt; một nụ cười thương hại trước những câu nịnh bợ kỳ quái của người phụ nữ tội nghiệp kia; hay khi nàng, với đôi mắt và một cái lắc đầu nhẹ, đã hồn hậu nhắc nhở tôi mỗi khi tôi đi quá giới hạn một chút, vì sự tiêu khiển thầm kín của hai người chúng tôi mà thả thêm sợi dây hy vọng cho chiếc diều của người phụ nữ kia. Cánh diều ấy khi thì thả mình trên cõi thiên đường xanh thẳm, khi thì chao liệng vì những cú giật bất ngờ và dữ dội của tôi.
– Hẳn ngài là một người lãnh đạm, – một hôm cô Caporale bảo tôi, – nếu sự thật là như ngài nói và tôi chẳng tin, rằng ngài đã đi đến bước này của cuộc đời mà vẫn miễn nhiễm.
– Miễn nhiễm? Là sao?
– Vâng, ý tôi là ngài chẳng bao giờ yêu đương…
– À, không bao giờ, thưa quý cô, không bao giờ!
– Nào, chẳng phải ngài đã muốn kể cho chúng tôi, từ đâu mà ngài có chiếc nhẫn mà ngài phải nhờ một người thợ kim hoàn cắt ra vì nó siết chặt ngón tay ngài quá thể…
– Vì nó làm tôi đau! Không phải tôi đã nói rồi hay sao? Vâng! Đó là một kỷ vật của ông nội tôi, thưa quý cô.
– Nói dối!
– Cô muốn nói thế nào cũng được; nhưng nghe này, tôi sẽ kể với cô rằng chiếc nhẫn này ông nội tôi tặng tôi ở Firenze, khi chúng tôi đương rời khỏi bảo tàng Uffizi, và cô biết tại sao không? Bởi tôi, lúc ấy mới mười hai tuổi, đã nhầm một bức của Perugino2 thành một bức của Raffaello3. Chính vậy đấy. Phần thưởng cho sự nhầm lẫn ấy chính là chiếc nhẫn, sản phẩm từ một kệ hàng trên cầu Ponte Vecchio. Sự thực thì ngay cả ông nội tôi, vì nguyên do nào tôi chẳng rõ, cũng đã một mực cho rằng bức tranh nọ của Perugino đích thị phải là của Raffaello. Đó chính là lý do tại sao ông tặng tôi chiếc nhẫn! Giờ thì cô sẽ hiểu ra rằng giữa bàn tay của một cậu bé mười hai tuổi và bàn tay xấu xí này của tôi có sự khác biệt chứ. Cô nhìn xem? Giờ tôi trông thế này, bàn tay xấu xí này thực chẳng hợp với một chiếc nhẫn thanh thoát. Có thể tôi không lãnh đạm; nhưng tôi là người hiểu chuyện, thưa quý cô. Tôi nhìn vào gương, và dù cho cặp kính này có vớt vát được phần nào, nhưng tôi lập tức ngã lòng: “Làm sao mà anh Adriano thân mến của tôi ơi,” tôi tự nhủ, “có thể nghĩ rằng sẽ có người phụ nữ nào đó yêu anh cho được?”
– Ôi suy nghĩ mới lạ làm sao! – Cô Caporale cảm thán. – Khi ngài nói vậy, ngài tin là ngài hiểu chuyện ư? Trái lại đấy, ngài thực vô cùng bất công đối với phụ nữ chúng tôi. Bởi người phụ nữ, ngài Meis thân mến, hiểu đàn ông, rộng lượng hơn đàn ông, và chẳng chăm chăm vào vẻ đẹp hình thể như đàn ông.
– Vậy thì cứ coi như phụ nữ dũng cảm hơn đàn ông đi, thưa quý cô. Bởi tôi thừa nhận rằng ngoài sự độ lượng, một người phụ nữ hẳn phải có lòng quả cảm để có thể chân thành yêu lấy một người đàn ông như tôi.
– Ngài thôi đi! Hẳn ngài thích nói xấu và tự làm xấu bản thân đấy, trong khi ngài chẳng hề như vậy.
