Kẹp giữa bồn chồn và giận dữ (tôi chẳng biết thứ nào khiến tôi rúng động hơn, mà chúng cũng có thể là cùng một thứ: bồn chồn giận dữ, giận dữ bồn chồn), tôi chẳng quan tâm đến việc bị người khác nhận ra trước khi tới hay khi vừa tới Miragno.
Tôi ngồi khoang hạng nhất: một biện pháp đề phòng duy nhất. Trời đã tối, và hơn nữa, thử nghiệm đối với Berto khiến tôi an lòng: khi sự chắc chắn về cái chết sầu thảm của tôi, cho đến giờ đã hai năm xa xôi, ăn sâu bám rễ trong tất cả mọi người như vậy, hẳn chẳng ai có thể nghĩ rằng tôi là Mattia Pascal được nữa.
Tôi thò đầu ra ngoài cửa sổ, hy vọng khung cảnh với những địa điểm quen thuộc sẽ khơi dậy trong tôi những cảm xúc ít phần bạo liệt hơn. Thế nhưng, điều ấy chẳng có tác dụng gì ngoài việc làm cảm giác bồn chồn và giận dữ trong tôi tăng thêm. Dưới ánh trăng, tôi loáng thoáng nhìn ra sườn đồi khu Lồng gà phía đằng xa.
– Quân giết người! – Tôi rít lên qua kẽ răng – Ở phía đó… Nhưng giờ…
Ngỡ ngàng trước cái tin không mong đợi kia, tôi đã quên không hỏi Roberto biết bao nhiêu thứ! Trang trại, cối xay có thật đã bị bán rồi hay chăng? Hay chúng vẫn được ai đó tạm thời quản lý, dựa trên một thỏa thuận chung giữa các chủ nợ? Còn lão Malagna đã chết hay chưa? Cô Scolastica thì sao?
Tôi tưởng chẳng phải mới có hai năm và vài tháng trôi qua, mà cảm giác như đã một đời người, và rằng – cũng như những tình cảnh đặc biệt đã xảy ra với tôi – hẳn những sự việc tương tự cũng phải xảy ra ở Miragno. Thế nhưng có thể chẳng có gì đã xảy ra ở đó, trừ đám cưới của Romilda với Pomino. Bản thân đám cưới ấy cũng vô cùng bình thường, và chỉ bây giờ, khi tôi xuất hiện trở lại, nó mới trở nên đặc biệt.
Tới được Miragno rồi tôi sẽ đi đâu? Cặp đôi mới đã làm tổ ở nơi nào rồi?
Ngôi nhà mà một kẻ bần hàn như tôi đã sống hẳn quá sức khiêm nhường đối với Pomino, giàu có và là con một. Rồi yếu lòng là vậy, Pomino chắc chắn sẽ cảm thấy bất tiện khi ở đó, với bộn bề những kỷ vật của tôi. Có thể hắn sống cùng nhà với bố, trong Tòa lâu đài. Cứ thử nghĩ đến mụ góa Pescatore mà xem, giờ đây với khí chất hợm hĩnh của mụ! Và ông Hiệp sĩ Pomino tội nghiệp kia, Gerolamo I, nhẹ nhàng, lịch sự, hiền lành, kẹp giữa móng vuốt của mụ phù thủy! Hay ho làm sao! Cả ông bố, hẳn rồi, cả thằng con đều không có dũng khí mà ruồng rẫy mụ ta. Và giờ, đó – ôi giận dữ làm sao! – Tôi sẽ là người giải thoát bọn họ…
Đúng, tôi phải tới nhà của Pomino: ngay cả khi tôi không tìm thấy họ ở đó, tôi sẽ hỏi bà giữ cửa để biết phải đi đầu tìm.
Ôi quê hương tôi đương yên ngủ ngày mai sẽ hỗn loạn làm sao, trước cái tin tôi sống lại!
Tối hôm ấy có trăng, và bởi vậy tất cả những ngọn đèn đều tắt như thường nhật, trên những con đường gần như hoang vắng do đương giờ ăn tối.
Bởi một nỗi kích động thần kinh lên tới cực điểm, tôi cảm thấy như mất cảm giác chân: tôi đi như thể chân không chạm đất. Tôi chẳng biết tả lại tâm trạng tôi lúc ấy thế nào: tôi chỉ có ấn tượng duy nhất về một tràng cười hào sảng như người khổng lồ trong truyện của Homer, mà khi lên tới đỉnh điểm bạo liệt, nó khiến ruột gan tôi quặn thắt, trong khi tôi nào có thể bật ra tràng cười ấy: nếu có thể, hẳn nó sẽ khiến sỏi đá trên đường rung lên như mấy chiếc răng, còn nhà cửa thì lung lay hết cả.
Chẳng mấy chốc tôi đã tới nhà Pomino; thế nhưng trong cái kho kiểu như hộp trưng bày đặt trước cổng vào kia, tôi chẳng thấy bà giữ cửa già. Run rẩy, tôi đứng chờ vài phút, rồi nhận ra trên một chấn song cửa có một dải băng tang nhạt màu và bụi bặm, được đóng đinh vào đó, rõ ràng đã vài tháng rồi. Ai đã chết? Mụ góa Pescatore? Hiệp sĩ Pomino? Một trong hai người, hẳn nhiên. Có lẽ là ông Hiệp sĩ… Trong trường hợp này, tôi chắc chắn sẽ tìm thấy được cặp uyên ương của mình trên đó, ngự trị trong Tòa lâu đài. Tôi chẳng thể chờ đợi thêm nữa: tôi nhảy lên bậc thang. Tới nhịp thang thứ hai thì bà giữ cửa xuất hiện.
– Tôi tìm Hiệp sĩ Pomino?
Từ ánh nhìn kinh ngạc của con rùa già kia, tôi hiểu rằng hẳn chính ông Hiệp sĩ đã chết.
– Ông con trai! Ông con trai! – Chữa lời xong tôi liền tiếp tục chạy.
