Bốn mươi ngày trong bóng tối.
Thành công, ôi, cuộc phẫu thuật đã thành công tốt đẹp. Chỉ có điều con mắt này có lẽ sẽ to hơn con mắt kia chút chút. Kiên nhẫn! Và trong lúc ấy, vâng, tôi phải ở lại phòng, bốn mươi ngày trong bóng tối.
Tôi đã có thể luận ra rằng khi chịu khổ, con người sẽ ngẫm được một ý niệm đặc biệt về thiện và ác, có nghĩa là việc thiện mà những kẻ khác phải dành cho anh và việc thiện mà anh đòi hỏi, cứ như thể anh có cái quyền được bù đắp vì chính những khổ đau của mình; rồi thì điều ác mà anh có thể làm với kẻ khác, cứ như thể cũng chính vì những khổ đau của mình mà anh được phép làm những điều xấu xa ấy. Và nếu những kẻ khác không thực hiện bổn phận của họ mà làm việc thiện cho anh, anh sẽ buộc tội những kẻ ấy và anh sẽ dễ dàng có được lý do để thực hiện quyền làm điều ác.
Sau vài ngày bị cầm tù trong sự mù dở kia, niềm khát khao, nhu cầu được an ủi bằng một cách nào đó đã dâng lên trong tôi đến độ phẫn chí. Vâng, tôi biết mình đương ở trong một gia đình xa lạ; vậy nên đúng hơn tôi phải cảm tạ gia chủ vì sự chăm sóc rất đỗi tận tình của họ dành cho mình. Nhưng sự chăm sóc ấy đối với tôi không còn là đủ; thậm chí nó làm tôi khó chịu, cứ như thể họ làm vậy để chọc tức tôi. Chắc chắn vậy! Bởi tôi có thể đoán được sự săn sóc đó là từ ai. Bằng sự chăm lo, Adriana đã tỏ cho tôi thấy rằng với dòng tâm tư của mình, nàng đã ở cùng tôi gần như cả ngày trong phòng; cảm ơn vì sự an ủi! Nó có giá trị gì khi mà trong lúc ấy, với dòng tâm tư của riêng mình, tôi đã khao khát theo đuổi nàng phía này phía kia trong căn nhà, suốt cả ngày trời? Chỉ mình nàng mới có thể an ủi tôi: nàng phải làm. Hơn bất kỳ ai, nàng phải hiểu được rằng nhàm chán có thể đè nặng tôi như thế nào và nhiều biết bao nhiêu, có thể ăn mòn cái khát khao được nhìn thấy nàng hay ít nhất là cảm thấy nàng cạnh bên.
Khi nghe tin lão Pantogada đã bất chợt rời Roma, cơn giận dữ trong tôi đã thúc đẩy sự kích động và nỗi chán chường lên một bậc. Nếu biết trước lão phải rời đi sớm đến vậy, liệu tôi còn phải giấu mình trong bóng tối suốt bốn mươi ngày hay không?
Để an ủi tôi, ông Anselmo Paleari muốn chứng minh cho tôi rằng bóng tối là giả tưởng bằng một tràng luận lý.
– Giả tưởng? Cái này ư? – Tôi gào lên với ông.
– Ngài hãy bình tĩnh; để tôi giải thích.
Rồi ông giãi bày với tôi (cũng có lẽ để tôi sẵn sàng cho các thử nghiệm tâm linh mà lần này sẽ được tổ chức trong phòng tôi, cốt cho tôi giải khuây), ông giãi bày với tôi, tôi đương nói, một khái niệm triết học vô cùng hào nhoáng của ông, mà người ta có thể gọi là thuyết đèn lồng bé nhỏ.
Cứ lúc lúc, người đàn ông tốt bụng ấy sẽ dừng lại mà hỏi tôi:
– Ngài ngủ đấy ư, ngài Meis?
Tôi những định đáp lời ông rằng:
– Vâng, cảm ơn ngài, tôi đương ngủ đấy, ngài Anselmo.
Nhưng vì rốt cục ông ấy có ý tốt, muốn bầu bạn cùng, nên thay vào đó tôi đáp rằng tôi cực kỳ hứng thú và xin ông hãy tiếp tục.
Ông Anselmo tiếp tục giảng giải cho tôi rằng, vì kém may mắn, chúng ta chẳng thể như cây cỏ chỉ sống mà không cảm nhận. Đối với cây cỏ thì đất đai, mặt trời, không khí, mưa gió cũng chẳng phải điều gì xa lạ: chỉ là những thứ thân thiện hoặc độc hại với chúng. Còn với loài người chúng ta, thay vào đó, từ khi sinh ra, chúng ta đã có một sự ưu ái đáng buồn: sự ưu ái được cảm nhận rằng chúng ta đang sống. Và từ đó ta ảo tưởng, rằng cảm xúc về cuộc sống bên trong con người chúng ta chính là thực tại bên ngoài. Thứ cảm xúc ấy biến thiên và thay đổi tùy theo thời gian, số phận và may mắn.