– Đấy là sự thật. Và cô biết tại sao không? Để không khiến người khác phải thương hại tôi. Cô nghĩ xem, nếu tôi gắng tô điểm bản thân bằng cách nào đó, người ta sẽ bảo: “Nhìn xem cái người đàn ông tội nghiệp kia: hắn những muốn trở nên đỡ xấu xí hơn bằng hàng ria mép hay sao!” Nhưng, nếu tôi cứ thế này thì chẳng có chuyện gì cả. Tôi xấu xí? Vậy thì xấu cũng được, miễn sao tâm hồn tôi thanh thản, không phải chịu đựng sự thương hại của kẻ khác. Cô thấy sao?
Cô Caporale thở dài một tiếng.
– Ngài nhầm rồi, – cô đáp. – Ví như ngài nuôi chút râu, ngài sẽ nhận ra ngay tức thì rằng ngài chẳng phải là con quái vật mà ngài vẫn tưởng tượng đâu.
– Còn con mắt này thì sao? – Tôi chất vấn.
– Ôi Chúa ơi, trong trường hợp ngài muốn nói trắng tất cả mọi chuyện thế này, – cô Caporale nói, – tôi đã muốn nói với ngài từ mấy ngày trước rồi: xin lỗi, tại sao ngài không đi tiến hành một cuộc phẫu thuật chỉnh mắt, việc giờ đây đã trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết? Nếu muốn, chỉ trong một thời gian ngắn, ngài có thể rũ bỏ chứng tật nhỏ bé này.
– Cô thấy chưa, quý cô? – Tôi kết luận. – Chính phụ nữ mới rộng lượng hơn đàn ông; nhưng tôi xin nhắc cho cô biết rằng cô đang từng bước, từng bước khuyên tôi đi thiết lập một khuôn mặt mới đấy.
Tại sao tôi cứ cố chấp với cuộc đối thoại này? Trước mặt Adriana, tôi muốn để cô giáo dạy đàn Caporale ấy giãi bày rằng cô có thể sẽ yêu tôi, hay nói đúng hơn là đã yêu tôi, ngay cả khi trông tôi thế này, râu ria nhẵn nhụi và con mắt hiếng? Không. Tôi đã nói và vặn hỏi chi tiết cô Caporale nhiều đến vậy, chỉ bởi tôi nhận ra Adriana đã thích thú, có thể chỉ trong vô thức, trước mỗi câu trả lời ngạo nghễ mà cô kia ném lại cho tôi.
Từ đó tôi hiểu ra rằng bất chấp vẻ ngoài kỳ quái, nàng sẽ có thể yêu tôi. Tôi thậm chí chẳng dám tự nhủ điều đó với bản thân mình. Nhưng từ tối hôm ấy trở đi, tôi tưởng như chiếc giường tôi ngự trị trong căn nhà ấy mềm mại hơn, những vật dụng xung quanh tôi trở nên thanh thoát hơn, bầu không khí tôi đương thở nhẹ nhàng hơn, bầu trời trong xanh hơn, vầng dương rực rỡ hơn. Tôi tin rằng sự biến đổi này có được do Mattia Pascal đã kết liễu đời mình ở đó, chỗ cối xay khu Lồng gà, và bởi tôi, Adriano Meis, sau khi lạc lối đôi chút trong sự tự do vô bờ, cuối cùng cũng đã lấy lại được thăng bằng, đạt được mục đích hoạch định lúc ban đầu, cải hóa bản thân mình thành một con người khác, sống một cuộc đời khác, mà giờ đây, chính vậy, tôi thấy, thấy mình chìm đắm trong đó.