Tôi chẳng biết bà già kia lẩm bẩm điều gì khi đi lên cầu thang. Đến chân nhịp thang cuối cùng tôi phải dừng lại: tôi chẳng thở được nữa! Tôi nhìn cánh cửa mà nghĩ: “Có thể họ vẫn đang dùng bữa tối, cả ba người một bàn… họ chẳng mảy may nghi ngờ điều gì. Chỉ vài giây nữa thôi, ngay khi mình gõ cánh cửa kia, cuộc sống của họ sẽ bị đảo lộn… Đó, cái vận mệnh lơ lửng trên đầu họ đang nằm trong tay mình.”
Tôi lên tới những bậc thang cuối cùng. Với cái dây kéo chuông trong tay, trong khi trái tim dựng ngược lên cổ, tôi lắng tai nghe. Không một tiếng động. Và giữa sự im lặng ấy tôi nghe thấy tiếng leng keng chậm rãi, ngay khi tôi vừa chầm chậm kéo chuông.
Máu trong người tôi chạy ngược cả lên đầu, còn tai tôi lùng bùng, cứ như thể cái tiếng leng keng loáng thoáng đã tắt ngúm trong tĩnh lặng kia rung lên dữ dội trong tôi, khiến tôi choáng váng.
Một lúc sau, tôi giật mình nhận ra giọng của mụ góa Pescatore từ sau cánh cửa:
– Ai đấy?
Thoạt tiên, tôi chẳng thể đáp lời: tôi nắm chặt tay trên ngực, cứ như thể ngăn không cho trái tim bật xổ ra ngoài. Rồi, với giọng u ám, gần như đánh vần, tôi nói:
– Mattia Pascal.
– Ai? – Giọng người bên trong rú lên.
– Mattia Pascal, – tôi lặp lại, cố làm cho giọng vang thêm nữa.
Tôi nghe tiếng mụ phù thủy già chạy đi, hiển nhiên là khiếp hãi, và ngay lập tức tôi tưởng tượng xem chuyện gì đang xảy ra ở đằng đó trong giây phút ấy. Hẳn bây giờ người đàn ông sẽ tới: Pomino, chàng quả cảm!
Nhưng trước tiên tôi cần kéo chuông lần nữa, chầm chậm như vừa nãy.
Khi cánh cửa vừa bị bật tung đầy giận dữ, Pomino ngay giây phút vừa thấy tôi – thẳng người – ngực ưỡn ra phía trước – đối mặt hắn – hắn lùi lại kinh hãi. Tôi tiến tới và thét lên:
– Mattia Pascal! Từ thế giới bên kia.
Pomino ngã dập mông xuống đất đánh huỳnh một tiếng lớn, tay chống ngược ra sau, mắt trợn tròn:
– Mattia! Là mày ư?
Mụ góa Pescatore vội vội vàng vàng chạy tới với chiếc đèn trên tay. Mụ rú lên đinh tai nhức óc như người đau đẻ. Tôi đá sầm cửa lại, rồi bật tới mà tước lấy chiếc đèn đang trượt khỏi tay mụ.
– Im mồm! – Tôi thét vào mặt mụ. – Bà tưởng tôi thực sự là một bóng ma hay sao?
– Mày còn sống à? – Vò đầu bứt tóc, mặt tái mét, mụ nói.
– Còn sống! Còn sống! Còn sống! – Tôi tiếp lời, với niềm vui sướng man dại. – Bà nhận tôi là một kẻ đã chết, có phải không? Đuối nước ở đằng đó?
– Mày từ đâu về? – Kinh hãi, mụ hỏi tôi.
– Từ chỗ cối xay bột đấy, mụ phù thủy! – Tôi gào -Ccầm lấy cây đèn này mà nhìn cho rõ đi! Là tôi, bà có nhận ra không? Hay trông tôi vẫn giống cái kẻ mạt vận đã chết đuối ở khu Lồng gà?
– Không phải là mày sao?
– Đi chết đi, mụ phù thủy! Tôi ở đây, còn sống! Nào, đứng dậy đi, đồ dở hơi! Romilda đâu?
– Làm ơn… – Vội vàng đứng dậy, Pomino rên rỉ. – Con bé con… tao sợ… sữa…
Tôi chộp lấy một tay hắn, và rồi lần này đến lượt tôi ngỡ ngàng:
– Con bé con nào cơ?
– Con… con gái tao… – Pomino lắp bắp.
– A quân giết người! – Mụ Pescatore gào.
Tôi vẫn chẳng thể đáp lại gì khi nhận được tin này.
– Con gái mày? – Tôi lầm bầm. – Thêm hẳn một đứa con gái nữa… Và đứa bé này, bây giờ…
– Mẹ, hãy tới chỗ Romilda, làm ơn… – Pomino khẩn khoản.
Nhưng quá muộn. Romilda tới, áo ngực để ngỏ, với đứa bé con đương bú, người ngợm rối bù, chừng như – khi nghe thấy tiếng thét – nàng đã nhanh chóng và giận dữ đứng dậy khỏi giường. Nàng tiến lên phía trước và thoáng thấy tôi:
– Mattia! – Nàng kêu lên rồi ngã vào vòng tay của Pomino và bà mẹ. Hai người họ kéo nàng đi. Giữa cảnh hỗn loạn, họ bỏ lại đứa bé gái trong tay tôi, trong khi tôi đương định chạy theo họ.
Tôi ở lại sảnh chờ trong tăm tối, trên tay là đứa bé còm nhom, khóc lóc với cái giọng chua mùi sữa. Tủi hờn, choáng váng, tôi vẫn nghe thấy trong tai tiếng hét của người đàn bà đã từng là của tôi, và rằng giờ đây, kìa, nàng là mẹ của đứa bé chẳng phải của tôi, chẳng phải của tôi! Trong khi đứa con tôi, ôi, lúc ấy, nàng đã chẳng yêu nó, chính nàng! Và vậy thì không, tôi bây giờ đây không được như vậy, vì Chúa! Tôi không được thương hại cả đứa bé này, lẫn bọn họ. Nàng đã cải giá? Còn tôi giờ đây… – Nhưng rồi đứa bé kia tiếp tục khóc lóc, và khóc lóc; vậy… tôi phải làm gì đây? Để dỗ dành nó, tôi nhẹ nhàng ôm nó vào lòng, chầm chậm, chầm chậm vỗ vai đứa bé và bồng nó quanh phòng. Cơn giận hạ nhiệt, nỗi rúng động trôi đi. Và rồi dần dần, dần dần đứa bé im lặng.