Và rồi đối với ông Anselmo, thứ cảm xúc về cuộc sống này chính như một chiếc đèn lồng bé nhỏ mà chúng ta thắp sáng trong con người mình. Một chiếc đèn lồng bé nhỏ khiến chúng ta nhận ra bản thân lạc lối trên trái đất, khiến chúng ta nhận ra thiện và ác. Một chiếc đèn lồng bé nhỏ tỏa sáng quanh chúng ta dù ít dù nhiều, tới đằng kia nơi bóng đen tĩnh mịch, bóng đen rùng rợn mà sẽ chẳng tồn tại nếu chiếc đèn lồng bé nhỏ được thắp sáng trong ta. Nhưng chúng ta phải tin rằng bóng đen ấy có thực, chỉ có vậy thì chiếc đèn lồng bé nhỏ mới giữ được ánh sáng trong con người chúng ta. Khi sau rốt một cơn gió thổi tắt chiếc đèn lồng bé nhỏ, đêm trường sẽ tới bao bọc chúng ta sau một ngày mộng mị trong ảo tưởng, hay chúng ta sẽ khuất phục trong vòng cương tỏa của Sự tồn tại, kẻ sẽ chỉ đập vỡ những dạng thức vô dụng của lý trí chúng ta?
– Ngài ngủ đấy ư, ngài Meis?
– Ngài hãy tiếp tục, hãy cứ tiếp tục đi, ngài Anselmo: tôi không ngủ đâu. Tôi tưởng như sắp thấy nó rồi, chiếc đèn lồng bé nhỏ của ngài ấy.
– À, vậy được… Nhưng vì mắt ngài đang đau, chúng ta đừng đi sâu quá vào triết học, được không? Và chúng ta hãy theo đuổi từng bước, từng bước những chú đom đóm lạc lối, chính chúng là những chiếc đèn lồng của chúng ta, trong bóng tối của vận mệnh con người. Tôi đoán rằng thoạt tiên chúng có hàng loạt màu sắc; ngài nghĩ sao? Màu sắc phụ thuộc vào sắc kính mà ảo ảnh đã tạo ra cho chúng ta. Ảo ảnh là thương nhân vĩ đại, thương nhân buôn kính màu vĩ đại. Theo tôi thấy thì, ngài Meis, vào một số thời đại nhất định trong lịch sử, cũng như vào một số mùa nhất định trong cuộc đời từng cá nhân, ta có thể định ra được sự thống trị của một màu nhất định, phải vậy không? Thật ra, trong mỗi thời đại, giữa người với người dường như có một sự thống nhất về cảm xúc mà từ đó tỏa ra ánh sáng và màu sắc cho những chiếc đèn lồng vĩ đại, hay nói cách khác là những khái niệm trừu tượng: Sự thật, Đức hạnh, Vẻ đẹp, Danh dự, hay những gì khác mà tôi chẳng biết… Ví dụ, ngài không cảm thấy rằng chiếc đèn lồng vĩ đại của Đức hạnh ngoại đạo là màu đỏ hay sao? Còn màu tím, màu của phiền muộn, lan tỏa từ chiếc đèn lồng vĩ đại của Đức hạnh Công giáo. Ánh sáng của một ý niệm chung được nuôi dưỡng bằng cảm xúc của tập thể; và nếu thứ cảm xúc này phân tán, vậy thì dưới gốc ngọn đèn vẫn còn khái niệm trừu tượng, nhưng ngọn lửa của ý niệm kia chỉ lách tách, bập bùng và réo rắt bên trong, như vẫn thường xảy ra trong bất kỳ thời đại chuyển giao nào. Trong lịch sử chẳng hiếm những cơn cuồng phong dữ dội bỗng chốc dập tắt đi tất cả những chiếc đèn lồng vĩ đại kia. Thích thú làm sao! Giữa bóng tối bất chợt, chẳng thể tả xiết sự hỗn độn của những chiếc đèn lồng bé nhỏ: người tới bên này, người bên kia, người trở về sau, người quay mòng mòng; chẳng ai tìm thấy lối đi: người ta đâm sầm vào nhau, trong giây lát túm tụm lại mười người, hai mươi người; nhưng họ chẳng thể thống nhất với nhau, và rồi bực tức sục sôi, họ lại phân tán hỗn độn ghê gớm: như những chú kiến chẳng thể tìm được lối vào tổ, khi đã bị một đứa trẻ tàn nhẫn chắn mất. Tôi thiết tưởng, thưa ngài Meis, chúng ta đang ở giữa một trong những giai đoạn như vậy. Bóng tối bao trùm và hỗn độn bao trùm! Tất cả những chiếc đèn lồng vĩ đại đã tắt ngúm. Ta phải hướng tới ai? Có lẽ nào lại về phía sau? về những chiếc đèn dầu be bé mê tín, về những chiếc đèn dầu thắp sáng trên mộ của những vĩ nhân đã chết? Tôi vẫn nhớ một bài thơ hay của Niccolò Tommaseo1:
Ngọn đèn nhỏ bé của ta
Chẳng như mặt trời mà tỏa sáng,
Cũng chẳng như ngọn lửa mà tỏa khói;
Chẳng tí tách cũng chẳng tàn lụi,
Nhưng đỉnh ngọn đèn ta hướng tới
Phía bầu trời, nơi đã gửi cho ta ngọn đèn.