Thế là tinh thần tôi phấn khởi, như những ngày thuở thiếu thời; mất hết đi nanh nọc của kinh nghiệm; tới nỗi ngay cả ông Anselmo Paleari mà tôi cũng thấy chẳng nhàm chán: bóng tối, màn sương, hơi khói phả ra từ những triết lý của ông đã bị ánh dương trong niềm hân hoan mới mẻ của tôi xua tan. Tội nghiệp ông Anselmo! Giữa hai điều mà theo ông ấy nói, mọi người đều phải suy ngẫm trên thế giới này, ông ấy đã chẳng nhận ra rằng cho tới giờ ông chỉ nghĩ tới một: có thể vậy sao? Không! Biết đâu trước đây ông cũng muốn sống những ngày tươi đẹp! Đáng thương hơn là cô Caporale, người mà ngay cả rượu cũng chẳng thể đem lại niềm vui như cái lão già say xỉn đáng nhớ mà tôi gặp ở đường Borgo Nuovo: cô muốn sống, chính cô ấy, tội nghiệp, và cô ấy nghĩ rằng đàn ông rặt toàn những kẻ hẹp hòi chỉ chăm chăm đến vẻ đẹp hình thể. Ấy thế nhưng thẳm sâu trong tâm hồn, liệu cô ấy có cảm thấy mình xinh đẹp? Ôi ai mà biết được cô có thể hy sinh thế nào và nhiều biết bao nhiêu khi tìm được một người đàn ông “rộng lượng”! Hẳn cô sẽ chẳng thèm động đến một giọt rượu nữa.
“Nếu ta công nhận,” tôi thầm nghĩ, “lầm lạc là bản chất của con người, vậy phải chăng công lý là một sự độc ác phi nhân tính?”
Và tôi tự nhủ rằng mình không được độc ác đối với cô Caporale tội nghiệp nữa. Tự nhủ vậy; nhưng hỡi ôi, tôi đã độc ác mà nào có muốn. Thậm chí tôi càng mong mình không như vậy đến bao nhiêu, tôi càng độc ác bấy nhiêu. Sự cởi mở của tôi là bùi nhùi cho ngọn lửa âm ỉ của cô. Trong khi đó lại xảy ra chuyện rằng: trước những lời tôi nói, người phụ nữ tội nghiệp ấy trắng bệch, trong khi Adriana mặt đỏ dừ. Tôi chẳng rõ lắm điều mình nói, nhưng tôi cảm thấy từng từ ngữ, thanh âm hay biểu cảm của tôi chẳng vượt quá giới hạn mà chỉ làm nàng khó chịu, người mà tôi thật tâm hướng đến. Tôi những mong chúng sẽ phá vỡ mối giao cảm thầm lặng mà tự bao giờ – bằng cách nào tôi chẳng biết – nó đã hiện ra giữa hai chúng tôi.
Tâm hồn có phương thức đặc biệt để thấu hiểu lẫn nhau, để đi vào chiều sâu thân mật, tới ngưỡng chẳng cần đến ngôn ngữ khách sáo, trong khi con người của ta lại bị trói chặt trong sự trao đổi những ngôn từ quen thuộc, phục dịch cho những nhu cầu xã hội. Tâm hồn cũng có những nhu cầu và khát vọng của riêng nó mà thân thể nào có chịu hiểu cho, mỗi khi thân thể bất lực không thể thỏa mãn những nhu cầu kia hay chuyển biến chúng thành hành động. Khi hai người liên hệ với nhau bằng cách này, chỉ với tâm hồn, thì khi chỉ có một mình ở nơi nào đó, họ sẽ khó chịu và lo lắng, thậm chí ghét bỏ mãnh liệt thế giới vật chất. Nỗi thống khổ ấy rời xa họ, vụt tắt ngay tắp lự khi có một kẻ thứ ba chen vào. Vậy là khi đau buồn qua đi, hai tâm hồn nhẹ bẫng lại quay trở về tìm kiếm và mỉm cười với nhau từ đằng xa.
Biết bao lần tôi đã có trải nghiệm ấy với Adriana! Lúc ấy đối với tôi, sự khó chịu của nàng chỉ là hệ quả từ tính cách thận trọng bản năng và nhút nhát của nàng. Còn sự khó chịu của tôi, tôi tin là nó bắt nguồn từ nỗi tiếc nuối về sự giả tạo, sự tồn tại giả tạo vẫn đương tiếp diễn, buộc tôi phải phục tùng, khi đứng trước sự chân thành và trong sáng của sinh vật ngọt ngào thần bí kia.