Trong bóng tối Pomino hoang mang gọi:
– Mattia!… Con bé!…
– Im mồm! Tao vẫn bế nó đây, – tôi đáp.
– Mày đang làm gì?
– Tao ăn thịt nó… Chứ làm gì nữa!… Mọi người đã ném nó vào tay tao… Giờ để yên nó ở đây! Nó yên rồi. Romilda đâu?
Hắn tiến lại gần tôi, run rẩy và nghi ngờ hết thảy, như thể một con chó cái khi nhìn thấy ông chủ cầm lấy con nó trên tay:
– Romilda? Tại sao? – Hắn hỏi.
– Vì tao muốn nói chuyện với nàng! – Tôi cục cằn đáp.
– Nàng bất tỉnh rồi, mày có biết không?
– Bất tỉnh? Tao sẽ làm nàng tỉnh lại.
Pomino chặn tôi lại, vẻ khẩn khoản:
– Làm ơn… nghe này… tao sợ… Tại sao mày… còn sống!… Mày đã ở đâu?… Ôi, Chúa ơi… Nghe này… Mày không thể nói chuyện với tao sao?
– Không! – Tôi thét. – Tao phải nói chuyện với nàng. Mày, ở đây, mày chẳng là cái gì nữa cả.
– Gì cơ? Tao ư?
– Hôn sự của mày sẽ bị vô hiệu hóa.
– Gì cơ… mày nói gì? Còn con bé?
– Con bé… con bé… – Tôi nói không ra đâu vào đâu. – Nhục nhã chưa! Hai năm chồng vợ, và một đứa con gái! Yên nào, bé con, yên nào! Ta đến chỗ mẹ nhé… Nào, dẫn đường đi! Mọi người đưa nàng đi đâu rồi?
Ngay khi tôi bước vào phòng ngủ với đứa bé con trong tay, mụ góa Pescatore đã định nhảy xổ vào người tôi, hệt như một con linh cẩu.
Tôi giận dữ hẩy mụ ra:
– Bà đi ra phía kia! Con rể bà đã ở đây rồi: nếu bà muốn rú, thì rú lên với hắn. Tôi không quen bà!
Tôi quỳ xuống cạnh Romilda và trao nàng đứa con, trong khi nàng khóc lóc trong tuyệt vọng:
– Nào, đỡ lấy… Em khóc ư? Khóc gì cơ chứ? Em khóc vì tôi còn sống ư? Em muốn tôi chết ư? Nhìn tôi đi… nào, nhìn thẳng vào mặt tôi! Tôi còn sống hay đã chết nào?
Nàng gắng gượng ngước mắt nhìn tôi, đôi mắt vẫn còn mọng nước, và với cái giọng đứt gãy vì tiếng nấc, nàng lắp bắp:
– Nhưng… làm thế nào… anh? Anh… anh đã làm gì?
– Tôi, tôi đã làm gì? – Tôi nhếch mép. – Em hỏi tôi điều ấy, rằng tôi đã làm gì? Còn em đã cải giá… với cái tên ngu ngốc đằng kia!… Em đã hạ sinh một đứa bé gái, vậy mà em vẫn có can đảm để hỏi tôi đã làm gì ư?
– Giờ phải làm sao? – Pomino rên rỉ, hai tay ôm mặt.
– Nhưng mày, mày… mày đã ở đâu? Nếu mày giả chết và trốn khỏi đây… – Mụ Pescatore vừa rú vừa tiến tới với hai tay giương lên.
Tôi nắm lấy một tay mụ mà vặn ngược lại, rồi tôi thét:
– Im mồm, tôi nhắc lại một lần nữa! Bà im mồm đi, bà đấy, bởi nếu tôi còn nghe thấy bà thở ra thêm một từ nào nữa, tôi sẽ mất đi lòng thương cảm dành cho tên con rể đần độn của bà và cái sinh vật nhỏ bé kia, tôi sẽ làm theo luật! Bà biết luật định thế nào không? Rằng bây giờ đây tôi phải nhận lại Romilda…
– Con gái tao? Mày? Mày điên rồi! – Không nản lòng, mụ chửi rủa.
Nhưng trước lời đe dọa của tôi, Pomino đã lại gần mụ mà van nài mụ im lặng, bình tĩnh lại, vì tình yêu với Chúa.
Thế rồi mụ phù thủy rời bỏ tôi, và mụ bắt đầu chửi rủa hắn, tên ngớ ngẩn, ngu ngốc, chẳng được tích sự gì và chẳng biết làm gì khác ngoài khóc lóc và tuyệt vọng như một đứa bé gái hư đốn…
Tôi bật cười, tới mức thấy hai bên hông mình nhói đau.