Nó sẽ ở phía trên ta, khi ta đã nằm chôn phía dưới,
Nó sẽ sống; bất kể mưa gió,
Thời gian cũng chẳng thể dập ngọn đèn ta tàn lụi;
Và những kẻ đi ngang qua
Lạc lối, với ánh sáng đã tắt
Họ sẽ thắp được ánh sáng nhờ ta2
Nhưng làm thế nào đây, thưa ngài Meis, nếu ngọn đèn của chúng ta thiếu đi thứ dầu thánh nuôi sống ngọn đèn của Nhà thơ? Vẫn còn nhiều kẻ tới nhà thờ để kiếm lấy dưỡng chất nuôi sống những ngọn đèn heo hắt của họ. Hơn nữa, họ là những người già, những phụ nữ nghèo khổ, những người mà cuộc đời đã lừa dối họ. Thế nhưng họ vẫn bước lên phía trước, trong bóng tối là sự tồn tại của họ, với thứ cảm xúc được thắp sáng thể như một ngọn đèn lễ tạ, ngọn đèn mà họ kinh hãi che chắn trước những đợt gió lạnh lẽo là những mê muội cuối cùng trong cuộc đời. Ít nhất nó vẫn sẽ sáng lên cho tới cửa tử, nơi mà họ vội vã lao tới, đôi mắt trân trân nhìn vào ngọn lửa mà thầm nghĩ liên hồi: “Chúa chứng giám!” để chẳng phải nghe tiếng kêu la giữa cuộc đời vây bủa đương rót vào tai họ thể như vô vàn lời báng bổ. “Chúa chứng giám…” bởi họ thấy Chúa, không chỉ trong bản thân họ, mà trong tất thảy, ngay cả trong thảm cảnh, trong những nỗi khổ đau của họ, và rằng họ sẽ được tưởng thưởng khi tới giây phút cuối cùng. Thứ ánh sáng yếu ớt nhưng bình yên tỏa ra từ những ngọn đèn heo hắt này khiến nhiều kẻ trong chúng ta phải ghen tị đến đau buồn. Đối với một vài kẻ khác, thay vào đó, họ lại tin bản thân đã được trang bị tia sét mà khoa học đã thuần phục, như hàng ngàn thần Jupiter. Thế chỗ những ngọn đèn heo hắt kia, họ ngạo nghễ giương những ngọn đèn điện, thực khiến cho người ta cảm thấy khinh bỉ và thương hại. Nhưng giờ tôi tự hỏi, thưa ngài Meis: nếu tất thảy bóng tối này, sự bí ẩn vĩ đại mà trước kia những nhà hiền triết đã suy đoán nhưng vô vọng, và rằng ngay thời khắc này, dù cho đã đầu hàng chẳng khám phá thêm, thế nhưng khoa học vẫn chẳng loại trừ nó, rốt cục có thể nào nó chỉ là một trò lường gạt như những trò lường gạt khác, một trò lường gạt của tâm trí chúng ta, một ảo tưởng mà chúng ta chẳng thể tô màu rực rỡ? Nếu sau cùng chúng ta tự thuyết phục bản thân được rằng tất cả bí ẩn này chẳng tồn tại bên ngoài chúng ta, mà chỉ ở bên trong, một sự tồn tại cần thiết khi chúng ta được ưu ái có thứ cảm xúc về cuộc đời, hay có chiếc đèn lồng bé nhỏ, thứ mà tôi đã kể với ngài từ bấy tới giờ? Tựu trung lại, giả như cái chết, thứ khiến ta rất đỗi kinh sợ, vốn chẳng tồn tại và cũng chẳng phải điểm tận cùng của cuộc sống, mà chỉ là ngọn gió dập tắt đi chiếc đèn lồng bé nhỏ trong ta, chỉ là thứ cảm xúc quái quỷ, nặng nề và đáng sợ mà chúng ta cảm nhận về cuộc sống, bởi nó bị hạn chế, bao trọn trong vòng vây của thứ bóng tối hư ảo, bên ngoài vùng ánh sáng nhỏ nhoi yếu ớt. Chúng ta, những chú đom đóm lạc lối tỏa sáng gần trong bóng tối đó. Trong một thời gian, cuộc sống của chúng ta tựa như bị cầm tù, ngăn trở khỏi cuộc sống toàn vẹn, vĩnh cửu, cuộc sống mà ta những tưởng một ngày kia mình sẽ quay trở lại. Nhưng thực chất, chúng ta vốn đã ở trong cuộc sống ấy và chúng ta sẽ vĩnh viễn ở lại trong ấy, nhưng không còn thứ cảm giác tù đày khiến chúng ta đau khổ. Giới hạn là ảo ảnh, tương quan với chút ánh sáng trong ta, tới tính cá thể của mỗi chúng ta: trong thiên nhiên, giới hạn ấy chẳng tồn tại. Chúng ta -tôi chẳng biết điều này có thể làm ngài vui lên hay chăng – vẫn luôn sống và sẽ mãi sống hòa hợp cùng vũ trụ. Ngay cả bây giờ, trong hình thể này, chúng ta vẫn góp phần trong những sự kiện của vũ trụ, nhưng ta chẳng biết vũ trụ ra sao, chẳng nhìn thấy nó thế nào, bởi đáng buồn thay thứ ánh sáng heo hắt đáng nguyền rủa này chỉ tỏ cho ta thấy những thứ ít ỏi mà nó có thể rọi tới. Nhưng nó cũng chẳng khiến ta nhìn rõ chân tướng vũ trụ. Không thưa ngài: ngọn đèn tô màu vũ trụ bằng cách riêng mình. Nó khiến ta nhìn ra một vài sự thể nhất định, những thứ khiến ta phải khóc than, trời ơi, nhưng nếu hình thể tồn tại của chúng ta khác đi, ta đã chẳng có cái miệng để cất lên những tràng cười điên loạn trước những sự thể ấy, ngài Meis, và trước tất cả những khổ đau vô nghĩa và ngu ngốc mà ngọn đèn đã dành phần cho ta, trước tất thảy bóng tối, trước tất thảy những bóng ma tham vọng và lạ lùng mà nó dựng lên phía trước và quanh ta, trước nỗi sợ hãi mà ngọn đèn gây ra cho ta!