Giờ đây, trong mắt tôi nàng đã thay hình đổi dạng. Chẳng phải nàng đã thực sự thay đổi suốt một tháng qua hay sao? Chẳng phải những ánh nhìn chốc lát của nàng đã ánh lên một tia sáng nội tâm sống động hay sao? Còn nụ cười của nàng chẳng phải đã bộc lộ rằng trọng trách làm một cô chủ nhà thông thái đã không còn đè nặng lên vai nàng như trước, như hồi đầu tôi những tưởng là một vở trình diễn?
Vâng, có thể bản năng đã tạo cho nàng một nhu cầu giống tôi, nhu cầu được vẽ nên ảo ảnh của một cuộc đời mới, trong khi chẳng biết bằng cách nào mà làm được điều ấy hay cuộc sống đó sẽ ra sao. Một ước muốn mơ hồ, như thể một cơn gió của tâm hồn đã chầm chậm mở ra cho nàng, cũng như cho tôi, cánh cửa nhìn về tương lai. Từ nơi ấy chiếu ra một tia sáng ấm áp lôi cuốn, khiến chúng tôi chẳng dám lại gần khung cửa kia để đóng lại hay nhìn xem có gì đằng xa.
Cảm giác say mê ngọt ngào và thuần khiết của chúng tôi cũng tác động lên cô Caporale tội nghiệp.
– Ôi cô biết không, thưa quý cô, – một tối nọ tôi nói, – rằng có thể tôi sẽ quyết định nghe theo lời khuyên của cô đấy?
– Lời khuyên nào cơ? – Cô hỏi tôi.
– Đi tìm một bác sĩ nhãn khoa mổ mắt.
Cô Caporale vỗ tay, vẻ hài lòng.
– Ôi! Tuyệt vời! Bác sĩ Ambrosini! Ngài hãy gọi bác sĩ Ambrosini: ông ấy là bác sĩ giỏi nhất, ông ấy làm phẫu thuật chữa chứng đục thủy tinh thể cho người mẹ đáng thương của tôi. Em thấy không? Em thấy không, Adriana, cái gương biết nói đấy? Chị đã bảo gì với em nào?
Adriana mỉm cười, và tôi cũng mỉm cười.
– Không phải cái gương, thưa quý cô, – tôi bộc bạch. – Tôi cảm thấy cần thiết thôi. Con mắt này đã làm tôi khó chịu lâu rồi: nó chẳng bao giờ phục vụ tôi tận tình; ấy vậy nhưng tôi chẳng muốn đánh mất nó.
Sự thật không phải vậy. Cô Caporale nói đúng: cái gương, chính cái gương đã nói và đã bảo tôi rằng một cuộc phẫu thuật tương đối nhẹ nhàng có thể xóa bỏ khỏi gương mặt tôi cái đặc điểm xấu xí nhưng rất đỗi đặc biệt của Mattia Pascal. Như vậy, Adriano Meis sẽ chẳng cần đến cặp kính xanh, có thể nuôi được hàng ria mép và rốt cục có thể hài hòa hình thể với những biến đổi tâm tình một cách tốt nhất có thể.
*
Vào một đêm vài ngày sau, khi nấp mình sau chớp cửa sổ phòng, tôi chứng kiến một cảnh đã bất chợt rúng động lòng tôi.
Cảnh tượng diễn ra ở ban công bên cạnh, nơi tôi đã trò chuyện với hai người phụ nữ cho tới khoảng 10 giờ. Trở về phòng, tôi lơ đễnh đọc một trong những cuốn ưa thích của ông Anselmo, luận về Luân hồi. Được một lúc, tôi nghe có tiếng nói ở ban công bên cạnh: tôi dỏng tai nghe xem có phải giọng của Adriana hay không.
Không. Có hai người đang thì thầm, giọng lo lắng: tôi nghe thấy một giọng nam, không phải là giọng ông Paleari. Nhưng đàn ông trong nhà này đâu còn ai khác ngoài ông ấy và tôi. Tò mò, tôi áp sát lấy cửa sổ mà nhìn qua khe hở trên cánh cửa chớp. Trong bóng tối tôi tưởng như nhìn ra cô Caporale. Nhưng người đàn ông mà cô ta đang trò chuyện cùng là ai? Hay là hắn ta đã trở về từ Napoli mà không báo trước, tên Terenzio Papiano?