– Dừng lại đi! – Tôi thét lên, khi có thể kìm mình lại được. – Tôi sẽ bỏ nàng lại cho hắn! Tôi tình nguyện bỏ nàng lại cho hắn! Bà thật sự tin tôi điên đến mức quay trở lại làm con rể bà hay sao? Ôi, Pomino tội nghiệp! Người bạn tội nghiệp của tôi ơi, tao xin lỗi nếu có nói mày là một thằng đần độn. Nhưng mày đã nghe thấy rồi mà? Cả bà ta cũng đã nói mày thế, và tao thề với mày rằng, ngay cả trước đây, Romilda, vợ của chúng ta, cũng nói thế… Đúng, chính nàng, rằng đối với nàng thì mày như một thằng đần độn, ngu ngốc, nhạt nhẽo… Và rồi gì nữa tao chẳng biết. Có phải vậy không, Romilda? Nói sự thật đi… Nào, nào, đừng khóc nữa, em thân mến, chỉnh trang lại đi nào, nhìn xem, em có thể làm đau con bé nếu cứ như này đấy… Bây giờ tôi còn sống – em thấy không? – Và tôi muốn được vui… Vui lên! Như một ông bạn say xỉn của tôi đã nói… Vui lên, Pomino! Mày nghĩ tao muốn để mặc một đứa bé con thiếu mẹ hay sao? Tởm! Tao đã có một thằng con trai không có bố rồi… Em thấy không, Romilda? Tôi với em thực là một chín một mười: tôi có một đứa con trai, đứa con của lão Malagna, và giờ đây em có một đứa con gái, con của Pomino. Nếu là ý Chúa, một ngày nào đó chúng ta sẽ gả chúng cho nhau! Khi mà giờ đây thằng cu con ấy chắc không còn làm em ghê tởm nữa… Chúng ta hãy nói những chuyện vui vẻ thôi… Hãy nói xem bằng cách nào mà em và mẹ em nhận tôi là kẻ đã chết ở khu Lồng gà…
– Cả tao nữa mà! – Pomino bực bội thốt lên. – Cả thị trấn luôn! Không riêng hai người họ!
– Giỏi lắm! Giỏi lắm! Người đó giống tao đến thế sao?
– Hình thể y hệt mày… bộ râu của mày… vận đồ đen giống mày… và rồi, mày biến mất đã bao ngày…
– Hẳn rồi, tao đã bỏ chạy, mày nghe không? Nói cứ như thể họ đã chẳng ép tao phải bỏ chạy vậy… Chính bà ta, bà ta… Thế nhưng tao đương sắp sửa trở lại, mày biết không? Đúng vậy, người găm đầy tiền! Khi mà… chuyện là thế này, không là thế này, rồi thì chết, đuối nước, thối rữa… và nhận diện, cả chuyện đấy nữa! Nhờ Chúa, tao đã được thoải mái trong hai năm; còn hai người ở đây: đính hôn, đám cưới, trăng mật, lễ tiệc, hạnh phúc, rồi đứa bé con… kẻ chết thì chôn, có phải vậy không? Còn kẻ sống hưởng thái bình…
– Còn bây giờ? Làm thế nào đây? – Pomino lặp lại, rên rỉ, đau đớn như phải đâm. – Tao lo lắm.
Romilda nhẹ nhàng hạ đứa bé vào trong cũi.
– Đi nào, hãy ra phía đằng kia, – tôi nói. – Con bé ngủ rồi. Chúng ta hãy ra kia mà bàn.
Chúng tôi ra phòng ăn. Trên bàn, phần còn lại của bữa tối vẫn đang được bày biện. Toàn thân run rẩy, ngẩn ngơ, kích động, người xám ngoét như tử thi, mí mắt chớp liên hồi trên đôi mắt đã trở nên mịt mờ mà xuyên chính giữa là hai chấm đen sắc lẹm vì thống khổ, Pomino gãi trán và nói, gần như mê sảng:
– Còn sống… còn sống… Làm thế nào đây? Làm thế nào đây?
– Đừng làm tao khó chịu! – Tôi thét. – Tao bảo, giờ ta hãy cùng xem xem.
Sau khi thay bộ y phục mặc nhà, Romilda tới chỗ chúng tôi. Tôi đứng ngắm nàng trong ánh sáng, ngưỡng mộ: nàng đã lấy lại vẻ kiều diễm một thời, thậm chí còn yêu kiều hơn.
– Để tôi xem nào… – tôi nói với nàng. – Mày cho phép chứ, Pomino? Chẳng có gì xấu cả: tao cũng là chồng, thậm chí trước mày và chính thức hơn mày. Đừng ngại, nào, Romilda! Xem xem, xem xem Mino méo mó đến nhường nào! Tao nào có thể làm gì được mày nếu tao chưa thực sự là một bóng ma?
– Như thế này thì không thể! – Pomino thở hắt ra, tức tối.
– Hắn đang lo lắng đấy! – Nháy mắt với Romilda, tôi nói. -Không, thôi nào, bình tĩnh đi Mino… Tao đã nói là tao sẽ để nàng lại cho mày, và tao sẽ giữ lời. Chỉ là, chờ đã… Cho tao xin phép!
Tôi lại gần Romilda và đánh chụt một nụ hôn lên má nàng.
– Mattia! – Pomino run rẩy thét lên.
Một lần nữa tôi bật cười.
– Ghen? Với tao? Biến đi! Tao có quyền của người tới trước. Thế nhưng, thôi, Romilda, hãy quên đi, quên đi… Xem này, trên đường tới đây, tao đã cho rằng (tôi xin lỗi, em biết đấy, Romilda à), tao đã cho rằng, Mino thân mến, tao sẽ gia cho mày một cái ơn lớn biết bao khi giải thoát mày khỏi nàng, và tao thú nhận rằng suy nghĩ này đã làm tao khó chịu ghê gớm, bởi tao muốn trả thù, và tao vẫn muốn, mày không tưởng được đâu, vẫn muốn tước Romilda khỏi mày lúc này, khi mà giờ đây tao thấy mày yêu thương nàng và rằng nàng… Đúng, tao cứ ngỡ như nàng là một giấc mơ, ngỡ như nàng của bao năm về trước… Em có nhớ không, hả, Romilda?… Đừng khóc! Em lại bắt đầu khóc đó sao? Ôi, những khoảng thời gian đẹp đẽ… Đúng vậy, chúng sẽ không quay trở lại nữa!… Thôi nào, thôi nào: giờ hai người đã có một đứa con gái, và vậy nên sẽ chẳng có ai làm khó hai người đâu! Tôi sẽ để cho mọi người được yên, khốn kiếp!
– Nhưng hôn sự sẽ bị vô hiệu hóa hay sao? – Pomino gào.