Ôi vậy thì với hàng loạt lý lẽ khi kể ra bao điều tệ hại về chiếc đèn lồng bé nhỏ mà mỗi chúng ta thắp sáng bên trong mình, tại sao bây giờ ngài Anselmo Paleari lại muốn thắp thêm một ngọn đèn bằng kính đỏ khác, trong phòng tôi, cho những thử nghiệm tâm linh của ông? Một ngọn đèn kia chẳng phải là quá thừa rồi hay sao?
Tôi hỏi ông như vậy.
– Để khắc phục! – Ông đáp. – Chiếc đèn lồng này sẽ sửa chữa lỗi lầm của chiếc đèn kia! Vả lại, một lúc nào đó chiếc đèn này sẽ tắt thôi mà, ngài biết đấy!
– Và ngài cho rằng đây là cách tốt nhất để nhìn thấy được thứ gì đó hay sao? – Tôi đánh liều nhận định.
– Thứ mà người ta gọi là đèn điện, xin ngài thứ lỗi, – ông Anselmo lập tức phản biện, – có thể lường gạt ánh nhìn của ta trong cuộc sống này; thế nhưng để nhìn về phía bên kia, nó hoàn toàn chẳng có tác dụng gì, xin ngài hãy tin, nó chỉ gây trở ngại cho chúng ta. Đó là những đòi hỏi ngu ngốc của một số nhà khoa học với trái tim tầm thường và bộ óc còn tầm thường hơn thế nữa, những kẻ vì sự yên ổn của bản thân mà tin tưởng rằng những thử nghiệm này xúc phạm đến khoa học hay tự nhiên. Nhưng không thưa ngài! Ngoài những trải nghiệm tầm thường hiếm hoi, chúng tôi đây muốn khám phá ra những quy luật khác, những thế lực khác, một cuộc sống khác trong tự nhiên, luôn luôn trong tự nhiên, khốn nạn! Chúng tôi muốn cạy mở sự hiểu biết hạn hẹp, sự hiểu biết mà những giác quan bị hạn chế thường tạo ra cho chúng ta. Bây giờ thì, xin lỗi ngài, chẳng phải chính những nhà khoa học là những kẻ đầu tiên đòi hỏi môi trường và điều kiện thích hợp để thử nghiệm của họ có thể thành công tốt đẹp hay sao? Nhiếp ảnh có thể sống sót mà không có phòng tối hay không? Vậy đấy? Vả lại có vô vàn các cách kiểm chứng mà.
Tuy nhiên, như tôi sẽ thấy trong vài tối sau đó, ông Anselmo chẳng sử dụng bất cứ cách kiểm chứng nào cả. Chúng chỉ là những thử nghiệm trong gia đình thôi! Có lẽ nào ông lại phải nghi ngờ rằng cô Caporale hay Papiano nổi hứng mà lừa gạt mình? Và nếu có như vậy thì tại sao chứ? Hứng thú gì? Ông ấy đã thực sự tin tưởng và chẳng cần đến những thử nghiệm kia để củng cố đức tin của mình. Bản thân là một người vô cùng chân thành, ông chẳng mảy may nghi ngờ rằng họ có thể lường gạt ông vì một mục đích khác. Còn về những kết quả rối rắm, vô nghĩa và đáng lo ngại, Thuyết thần trí tạo ra cho ông lời giải đáp cực kỳ hợp lý. Những đấng trên cao thuộc Cõi Tâm thức, hay trên cao nữa, họ chẳng thể hạ thế mà trò chuyện với ta qua một đồng cốt: vậy nên chúng ta phải hài lòng với những biểu hiện mờ nhạt của một vài linh hồn thuộc cõi dưới, như Cõi Trung giới, cõi gần nhất đối với chúng ta: vậy đấy.
Ai có thể nói khác được chứ?3
*
Tôi biết rằng Adriana luôn từ chối chứng kiến những thử nghiệm này. Từ ngày tôi bị giam giữ trong bóng tối, nàng hiếm khi đặt chân vào phòng tôi để hỏi thăm tôi thế nào, mà nếu có thì nàng cũng chẳng bao giờ vào một mình. Mỗi lời hỏi thăm chừng như và thực chất chỉ là một lời sáo rỗng. Nàng biết, nàng biết rõ tôi thế nào! Tôi còn cảm nhận được chút mỉa mai tinh quái trong giọng nàng, bởi nàng đâu biết lý do nào đã bỗng chốc khiến tôi quyết tâm phẫu thuật đến vậy. Cho nên, hẳn nàng nghĩ tôi khổ vì làm điệu, để làm bản thân tôi đẹp lên hay đỡ xấu, với con mắt chỉn chu như lời khuyên của cô Caporale.
– Tôi ổn lắm, thưa tiểu thư! – Tôi đáp lời. – Tôi chẳng nhìn thấy gì cả…
– À, nhưng ngài sẽ thấy, ngài sẽ thấy rõ hơn thôi, – Papiano nghe vậy liền nói.