Nhờ một từ mà cô Caporale thốt ra có hơi cao giọng, tôi hiểu rằng họ đang bàn về mình. Tôi áp sát hơn vào cánh cửa chớp mà dỏng tai chăm chú thêm nữa. Tên kia tỏ vẻ khó chịu trước những tin mà hẳn là cô giáo dạy đàn piano đã kể cho hắn về tôi. Và kìa, cô ta giờ đang cố sức xoa dịu cái ấn tượng mà những thông tin kia đã khơi gợi trong tâm hồn hắn.
– Hắn giàu? – Được một lúc, hắn hỏi. Và cô Caporale đáp:
– Em không biết. Có vẻ vậy! Chắc chắn hắn sống tự lập, mà chẳng làm lụng gì…
– Hắn luôn ở nhà?
– Không! Rồi ngày mai anh sẽ thấy…
Cô ta nói chính xác như vậy: anh sẽ thấy. Vậy là cô ta nói chuyện với hắn mà không dùng kính ngữ; vậy thì Papiano (chẳng còn nghi ngờ gì nữa) là tình nhân của cô Caporale… Vậy cớ sao suốt những ngày qua, cô ta đã tỏ ra quan tâm tôi?
Trí tò mò của tôi trở nên sống động hơn bao giờ hết. Nhưng, cứ như thể cố tình trêu tức tôi, hai người họ bắt đầu nhỏ tiếng vô cùng. Tai chẳng còn tác dụng, tôi đành cậy nhờ đôi mắt. Và kìa, tôi thấy cô Caporale đặt một tay lên lưng Papiano. Một lúc sau, tên này sỗ sàng đẩy cô ta ra.
– Nhưng làm sao em cản hắn được? – Cô ta nói, có chút cao giọng xen lẫn khó chịu bực bội. – Em là ai? Em là gì trong cái nhà này?
– Gọi Adriana cho anh! – Tên kia ra lệnh, giọng trịch thượng.
Nghe hắn nhắc tên Adriana với giọng điệu kia, tôi siết chặt tay, máu nóng sục sôi trong huyết quản.
– Cô ấy ngủ rồi, – cô Caporale nói.
Hắn sầm mặt lại, vẻ đe dọa:
– Đánh thức nó dậy! Ngay bây giờ!
Tôi chẳng biết bằng cách nào mà mình đã kiềm chế mà không giận dữ bật tung cánh cửa chớp ra.
Nỗ lực kiềm chế, rốt cục trong chốc lát, tôi cũng đã bình tĩnh được. Những câu từ tương tự xen lẫn bực bội mà lúc nãy người phụ nữ tội nghiệp kia bật ra, giờ đương tung tẩy trên đầu môi tôi: “Mình là ai? Mình là gì trong cái nhà này?”
Tôi rời khỏi cửa sổ. Lập tức tôi nghĩ ra lời biện minh cho hành động không hay vừa rồi của mình: hai người này, họ đã nói về tôi, và tên kia vẫn còn muốn nói với Adriana nữa: tôi phải biết, phải hiểu tất cả những xúc cảm của hắn đối với con người tôi.
Tôi dễ dàng chấp nhận lời biện minh cho hành vi khiếm nhã mà tôi phạm phải khi bí mật theo dõi và nghe trộm. Điều đó khiến tôi cảm thấy và đoán định rằng trong thời điểm ấy, tôi đã đặt lợi ích của bản thân lên trước để tránh phải bận lòng về lợi ích rõ ràng là cấp thiết hơn của một người khác.
Tôi quay lại và theo dõi qua khe cửa chớp.
Cô Caporale chẳng còn trên ban công. Tên kia còn lại một mình. Hắn ngắm nhìn dòng sông, hai cùi chỏ dựa lên lan can, đôi tay ôm đầu.