– Mày cứ để nó vô hiệu hóa đi! – Tôi nói. – Nếu có gì thì hôn sự sẽ bị vô hiệu hóa theo luật: nhưng tao sẽ không thực hiện hóa những quyền của tao và cũng sẽ chẳng đi xin xác nhận chính thức còn sống, nếu tao không bị ép buộc phải làm thế. Tao chỉ cần mọi người nhìn thấy và một lần nữa biết tao thực sự còn sống, để thoát ra khỏi cái chết này, một cái chết thực sự đấy, xin mọi người hãy tin! Mày cũng đã thấy rồi đấy: Romilda, ở đây, nàng đã có thể trở thành vợ mày… Những chuyện khác tao không quan tâm! Mày đã làm đám cưới một cách chính thức: tất cả mọi người đều rõ rằng nàng là vợ mày suốt một năm nay, và mọi chuyện sẽ giữ nguyên như thế. Mày nghĩ ai thèm quan tâm đến những giá trị pháp lý của hôn sự đầu tiên? Chuyện đã qua rồi… Romilda đã từng là vợ của tao: giờ, một năm nay, nàng là vợ của mày, mẹ của con mày. Sau một tháng sẽ chẳng có ai nói về chuyện này nữa đâu. Tôi nói đúng chứ, mẹ vợ kép?
Lầm lì, nhăn nhó, mụ Pescatore gật đầu đồng thuận. Nhưng Pomino, giữa nỗi kích động tăng tiến, hắn hỏi:
– Còn mày sẽ ở lại đây, ở lại Miragno?
– Ừ, và một vài tối tao sẽ ghé nhà mày, nhâm nhi một tách cà phê hay uống một ly rượu mừng sức khỏe của mọi người đây.
– Điều này thì không! – Mụ Pescatore giãy nảy.
– Anh ấy chỉ đùa thôi…! – Romilda nhận xét, đôi mắt cụp xuống.
Tôi lại bắt đầu cười như khi nãy.
– Em thấy không, Romilda? – Tôi bảo nàng. – Họ sợ rằng chúng ta sẽ một lần nữa đi theo tiếng gọi tình ái… Hẳn sẽ đáng yêu lắm đó! Không, không: chúng ta đừng giày vò Pomino thêm nữa… Nếu hắn không muốn thấy tôi trong căn nhà này, tôi sẽ bắt đầu qua lại phía dưới đường, dưới cửa sổ phòng em. Được chứ? Và tôi sẽ ca cho em biết bao khúc ca tình ái tươi đẹp.
Xám ngoét, run rẩy, Pomino đi qua đi lại trong phòng, miệng lầm bầm:
– Không thể nào… không thể nào…
Được một lúc hắn dừng lại và nói:
– Nhưng thực chất thì nàng… với mày, ở đây, còn sống, nàng sẽ không còn là vợ tao nữa…
– Vậy mày cứ coi như tao đã chết đi! – Tôi bình thản đáp.
Hắn lại tiếp tục đi đi lại lại:
– Tao không thể!
– Vậy thì mày cũng đâu cần làm vậy. Nhưng, thôi nào, mày thực sự tin rằng – tôi nói thêm, – tao muốn làm mày khó chịu, nếu Romilda không muốn thế ư? Chính nàng là người phải quyết định… Nào, nói xem, Romilda, ai đẹp trai hơn? Tôi hay hắn?
– Nhưng tao đang nói về phương diện pháp luật! Phương diện pháp luật! – Một lần nữa dừng lại, hắn gào lên.
Romilda nhìn hắn, vẻ hồi hộp bất an:
– Trong trường hợp này, – tôi chỉ cho hắn thấy, – xin lỗi, tao xét thấy hơn ai khác, chính tao là người phải cảm thấy bị xúc phạm khi giờ đây, một nửa xinh đẹp trong một thời của tao đang chung sống như vợ chồng với mày.
– Nhưng nàng, – Pomino đáp trả, – nàng không còn là vợ tao nữa…
– Ôi, tựu trung là, – tôi khịt mũi – tao muốn trả thù và rồi tao không trả thù nữa. Tao để lại cho mày người vợ, tao để mày được yên, thế mà mày vẫn không hài lòng? Nào, Romilda, đứng dậy đi! Ta hãy đi khỏi đây, hai chúng ta! Tôi sẽ đưa em đi một kỳ trăng mật ngắn ngày… Chúng ta sẽ được vui thú! Hãy bỏ lại cái thằng xét nét nhạt nhẽo này đi. Hắn đòi tôi phải thực sự quăng mình xuống lòng kênh bên cạnh chiếc cối xay ở Lồng gà cơ đấy.
– Tao không đòi điều này! – Bực bội lên tới đỉnh điểm, Pomino tuôn trào. – Nhưng ít nhất thì mày cũng biến đi! Biến đi, bởi mày thích làm người chết cơ mà! Biến đi ngay lập tức, thật xa vào, mà không được để cho ai nhìn thấy. Bởi tao ở đây… với mày… còn sống…
Tôi đứng dậy, vỗ một tay lên vai hắn để giúp hắn bình tâm và đáp rằng trước đó, tôi đã tới Oneglia, chỗ anh tôi, và bởi vậy nên giờ này, tất cả mọi người ở mạn đó đều đã biết tôi còn sống, và rằng ngày mai, tin tức tất nhiên sẽ truyền tới Miragno, rồi nói:
– Chết đi lần nữa? Xa khỏi Miragno? Mày đùa đấy à, bạn thân mến! – Tôi cảm thán. – Thôi đi: yên phận mà làm một người chồng, đừng bứt rứt gì cả… Hôn sự của mày, dù thế nào đi chăng nữa, cũng đã được tổ chức rồi. Mọi người sẽ chấp nhận thôi, khi xét thấy giữa chuyện này còn một sinh vật bé nhỏ kia. Tao hứa và thề rằng tao sẽ không bao giờ tới làm phiền mày, ngay cả chỉ vì một tách cà phê nhỏ nhặt, ngay cả chỉ để chiêm ngưỡng vở kịch tình yêu ngọt ngào và vui nhộn của hai người, sự đồng điệu của hai người, niềm hạnh phúc của hai người dựng xây trên cái chết của tao… Đồ vô ơn! Tao dám cá rằng chẳng có ai, kể cả mày, thằng bạn đểu, chẳng có ai trong số mọi người đây đã tới mà dựng lên một vòng hoa, để lại một bông hoa trên mộ tao, ở đằng đó chỗ nghĩa trang… Nói xem, có phải vậy không? Trả lời đi!