Lợi dụng bóng tối, tôi giơ một nắm đấm, như thể muốn tung vào mặt hắn. Hẳn là hắn nói vậy để tôi mất đi chút kiên nhẫn còn đọng lại trong mình. Không lý nào mà hắn chẳng nhận ra bao nỗi khó chịu mà hắn gây ra cho tôi: tôi bộc lộ nỗi khó chịu ấy bằng đủ mọi cách, ngáp ngắn ngáp dài hay thở hắt; thế nhưng, hắn vẫn ở đó: hắn vẫn tiếp tục vào phòng tôi gần như mỗi tối (à là hắn, đúng rồi) và hắn lưu lại đó hàng tiếng đồng hồ, ba hoa không ngừng nghỉ. Trong bóng tối kia, giọng hắn nói như cướp của tôi hơi thở, làm tôi phải cựa mình trên ghế như ngồi phải kim, hay nắm chặt những ngón tay: có đôi lúc tôi những muốn bóp cổ hắn. Hắn đoán được chăng? Hắn cảm nhận được chăng? Bởi kìa, chính vào những lúc ấy, giọng hắn bỗng trở nên nhẹ nhàng, gần như âu yếm.
Con người chúng ta luôn cần phải đổ lỗi cho ai đó vì những tổn hại và thảm cảnh của mình. Rốt cục, Papiano đã làm tất cả để đẩy tôi ra khỏi căn nhà kia; và nếu suốt những ngày ấy, tiếng nói của lý trí đã có thể cất lời trong tôi, thì tôi lẽ ra phải cảm ơn hắn với tất cả trái tim mình. Nhưng làm sao tôi có thể nghe theo giọng nói thánh thiện của lý trí, nếu nó được cất lên từ miệng của hắn, của Papiano, kẻ đã làm bao điều sai trái với tôi, những sai trái trắng trợn, những sai trái vô liêm sỉ? Chẳng phải thực chất hắn muốn đuổi tôi đi, để có thể lừa gạt ông Paleari và làm đảo lộn cuộc sống của Adriana hay sao? Tôi chỉ có thể luận được duy nhất điều này từ những gì hắn nói. Ôi, có thể nào giọng nói của lý trí lại chọn chính cái miệng của Papiano để khiến tôi lắng nghe? Nhưng có lẽ vì muốn tạo cho mình một cái cớ để chẳng phải nhìn ra lý lẽ trong giọng nói ấy, tôi đã đặt nó lên miệng hắn; chính tôi khi đã sa vào những cạm bẫy cuộc đời và thổn thức, mà nguồn cơn chẳng hoàn toàn nằm ở bóng tối này, cũng chẳng ở sự khó chịu khi phải nghe những lời lẽ vô tận của Papiano.
Hắn nói với tôi chuyện gì? Hắn kể về Pépita Pantogada, tối này qua tối nọ.
Dù cho tôi sống vô cùng tằn tiện, nhưng hắn vẫn đinh ninh trong đầu rằng hẳn tôi phải giàu lắm. Và giờ, để đánh lạc hướng dòng tâm tư của tôi khỏi Adriana, có chăng hắn nuôi nấng ý tưởng khiến tôi phải lòng cô cháu gái kia của ngài Hầu tước Giglio d’Auletta. Hắn tả cho tôi về một cô nàng thông minh cao quý, tràn đầy tài đức và ý chí, quyết đoán theo cách của riêng mình, thẳng thắn và nhiệt huyết. Thêm nữa, cô nàng xinh đẹp; vâng, xinh đẹp vạn phần! Nàng tóc nâu, mảnh mai và cân đối; một cô nàng bốc lửa, với đôi mắt bừng cháy và một cái miệng với những nụ hôn nồng thắm. Hắn chẳng nói gì nhiều đến của hồi môn: – Vô cùng lớn lao! – Thậm chí là toàn bộ thế lực của Hầu tước d’Auletta. Chẳng có nghi ngờ gì, ngài Hầu tước hẳn sẽ rất đỗi vui sướng nếu sớm tìm được một tấm chồng cho cô cháu gái, không chỉ để gỡ bỏ gánh nặng của lão Pantogada, mà còn bởi mối quan hệ ông cháu chẳng mấy thuận hòa: ngài Hầu tước tính cách nhu nhược, hoàn toàn khép mình trong thế giới đã chết của ông; thay vào đó, Pépita mạnh mẽ, tràn đầy sức sống.
Cớ sao hắn chẳng hiểu được rằng càng ngợi ca cô Pépita này, tôi càng ghét bỏ cô ta, ngay cả trước khi tôi gặp cô? Tôi sẽ được gặp cô ta – hắn nói – sau vài tối nữa, bởi hắn đã mời cô đến tham dự những buổi gọi hồn sắp tới. Tôi cũng sẽ được gặp cả Hầu tước Giglio d’Auletta, người rất muốn gặp tôi vì những thứ mà hắn, Papiano, đã kể cho ông về tôi. Nhưng ngài Hầu tước chẳng bước chân ra khỏi nhà nữa, và rồi ông cũng sẽ chẳng bao giờ tham gia vào một buổi gọi hồn vì những ý niệm tôn giáo của mình.
– Gì cơ? – Tôi thắc mắc. – Ông ấy thì không; rồi trong khi đó lại cho phép cô cháu gái tham gia?