Khuất phục trước sự hồi hộp giằng xé, tôi chờ đợi, co mình, hai tay siết chặt đầu gối, chờ Adriana bước ra ngoài ban công. Đợi chờ dai dẳng hoàn toàn chẳng làm tôi kiệt quệ, mà thay vào đó nó nâng đỡ tôi dần dần, tạo cho tôi cảm giác thỏa mãn mãnh liệt ngày một dâng trào: tôi đoán rằng khi tới đó, Adriana sẽ chẳng đầu hàng trước tên xấu xa kiêu ngạo kia. Biết đâu cô Caporale sẽ chắp tay cầu khẩn nàng. Và kìa, trong lúc ấy, trên ban công, hắn đương bị nỗi bực bội gặm nhấm. Tôi đã mong đến một lúc nào đó, cô giáo dạy đàn sẽ quay trở lại và bảo rằng Adriana chẳng muốn dậy. Nhưng không: nàng kia!
Papiano lập tức đến trước mặt nàng.
– Cô đi ngủ đi! – Hắn bảo cô Caporale. – Hãy để tôi nói chuyện với em vợ mình.
Cô ta vâng lệnh, rồi Papiano ra đóng cửa ngăn cách phòng ăn và ban công.
– Đừng hòng! – Adriana nói, một tay giữ lấy cánh cửa.
– Nhưng anh có chuyện phải nói với em! – Ông anh vợ gắt, vẻ lầm lì, cố thấp giọng.
– Nói đi! Anh muốn nói gì? – Adriana phản bác. – Anh có thể chờ đến mai kia mà.
– Không! Ngay bây giờ! – Tên kia độp lại rồi nắm lấy tay nàng mà kéo nàng về phía hắn.
– Này! – Adriana thét lên, vùng vẫy dữ dội.
Tôi chẳng thể chịu được nữa: tôi mở cánh cửa chớp.
– Ôi! Ngài Meis! – Nàng gọi tôi ngay tắp lự. – Ngài có thể tới đây một chút được không, nếu không phiền?
– Tôi đây, thưa tiểu thư! – Tôi nhanh chóng đáp lời.
Trái tim tôi đương nhảy múa trong lồng ngực vì sung sướng, vì biết ơn. Trong thoáng chốc, tôi đã ở hành lang. Nhưng ở đó, bên thềm cửa vào phòng tôi, tôi nhác thấy một cậu thiếu niên gầy gò cuộn tròn trên một chiếc hòm, tóc vàng óng, mặt dài, nước da nhợt nhạt. Cậu ta đương gắng gượng mở ra cặp mắt xanh màu thiên thanh, nhàn nhạt, ngây dại. Tôi dừng lại một giây, ngạc nhiên mà quan sát cậu. Tôi đoán hẳn đó là em trai của Papiano. Rồi tôi lao ra ngoài ban công.
– Xin giới thiệu với ngài, ngài Meis, – Adriana nói, – anh rể tôi Terenzio Papiano, vừa mới trở về từ Napoli.
– Rất hân hạnh! Rất hân hạnh! – Vừa thốt lên, hắn vừa bỏ mũ, cúi người thật sâu rồi bắt tay tôi hồ hởi. – Tôi rất tiếc vì đã không ở Roma suốt thời gian qua; nhưng tôi chắc rằng cô em vợ bé bỏng của tôi đã biết chu toàn mọi sự, có phải vậy không ạ? Nếu ngài thiếu thứ gì, xin hãy nói, xin hãy nói ra tất cả, ngài biết đấy! Ví như nếu ngài cần một chiếc bàn viết lớn hơn… hay bất cứ vật dụng gì khác, xin hãy cứ nói đừng ngần ngại… Chúng tôi hân hạnh được làm hài lòng những vị khách đã có duyên đến với chúng tôi.
– Cảm ơn, cảm ơn, – tôi nói. – Tôi chẳng thiếu thứ gì. Cảm ơn ngài.