– Mày cứ thích đùa!… – Pomino nói, lắc đầu.
– Đùa ư? Hoàn toàn không hề! Ở đó thực sự có xác của một người đàn ông, và người ta không đùa chuyện này! Mày đã tới đó chưa?
– Chưa… tao không… tao không đủ can đảm… – Pomino lầm bầm.
– Nhưng mày có can đảm lấy vợ tao, đồ khốn!
– Còn mày đối với tao thì sao? – Sẵn sàng, hắn bảo tôi. – Chẳng phải mày đã tước nàng khỏi tay tao, trước đây, khi còn sống?
– Tao ư? – Tôi cảm thán. – Mày nghĩ thế thôi! Nhưng sự thực là nàng không thích mày! Vậy mày muốn tao nhắc lại rằng đối với nàng, mày trông hệt như một thằng đần ư? Em hãy nói với hắn đi, Romilda, làm ơn: chồng em đang buộc tôi tội phản bội… Giờ thì đâu còn quan trọng nữa! Hắn là chồng em, và sẽ chẳng có ai quan tâm đến chuyện ấy nữa. Nhưng tao không có tội… Nào, nào. Mai tao sẽ đến chỗ kẻ đã chết tội nghiệp kia, bị bỏ mặc ở đó, không một bông hoa, không một giọt nước mắt… Mày nói xem, ít nhất chắc cũng có một tấm bia đặt trên nấm mồ chứ?
– Có, – Pomino nhanh nhảu đáp lời tôi. – Chi phí do Chính quyền thị trấn chi trả… Ông bố tội nghiệp của tao…
– Ông ấy đã đọc điếu văn, tao biết! Nếu cái người đàn ông tội nghiệp kia nghe được… Trên tấm bia có viết gì?
– Tao không biết… Đấy là lời của Sơn ca bé bỏng.
– Hiển nhiên rồi! – Tôi thở dài. – Đủ rồi. Cả chuyện này ta cũng dừng ở đây thôi. Kể cho tao, thay vào đó hãy kể cho tao xem làm thế nào mà hai người lại kết hôn sớm thế… Ôi, nàng góa phụ nhỏ bé của tôi đã khóc thương tôi ít đến nhường nào… Có thể là không chút nào, nhỉ? Nói đi, có thể nào tôi lại không được nghe giọng nói của em? Xem kìa: giờ đêm đã về khuya… ngay khi sớm mai ló rạng, tôi sẽ đi khỏi như thể chúng ta chưa từng quen biết… Hãy tận dụng những thời khắc ít ỏi này. Nào, kể cho tôi nghe…
Romilda nhún vai, nhìn Pomino, rồi nàng cười e lệ: thế rồi, nàng cụp mắt và ngắm đôi bàn tay:
– Em có thể nói gì đây? Chắc chắn là em đã khóc…
– Còn mày thì chẳng xứng đáng! – Mụ Pescatore lầm bầm.
– Cảm ơn em! Nhưng thôi nào, rốt cục… hẳn là ít, có phải không? – Tôi nói tiếp. – Đôi mắt kiều diễm này, dù rằng chúng dễ dàng lầm lẫn, nhưng chúng chẳng thể héo mòn được lâu, hẳn rồi.
– Em và mẹ vất vả lắm, – Romilda biện minh. – Và nếu chẳng phải nhờ anh ấy…
– Tuyệt vời, Pomino! – Tôi thốt lên. – Nhưng cái lão hạ lưu Malagna kia chẳng giúp gì sao?
– Chẳng giúp gì, – mụ Pescatore đáp, cứng cỏi, khô khốc. – Tất cả đều do cậu này làm…
Và mụ chỉ Pomino.
– Là… là… – hắn chữa lời, – ông bố tội nghiệp của tao… Mày biết ông ấy làm ở Văn phòng Chính quyền thị trấn phải không? Đúng vậy, trước tiên ông ấy thỏa thuận một khoản trợ cấp, khi xét đến cái thảm cảnh kia… và rồi…
– Rồi ông ấy nhượng bộ, chấp thuận đám cưới?
– Hạnh phúc biết bao! Rồi ông muốn tất cả mọi người ở đây, với ông ấy… Nhưng hỡi ôi! Hai tháng trước…
Và rồi hắn bắt đầu kể cho tôi về căn bệnh và cái chết của ông bố; tình yêu của ông ấy đối với Romilda và đứa cháu gái bé bỏng; nỗi tiếc thương rộng khắp thị trấn vì cái chết của ông. Thế rồi tôi hỏi tin tức về cô Scolastica, người bạn thân của Hiệp sĩ Pomino. Vẫn còn nhớ nắm pasta bị bà cô tệ hại của tôi trét lên mặt, mụ góa Pescatore nhấp nhổm trên ghế. Pomino đáp rằng hắn đã không gặp cô được hai năm, nhưng rằng cô còn sống. Rồi tới lượt mình, hắn hỏi tôi đã làm gì, đã ở đâu, vân vân và vân vân… Tôi nói những gì có thể, mà không tiết lộ bất kỳ cái tên hay địa danh nào, để tỏ rằng tôi hoàn toàn chẳng vui thú gì suốt hai năm qua. Và cứ như vậy, chuyện trò cùng nhau, chúng tôi đợi bình minh của ngày mới tới chính thức bố cáo sự phục sinh của tôi.