– Bởi ông ấy biết mình sẽ gửi gắm nàng vào tay ai mà! – Papiano kích động thốt lên
Tôi chẳng muốn biết gì thêm nữa. Cớ sao Adriana lại từ chối chẳng tham gia những thử nghiệm kia? Bởi niềm kính sợ tôn giáo của nàng. Nhưng bây giờ, nếu cô cháu gái của Hầu tước Giglio có thể tham gia vào những buổi gọi hồn kia, với sự cho phép của ông nội trong giới tăng lữ, vậy cớ sao ngay cả nàng cũng không thể tham gia cơ chứ? Trăn trở vì luận điểm này, tôi gắng sức thuyết phục nàng vào dịp buổi gọi hồn đầu tiên.
Nàng bước vào phòng với bố, người đã nghe thấu lời thỉnh cầu của tôi:
– Vẫn là câu chuyện đó mà, ngài Meis! – Ông thở dài. – Trước vấn đề này, tôn giáo vẫn vểnh những cái tai lừa lên mà nghi ngờ, cũng như khoa học vậy. Còn những thử nghiệm của chúng tôi, tôi đã nói và giải thích biết bao lần với con gái tôi, chúng không hoàn toàn đối lập với cả tôn giáo lẫn khoa học. Hay đúng hơn, cụ thể với tôn giáo mà nói thì chúng là một thử nghiệm nhằm chứng minh chân lý mà tôn giáo luôn khẳng định.
– Nhưng nếu con sợ? – Adriana phản đối.
– Sợ gì cơ? – Ông bố phản pháo. – Việc thử nghiệm hay sao?
– Hay tiểu thư sợ bóng tối? – Tôi nói thêm. – Chúng tôi đều ở đây với nàng, thưa tiểu thư! Nàng muốn mình là người duy nhất sẽ vắng mặt hay sao?
– Nhưng tôi… – Adriana đáp, vẻ gượng gạo, – tôi chẳng tin chúng, vậy đó… tôi không thể tin chúng cho được, và rằng… Ôi tôi chẳng biết đâu!
Nàng chẳng thể nói thêm gì. Từ thanh điệu trong giọng nói nàng, từ vẻ ngượng nghịu, tôi hiểu rằng không chỉ riêng tôn giáo ngăn trở Adriana tham gia những thử nghiệm kia. Nỗi sợ hãi ngăn trở nàng có thể có những nguyên do khác mà ông Anselmo chẳng ngờ tới. Hay có chăng nàng đau đớn khi phải chứng kiến buổi trình diễn thảm hại của ông bố ngờ nghệch đã bị Papiano và cô Caporale lừa gạt?
Tôi chẳng còn tâm trí mà nài nỉ thêm nữa.
Nhưng cứ như thể đọc được trong trái tim tôi sự khó chịu mà lời từ chối của nàng gây ra, nàng thả vào bóng tối một chữ: – Tuy nhiên… - mà tôi đón bắt ngay trên không trung.
– Tuyệt vời! Vậy tiểu thư sẽ tới cùng với chúng tôi chứ?
– Chỉ riêng buổi tối mai thôi, – nàng mỉm cười chấp thuận.
Tối muộn ngày hôm sau, Papiano tới chuẩn bị phòng: hắn bê vào một chiếc bàn nho nhỏ hình chữ nhật làm bằng gỗ thông, không ngăn kéo, không sơn màu, tầm thường. Hắn dọn dẹp một góc phòng; rồi hắn dùng một chiếc dây mảnh treo một tấm ga trải giường vào góc đó. Tiếp xong hắn đem tới một chiếc đàn ghi ta, một vòng cổ chó với vô vàn những cái chuông bé tí hin và những vật dụng khác nữa. Mọi sự chuẩn bị diễn ra dưới ánh sáng chiếu từ chiếc đèn lồng nhỏ bé bằng kính đỏ trứ danh. Dĩ nhiên, trong lúc chuẩn bị, hắn chẳng ngơi nghỉ dù chỉ một giây để trò chuyện.
– Cái ga giường là cần thiết, ngài biết đấy! Ta cần nó để… tôi chẳng biết, để… để tích tụ, có thể nói như vậy, thu hút nguồn lực thần bí này: ngài sẽ thấy nó phập phồng đó, ngài Meis, căng lên như thể một cánh buồm, thi thoảng lại bừng lên những ánh sáng lạ lùng, gần như ánh sáng của một thiên thể vậy. Vâng thưa ngài! Chúng tôi vẫn chưa đạt được ngưỡng “vật chất hóa”, nhưng ánh sáng thì rồi: ngài sẽ thấy, nếu tối nay quý cô Silvia có tâm trạng tốt. Cô ấy sẽ kết nối với linh hồn của một người bạn cũ ở Học viện, một người bạn đã chết, xin Chúa cứu rỗi, vì bệnh lao, ở tuổi mười tám. Cậu ấy là người… tôi không rõ, người Basel, tôi nghĩ vậy: nhưng cậu ấy đã sống ở Roma cùng với gia đình được một thời gian. Một thiên tài âm nhạc, ngài biết đấy: nhưng bị cái chết tàn nhẫn bắt đi trước khi có thể tạo nên thành quả. Ít nhất đó là những gì cô Caporale kể. Ngay cả trước khi cô ấy biết mình có được khả năng tâm linh này, cô ấy đã trò chuyện với linh hồn của Max. Vâng thưa ngài: cậu ấy tên Max… chờ đã, Max Oliz, nếu tôi không nhầm. Vâng thưa ngài! Cô ấy bị linh hồn này bất chợt chiếm hữu khi đang ngồi trước đàn piano, tới mức cô ấy ngã lăn ra đất mà bất tỉnh, một vài lần như vậy. Thậm chí một tối có một đám người tụ tập phía dưới đường, rồi họ vỗ tay hoan hô cô ấy…
– Còn cô Caporale cảm thấy sợ, – tôi bình thản bổ sung.