– Đó là bổn phận của tôi mà, có gì đâu chứ! Xin hãy trông cậy ở tôi, ngài biết đấy, bất cứ khi nào ngài cần, bằng chút sức lực nhỏ nhoi tôi sẽ gắng hết sức… Adriana, em thân yêu, em đương ngủ mà: về giường đi, nếu em muốn…
– À, hẳn thế, – Adriana mỉm cười rầu rĩ đáp, – giờ em tỉnh mất rồi…
Rồi nàng tựa mình vào lan can mà ngắm nhìn dòng sông.
Tôi thấy dường như nàng không muốn để tôi một mình với hắn. Nàng sợ gì chứ? Nàng cứ đứng đó mà mơ màng. Mũ vẫn cầm trên tay, tên kia kể lại cho tôi về Napoli, nơi hắn đã phải nán lại lâu hơn so với dự tính. Hắn phải chép lại một số lượng lớn giấy tờ trong kho lưu trữ riêng của Nữ bá tước rất đỗi quyền uy Teresa Ravaschieri Fieschi: Người mẹ Bá tước, mọi người đều gọi bà như vậy. Người mẹ Nhân từ, hắn những muốn gọi bà bằng cái tên này. Đó là những giấy tờ có giá trị liên thành, có thể hé lộ một góc nhìn khác về số phận của Vương quốc Hai Sicilia4, đặc biệt là về Gaetano Filangieri, Hoàng tử thành Satriano. Hầu tước Giglio, don Ignazio Giglio d’Auletta, người nhận Papiano làm thư ký, mong muốn viết một cuốn tiểu sử chi tiết và trung thực nhất về nhân vật này. Trung thực ít nhất là đến ngưỡng mà lòng tận tụy trung thành với nhà Borbone5 cho phép ngài Hầu tước.
Hắn chẳng chịu dừng. Hiển nhiên hắn mê đắm tài ăn nói của mình, cái chất giọng của hắn lúc nói trầm bổng như một kịch gia lão luyện, khi thì một tiếng cười nhỏ nhẹ khi lại một cử chỉ biểu cảm. Tôi ngây ra như phỗng, thi thoảng gật đầu đồng ý, có lúc lại đánh mắt nhìn sang Adriana. Nàng vẫn đứng đó mà ngắm nhìn dòng sông.
– Và, tiếc thực! – Tên Papiano kia cất giọng nam trung, chừng như định kết thúc cuộc nói chuyện. – Hầu tước Giglio d’Auletta là một người thân Borbone và là một linh mục! Còn tôi, tôi… (vẫn tự nhủ mình phải thấp giọng, ngay cả ở đây, trong nhà mình) tôi mà mỗi buổi sáng, trước khi ra ngoài, đều giơ tay vẫy chào bức tượng Garibaldi6 trên đồi Janiculum (ngài thấy chưa? Nhìn từ đây nó hiện lên thực tuyệt vời), tôi mà mỗi giây mỗi phút đều muốn hét lên rằng: “Ngày 22 tháng Chín muôn năm7!”, tôi phải làm thư ký cho ông ấy! Một con người vô cùng tốt bụng, ta hãy cứ tin là thế! Nhưng lại là một linh mục thân Borbone. Vâng thưa ngài… Tôi làm vậy vì miếng ăn! Tôi thề với ngài rằng đã không biết bao lần tôi những muốn nhổ vào miếng ăn ấy, ngài thứ lỗi cho! Nhưng nó cứ mắc trong họng, nó làm tôi mắc nghẹn… Nhưng tôi có thể làm gì đây? Tất cả chỉ vì miếng ăn! Miếng ăn!
Hắn nhún vai đôi lần, giương hai tay mà vỗ vào hông.
– Nào, nào, Adriana xấu xí! – Rồi hắn vừa nói, vừa đi về phía nàng mà dùng hai tay kéo nhẹ hông nàng: – Về giường thôi! Muộn rồi. Quý ngài đây hẳn đã buồn ngủ lắm.