Chúng tôi đã thấm mệt vì thao thức và những cảm xúc mãnh liệt vừa qua; và cũng lạnh nữa. Để sưởi ấm đôi chút, Romilda tự tay chuẩn bị cà phê. Khi đưa tách cho tôi, nàng nhìn tôi với một nụ cười nhẹ nhàng, man mác trên môi, xa xăm, và nàng bảo:
– Anh vẫn như ngày trước, không đường, có phải không?
Giây phút ấy nàng đọc được những gì trong đôi mắt tôi? Nàng lập tức hạ thấp ánh nhìn.
Trong ánh sáng sắc xanh của bình minh, tôi bỗng cảm thấy cổ họng mình nghèn nghẹn bởi một tiếng khóc bất chợt, và tôi nhìn Pomino với vẻ căm ghét. Nhưng rồi cà phê thoảng hương dưới mũi, vị cà phê khiến tôi ngây ngất, tôi bắt đầu chầm chậm nhấm nháp. Thế rồi tôi xin phép Pomino cho tôi để lại va li ở nhà hắn, cho tới khi tôi tìm được một nơi trú ngụ: lúc ấy tôi sẽ cử người tới lấy lại.
– Được chứ! Được chứ! – Hắn đáp, vẻ ân cần. – Mà mày đừng lo chuyện đấy: đích thân tao sẽ mang nó tới cho mày…
– Ồ, – tôi nói, – nhưng nó rỗng không ý mà, mày biết đấy… Nhân tiện, Romilda: liệu em có tình cờ lưu giữ chút gì của tôi hay không… quần áo, đồ lót?
– Không, không gì cả… – Nàng chìa hai tay ra mà đáp, vẻ đau đớn. – Anh hiểu mà… Sau cái nghịch cảnh kia…
– Ai mà ngờ được chứ? – Pomino cảm thán.
Nhưng tôi có thể thề rằng gã Pomino bủn xỉn vẫn quàng trên cổ một chiếc khăn lụa cũ của tôi.
– Đủ rồi. Tạm biệt nhé! Chúc may mắn! – Tôi chào, đôi mắt trân trân nhìn Romilda, mà nàng chẳng muốn nhìn tôi. Nhưng rồi bàn tay nàng run rẩy khi đáp lại câu chào của tôi. – Tạm biệt! Tạm biệt!
Tôi xuống đường, một lần nữa cảm thấy bản thân lạc lõng, dù cho đã ở đây, chính quê hương của mình: cô độc, không nhà, không điểm đến.
“Giờ thì sao?” Tôi tự hỏi. “Mình đi đâu đây?”
Tôi vừa đi vừa nhìn ngắm dòng người bước qua. Nhưng hỡi ôi! Chẳng ai nhận ra tôi sao? Thế nhưng giờ đây tôi cũng đã thành một kẻ mà tất cả mọi người, khi nhìn thấy tôi, hẳn nhiều nhất họ chỉ có thể nghĩ: “Hãy nhìn tên xa lạ đằng kia, hắn mới giống Mattia Pascal tội nghiệp làm sao! Nếu hắn có con mắt hiêng hiếng, hẳn người ta đã nhận hắn là cậu ta rồi.” Nhưng hỡi ôi! Chẳng ai nhận ra tôi, bởi chẳng ai nghĩ tới tôi nữa. Tôi thậm chí chẳng khiến người ta tò mò, không chút ngạc nhiên nào hết… Vậy mà tôi đã tưởng tượng ra một vụ lùm xùm, hỗn loạn, ngay khi tôi vừa xuất hiện trên đường phố cơ đấy! Mộng tưởng tan tành, tôi cảm thấy một nỗi khó chịu, bực bội, cay đắng mà chẳng thể nói thành lời. Khó chịu và bực bội đã kìm tôi khỏi gây sự chú ý tới những kẻ mà về phần mình, tôi nhận ra họ rất rõ: tôi đoan chắc! Ngay cả sau hai năm… Ôi, cái chết có ý nghĩa gì! Không một ai, không một ai còn nhớ đến tôi, cứ như thể tôi chưa từng tồn tại…
Hai lần cuốc bộ từ đầu này tới đầu kia thị trấn, chẳng có ai dừng bước tôi lại. Khó chịu lên tới đỉnh điểm, tôi nghĩ tới việc quay trở lại chỗ Pomino, tuyên bố với hắn rằng tôi không đồng ý với những thỏa thuận nữa và trả thù hắn vì sự sỉ nhục mà chừng như toàn thị trấn gây ra khi không còn nhận ra tôi. Nhưng cả Romilda với đức hạnh của nàng cũng sẽ chẳng đi theo tôi, cũng như tôi sẽ chẳng biết đưa nàng tới đâu nữa. Trước tiên, ít nhất tôi phải tìm được một căn nhà. Tôi tính tới chuyện đi tới Toà thị chính, tới văn phòng hộ tịch, để ngay lập tức xóa tên mình khỏi danh sách người chết. Thế nhưng, trên đường đi, tôi thay đổi ý định mà chuyển hướng về thư viện Santa Maria Liberale, nơi tôi tìm thấy ông bạn đáng kính don Eligio Pellegrinotto thay thế vị trí của mình. Thoạt tiên, chính ông cũng không nhận ra tôi. Don Eligio tuyên bố rằng thực ra ông đã nhận ra tôi ngay lập tức và ông chỉ chờ tôi nói tên mình để có thể choàng vai bá cổ tôi, bởi ông không thể tin đó là tôi được, và ông không thể ngay lập tức ôm lấy một kẻ nào đó trông giống Mattia Pascal. Cứ coi là vậy đi! Ông là người đầu tiên chào mừng tôi trở lại, vô cùng nồng hậu; thế rồi ông dẫn tôi theo vào thị trấn để xóa đi trong tâm hồn tôi cái ấn tượng về sự quên lãng của những người đồng hương.