– À, ngài biết ư? – Papiano ngừng tay và nói.
– Chính cô ấy đã kể cho tôi. Vậy ra họ hoan hô âm nhạc của Max thể hiện qua đôi bàn tay của cô Caporale?
– Hẳn rồi, hẳn rồi! Đáng tiếc là nhà này không có lấy một chiếc piano. Ta đành phải hài lòng với một vài giai điệu, một vài nốt xướng trên cây đàn ghi ta. Max sẽ giận, ngài biết đấy! Tới mức vài lần kéo đứt những sợi dây đàn… Nhưng tối nay ngài sẽ được nghe. Tôi thấy dường như bây giờ tất cả đã vào vị trí rồi đấy.
– Vậy ngài hãy nói xem, ngài Terenzio. Để thỏa mãn trí tò mò thôi, – tôi hỏi trước khi hắn rời đi, – ngài tin vào thử nghiệm này ư? Ngài thực sự tin ư?
– Điều đó, – hắn lập tức đáp, cứ như thể đã đón lõng được câu hỏi. – Thú thực, tôi chẳng thể nào nhìn rõ được.
– À hẳn rồi!
– À, nhưng không phải bởi những thí nghiệm này được dựng lên trong bóng tối đâu, chúng ta có thể yên trí! Những hiện tượng, những biểu hiện là thật, chẳng còn gì phải bàn cãi: không thể phủ nhận được. Chúng ta không thể hoài nghi bản thân mình…
– Tại sao không chứ? Ngược lại mới phải!
– Gì cơ? Tôi không hiểu!
– Chúng ta thực dễ lừa dối bản thân mình! Đặc biệt là khi chúng ta thích thú tin vào một điều gì đó.
– Nhưng tôi thì không như vậy, ngài biết đấy: tôi không thích những thử nghiệm này! – Papiano phản đối. – Bố vợ tôi, một người rất tận tụy với những nghiên cứu dạng này, ông ấy tin. Mặt khác, ngài thấy đấy, tôi chẳng có cả thời gian để ngẫm nghĩ về điều ấy… ngay cả khi nếu tôi thực sự có hứng thú. Tôi có hàng đống việc phải làm, hàng đống việc, với cái bọn Borbone chết tiệt của ngài Hầu tước đương o ép tôi! Trong khi ấy tôi lại phí một vài buổi tối ở đây. Về phần mình, tôi biết rõ rằng khi nào còn đội ơn Chúa vì cuộc sống này, ta chẳng thể biết được gì về cái chết; và vậy nên, ngài không thấy nghĩ về nó là vô ích hay sao? Chi bằng chúng ta hãy cố gắng mà sống tốt hơn, lạy Chúa tôi! Đó là những gì tôi nghĩ đấy, ngài Meis. Hẹn gặp lại ngài! Giờ tôi phải tới đường Pontefici đón cô Pantogada đã.
Hắn trở lại sau độ nửa tiếng, đầy vẻ bực bội: đi cùng cô Pantogada và bà nhũ mẫu là một họa sĩ người Tây Ban Nha nào đó. Papiano cáu kỉnh giới thiệu với tôi rằng chàng ta là một người bạn của gia đình ngài Giglio. Chàng ta tên Manuel Bernaldez và nói sõi tiếng Italia. Thế nhưng tôi chẳng có cách nào khiến chàng ta phát âm được âm “s” trong họ của tôi: thể như cứ mỗi lần bật âm đó ra, chàng ta sợ chiếc lưỡi mình sẽ bị tổn thương vậy.
– Adriano Mei, - chàng ta nói, cứ như thể bỗng chốc chúng tôi đã trở thành bạn bè thân thiết lắm.
– Adriano Tui4, - thiếu chút nữa tôi đã đáp lời chàng ta như vậy.
Tới lượt những người phụ nữ bước vào: Pépita, bà nhũ mẫu, cô Caporale, Adriana.
– Cả em nữa ư? Chuyện lạ gì thế này? – Papiano bảo nàng với vẻ lịch sự đểu giả.
Hắn đâu ngờ được lại thêm cả chuyện này. Trong khi đó, từ cái cách mà chàng Bernaldez được giới thiệu, tôi hiểu ra rằng Hầu tước Giglio chẳng thể biết được chuyện chàng ta có mặt tại buổi gọi hồn, và rằng ẩn sâu bên trong hẳn phải có uẩn khúc nho nhỏ nào đó liên quan tới Pépita.
Nhưng Terenzio vĩ đại nào có từ bỏ âm mưu của hắn. Trong khi sắp xếp vòng quanh bàn xâu chuỗi kết nối tâm linh, hắn xếp chỗ mình ngồi cạnh Adriana và đặt cô Pantogada cạnh tôi.