Trước bậu cửa phòng tôi, Adriana nắm lấy tay tôi thật chặt. Từ trước đến nay điều này chưa bao giờ xảy ra. Còn lại một mình, tôi nắm chặt tay một lúc lâu, như thể muốn lưu lại cảm giác bàn tay của nàng. Cả đêm ấy tôi nghĩ, trằn trọc giữa những ham muốn chồng chất. Sự giả tạo màu mè, vẻ thuần phục bóng bẩy hào nhoáng, thêm tâm hồn đen tối của tên kia có thể đã khiến tôi không chịu đựng được căn nhà này, nơi mà hắn – chẳng nghi ngờ gì nữa – muốn làm bá chủ, lợi dụng sợ ngờ nghệch của ông bố vợ. Ai biết được hắn sẽ giở những mánh khoé gì! Chẳng phải vừa rồi khi thấy tôi xuất hiện, hắn đã ngay lập tức thay đổi thái độ và thuyết cho tôi một tràng luân lý đó sao. Nhưng vì cớ gì hắn lại khó chịu như vậy khi thấy tôi trú ngụ trong căn nhà này? Cớ sao tôi chẳng thể nào làm một người thuê nhà như bao kẻ khác đối với hắn? Cô Caporale đã kể với hắn những gì về tôi? Có thể nào hắn lại thực sự ghen tức vì cô ta hay sao? Hay vì một người phụ nữ khác? Hành động ngạo mạn của hắn thực đáng ngờ. Hắn đuổi cô Caporale đi để được một mình với Adriana, người mà hắn nói chuyện với thái độ hùng hổ biết bao. Rồi sự phản kháng của Adriana, khi nàng ngăn không cho hắn đóng cửa. Và cả nét khó chịu của nàng mỗi khi tên anh rể vắng mặt được nhắc đến. Tất cả, tất cả như khẳng định mối nghi ngờ đáng ghét của tôi, rằng hắn đang nhắm đến nàng vì một mục đích nào đó.
Vậy cũng được. Nhưng sao tôi lại bị kích động vì chuyện này? Suy cho cùng thì tôi có thể biến khỏi căn nhà này, nếu hắn làm tôi khó chịu dù chỉ là một chút cơ mà? Điều gì có thể ngăn trở tôi? Chẳng có gì. Nhưng bằng niềm cảm thông trân quý vô cùng, tôi nhớ lại lúc nàng đã gọi tôi từ ban công, như thể nàng muốn được tôi che chở, và sau rốt nàng đã nắm tay tôi thật chặt, thật chặt…
Tôi đã để ngỏ cánh cửa chớp, cũng không kéo rèm phòng mình. Tới một lúc, mặt trăng hạ xuống giữa khoảng trống trên khung cửa. Nàng như muốn nhìn trộm tôi, đột kích tôi lúc ấy còn thức trên giường mà nói:
“Ta hiểu, anh bạn thân mến, ta hiểu! Còn anh, anh không hiểu ư? Thật sao?”
1. Ngôi đền vĩ đại: chỉ Vương Cung Thánh Đường San Pietro.
2. Pietro Perugino (1446 – 1523): họa sĩ thời kỳ Phục Hưng ở Italia, thầy của Raffaello.
3. Raffaello Sanzio da Urbino (1483 – 1520): hay còn được biết với tên Raffaello (Raphael), họa sĩ thời kỳ Phục Hưng ở Italia.
4. Vương quốc Hai Sicilia: vương quốc lớn nhất từng tồn tại trên bán đảo Italia thời kỳ tiền thống nhất, có thủ đô là thành phố Napoli.
5. Nhà Borbone (hay Bourbon): một trong những dòng dõi quý tộc lâu đời của châu Âu, gốc Pháp, đã từng cai trị một dải phía Nam của Italia, trong đó có Vương quốc Hai Sicilia.
6. Giuseppe Garibaldi (1807 – 1882): nhà cách mạng người Italia, thường được cho là có công lớn nhất trong công cuộc thống nhất Italia.
7. Ngày 22 tháng Chín năm 1870: ngày quân đội Vương quốc Italia tiến vào Roma, sáp nhập vùng Lazio với lãnh thổ của Vương quốc Italia, đánh dấu sự khai sinh của một Italia thống nhất, qua đó xóa bỏ toàn bộ quyền lực thế tục của Giáo hội Thiên Chúa Giáo.