Nhưng giờ đây tôi chán ghét tới mức không muốn kể lại cảnh diễn ra sau đó, trước tiên là ở tiệm thuốc Brísigo, rồi quán cà phê Unione, khi mà don Eligio, vẫn còn mừng rỡ, đã giới thiệu tôi còn sống. Tin tức truyền ra trong chớp nhoáng, và rồi mọi người hối hả chạy lại nhìn ngắm và đặt cho tôi muôn vàn câu hỏi. Họ muốn biết rằng vậy thì cái kẻ đã chết đuối ở Lồng gà là ai, cứ như thể họ không nhận ra tôi nữa: tất cả, hết người này đến người kia. Và rồi khi tôi là tôi, chính là tôi: tôi từ đâu trở lại? Từ thế giới bên kia! Tôi đã làm gì? Làm một người chết! Tôi chọn cách dính lấy hai câu trả lời này, và bỏ mặc tất cả mọi người giận dữ với sự tò mò lên tới cực điểm, kéo dài tới vài ngày. Không may mắn hơn những người khác là ông bạn Sơn ca bé bỏng, kẻ đã tới “phỏng vấn tôi” cho tờ Báo chí. Hắn cố làm tôi cảm động, cố dụ tôi nói bằng cách mang cho tôi một bản của tờ báo hai năm về trước, với bài báo tử của tôi, nhưng vô ích. Tôi bảo hắn tôi thuộc nằm lòng bài báo tử ấy, bởi dưới Địa ngục tờ Báo chí cũng khá phổ biến.
– À còn chuyện nữa! Cảm ơn ông bạn yêu quý! Cả vì tấm bia nữa… Tôi sẽ đến ngắm nghía xem, ông có biết không?
Hắn tuyên bố sẽ viết nên một mẩu tin đáng chú ý mới cho Chủ nhật tới với tiêu đề để chữ lớn: MATTIA PASCAL CÒN SỐNG!
Trong số một vài kẻ không muốn lộ diện, ngoài những chủ nợ của tôi, có lão Batta Malagna, kẻ mà – họ kể với tôi – hai năm trước đã tỏ ra đau đớn vô cùng trước vụ tự sát dã man của tôi. Tôi tin điều ấy. Lúc đó, lão cảm thấy đau đớn nhiều bao nhiêu khi biết được tôi đã biến mất vĩnh viễn, giờ đây, hẳn lão thất vọng bấy nhiêu khi thấy tôi trở lại cuộc sống. Tôi hiểu thấu lý do cho nỗi đau đớn kia cũng như sự thất vọng bấy giờ của lão.
Còn Oliva? Tôi gặp nàng ngoài đường, vào một ngày Chủ nhật nào đó, khi nàng vừa rời khỏi Thánh Lễ, với đứa con năm tuổi trên tay, hồng hào và đẹp đẽ như nàng: – con trai tôi! Nàng nhìn tôi với đôi mắt trìu mến và tươi cười mà trong thoáng chốc đã kể cho tôi biết bao điều…
Vậy thôi. Giờ tôi sống trong yên bình, cùng với cô Scolastica già cả, âu cũng nhờ cô đã dành lại cho tôi một chỗ trong nhà mình. Chuyến du ngoạn lạ kỳ đã bỗng chốc đẩy cao vị thế của tôi trong cô. Tôi ngủ trên chính chiếc giường mà nằm trên ấy, người mẹ đáng thương của tôi đã mất, và tôi dành phần lớn thời gian ban ngày ở đây, trong thư viện, với bạn đồng hành là don Eligio, trong khi ông vẫn còn rất lâu nữa mới sắp xếp và ổn định trật tự được cho những cuốn sách cũ kỹ bụi bặm.
Tôi đã dành khoảng sáu tháng để viết nên câu chuyện lạ lùng của mình, nhờ sự giúp đỡ của don Eligio. Ông sẽ giữ bí mật về những gì được viết trên đây, như thể ông đã biết được những điều ấy trước ấn tòa giải tội1.
Chúng tôi đã bàn với nhau về những tình cảnh của tôi, và tôi thường tuyên bố với ông rằng mình chẳng nhìn thấy ích lợi gì mà chúng có thể mang lại cho kẻ khác.
– Trong khi đó, câu chuyện này, – ông bảo tôi: – câu chuyện này cho ta thấy rằng khi nằm ngoài luật lệ và những tiểu tiết kia, dù chúng có là hạnh phúc hay buồn khổ, những thứ mà vì chúng, ta là ta, thì thưa ông Pascal, cuộc sống là bất khả.
Nhưng tôi chỉ cho ông thấy rằng tôi chưa hoàn toàn bước vào trong luật lệ, cũng như trong những tiểu tiết của tôi. Vợ tôi là vợ của Pomino, và chính tôi cũng chẳng biết rõ mình là ai.
Trong nghĩa trang Miragno, trên nấm mồ của kẻ vô danh tội nghiệp đã tự sát ở khu Lồng gà vẫn còn tấm bia khắc lời của Sơn ca bé bỏng:
NẠN NHÂN CỦA SỐ PHẬN NGHIỆT NGÃ
MATTIA PASCAL
THỦ THƯ
TRÁI TIM KHOÁNG ĐẠT TÂM HỒN RỘNG MỞ
NƠI ĐÂY ANH YÊN NGHỈ
VỚI LÒNG THƯƠNG CẢM CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐỒNG HƯƠNG
ĐỒNG LẬP MỘ
Tôi mang tới vòng hoa như đã hứa và thi thoảng lại tới mà nhìn ngắm bản thân, đã chết và được chôn ở đó. Có một kẻ tò mò nào đó đã bám theo tôi từ đằng xa; và rồi, khi trở lại, hắn tới cùng tôi, cười, và – xét lấy tình trạng tôi – hắn hỏi:
– Vậy là, ngài, rốt cục ngài là ai?
Tôi nhún vai, lim dim đôi mắt mà đáp:
– À, bạn yêu quý của tôi ơi… Tôi là Mattia Pascal quá cố.
1. Ấn tòa giải tội: trong Công giáo, một linh mục không được phép tiết lộ bất cứ điều gì sau khi nghe một người xưng tội.