Liệu tôi có thể vui hay sao? Không. Cả Pépita cũng vậy. Với chất giọng chẳng kém ông bố, cô ta lập tức phản đối:
- Gracie tanto, así no puede ser! Ió voglio estar entre el segnor Paleari e la mia gobernante, caro segnor Terencio! Cảm ơn nhiều, nhưng không thưa quý ngài thân mến! Tôi muốn được ngồi giữa ông Paleari và nhũ mẫu của tôi, thưa ông Terenzio đáng kính!
Cái cảnh tranh sáng tranh tối với ánh đỏ nhàn nhạt chỉ cho phép tôi lờ mờ nhìn ra những gì xung quanh; vậy nên tôi chẳng thể nào biết được bức chân dung về cô Pantogada mà Papiano đã phác họa ra cho tôi đúng bao phần với sự thật. Tuy nhiên, đường nét, chất giọng và sự phản đối ngay tức thì hoàn toàn trùng khớp với ấn tượng của tôi về cô, sau những gì hắn miêu tả.
Khi từ chối chỗ ngồi mà Papiano sắp xếp cạnh tôi một cách khinh miệt đến nhường kia, cô Pantogada chắc chắn đã xúc phạm tôi; nhưng tôi không những không bực bội, mà trái lại còn thấy hân hoan vì điều ấy.
– Đúng rồi! – Papiano thốt lên. – Vậy thì giờ thế này: bà Candida có thể ngồi cạnh ông Meis; rồi cô ngồi vào chỗ đó, thưa tiểu thư. Bố vợ tôi sẽ ở nguyên vị trí: và cả ba người còn lại chúng tôi cũng yên vị tại chỗ. Được không?
Không! Thế này cũng không ổn: cả với tôi, cả với cô Caporale, cả với Adriana và – như một chút sau ta sẽ thấy – cả với Pépita; bởi cô nàng sẽ tìm được một chỗ tốt hơn trong xâu chuỗi kết nối tâm linh mới mà linh hồn vô cùng thông thái của Max đã vẽ ra.
Còn bấy giờ, tôi tưởng như bên cạnh mình là bóng ma một phụ nữ, với một thứ kiểu như đỉnh đồi nhỏ trên đầu (là chiếc mũ? Là chiếc nón? Bộ tóc giả? Là cái quái gì cơ chứ?). Bên dưới cái đống đùn lên vĩ đại ấy thi thoảng lại hé ra một vài tiếng thở kết thúc bằng một tiếng rên khẽ. Chẳng ai quan tâm đến việc giới thiệu bà Candida với tôi. Giờ thì, để tạo nên xâu chuỗi kết nối, chúng tôi phải nắm tay. Bà ta thở dài, chẳng thích thú gì. Chúa ơi, bàn tay bà ta mới lạnh làm sao!
Với bàn tay còn lại tôi nắm lấy bàn tay trái của cô Caporale khi ấy đang ngồi đầu bàn, lưng quay lại với chiếc ga giường treo trong góc tường; Papiano nắm lấy tay phải cô. Bên cạnh Adriana, ở phía bên kia là anh chàng họa sĩ; ông Anselmo ngồi đầu bàn bên kia, đối diện cô Caporale.
Papiano lên tiếng:
– Trước tiên cẩn phải giải thích tất cả với ông Meis và cô Pantogada thứ ngôn ngữ… gọi là gì ấy nhỉ?
– Ngôn ngữ gõ, – ông Anselmo đỡ lời.
– Xin mời, cả tôi cũng cần biết nữa, – bà Candida cựa mình trên ghế, hùng hổ nói.
– Đúng vậy! Cả bà Candida nữa, mọi người biết đấy!
– Nào, – ông Anselmo bắt đầu giải thích. – Hai gõ có nghĩa là có…
– Gõ? – Pépita ngắt lời. – Gõ gì?
– Gõ, Papiano đáp, – hoặc tiếng đập xuống bàn, hoặc xuống ghế, hoặc bất cứ nơi đâu, hoặc một cử chỉ động chạm để người khác có thể nhận ra.
- Ôi không-không-không-không-không! - Cô ta liền vội vã cảm thán, nhảy dựng lên. – Ió non ne amo, tocamenti. De chi? Tôi không thích bị động chạm. Vả lại ai sẽ chạm?
– Linh hồn của Max, thưa tiểu thư, – Papiano giải thích cho cô ta. – Tôi đã nói với cô rồi mà, lúc trên đường tới ấy: sẽ chẳng có đau đớn gì đâu, xin cô hãy yên trí.
- Tittologichi, những tiếng gõ, – bà Candida chêm vào với giọng điệu khinh bỉ, trịch thượng.
– Vậy thì, – ông Anselmo nói tiếp, – hai gõ, có; ba gõ, không; bốn gõ, bóng tối; năm, mọi người hãy nói chuyện; sáu, ánh sáng. Vậy thôi. Giờ thì xin hãy tập trung, thưa quý ông quý bà.
Im lặng bao trùm. Chúng tôi tập trung.
1. Niccolò Tommaseo (1802 – 1874): nhà ngôn ngữ học, nhà văn và nhà ái quốc người Italia.
2. Bài La piccola lampada (Tạm dịch: Ngọn đèn bé nhỏ) của Niccolò Tommaseo.
3. “Lòng tin,” Maestro Alberto Fiorentino đã viết, “là cốt lõi của những thứ ta hy vọng, là luận cứ và minh chứng của những thứ vô hình” (Ghi chú của don Eligio Pellegrinotto).
4. Trong tiếng Latin, “Mei” có nghĩa là “của tôi” còn “Tui” nghĩa là “của bạn”.