Mattia Pascal Quá Cố

Lượt đọc: 69 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10
CON MẮT VÀ PAPIANO

❊ ❊ ❊

– Bi kịch của Orestes sẽ được chiếu ở một rạp múa rối nhỏ đấy! – Ông Anselmo Paleari tới thông báo cho tôi. – Những con rối tự động, một phát minh mới. Tối nay, tám giờ rưỡi, trên đường Prefetti, số 54. Đáng xem đấy, ngài Meis.

– Bi kịch của Orestes?

– Đúng vậy! D’après Sophocle, phiên bản của Sophocles1, trên tờ rơi có ghi. Vở Electra2. Giờ thì ngài hãy lắng nghe một chút ý tưởng kỳ quái xuất hiện trong tâm trí tôi nhé! Nếu trong phút cao trào, ngay khi con rối đóng vai Orestes chuẩn bị báo thù Aegisthus và mẹ chàng vì cái chết của cha mình, thì bỗng nhiên xuất hiện một vết rách xé ngang bầu trời bằng giấy của rạp, vậy câu chuyện sẽ ra sao? Ngài nói thử xem.

– Tôi chẳng biết, – tôi nhún vai và đáp.

– Vô cùng đơn giản thôi, ngài Meis! Orestes sẽ rất đỗi bối rối dưới lỗ hổng trên trời.

– Tại sao?

– Ngài hãy để tôi nói. Orestes vẫn còn khao khát báo thù, vẫn mong muốn hiện thực hóa điều đó với niềm đam mê mãnh liệt.

Nhưng vào thời điểm ấy, đôi mắt chàng hẳn sẽ hướng lên vết rách, mà từ đó từng dòng ảnh hưởng xấu xa sẽ thâm nhập vào hoạt cảnh, và chàng sẽ ngã lòng. Orestes, tựu trung lại, sẽ trở thành Hamlet3. Mọi sự khác biệt, thưa ngài Meis, giữa bi kịch cổ đại và hiện đại đều nằm cả ở đó, xin ngài hãy tin: ở một lỗ hổng trên bầu trời bằng giấy.

Rồi ông ấy đi khỏi, chân kéo lê đôi dép.

Từ trên đỉnh cao mây mù lơ đãng, ông Anselmo thường thả trôi dòng suy nghĩ của mình, thể như tuyết lở. Nguyên nhân, mối tương quan hay nhu cầu dẫn tới những dòng suy nghĩ ấy đều mắc lại phía trên, giữa những đám mây, tới mức quá khó để người nghe có thể hiểu ra bất cứ thứ gì.

Ấy vậy nhưng hình ảnh con rối đóng vai Orestes bối rối trước lỗ hổng trên bầu trời vẫn kẹt lại chốc lát trong tâm trí tôi. Được một lúc tôi nghĩ: “Những con rối thực sung sướng,” tôi thở dài, “trên chiếc đầu bằng gỗ của chúng, bầu trời giả tưởng có thể vẹn nguyên chẳng đứt rách! Chúng chẳng có những sự ngần ngại nặng nề, chẳng có bức bối, ngăn trở, chẳng có những khoảng tối hay lòng cảm thương: không gì cả! Chúng hoàn toàn có thể chiêm ngưỡng và hài lòng với chính vở kịch của mình. Chúng có thể yêu thương, coi trọng và trân quý bản thân mình, chẳng bao giờ phải chịu những đảo lộn kỳ quặc, bởi hình thể hay hành động của chúng đều hài hòa với mái che là bầu trời kia.

“Còn nguyên mẫu của những con rối này, ông Anselmo thân mến,” tôi tiếp tục dòng tâm tưởng, “ông đã có một cái ở nhà, chính thằng con rể đê tiện Papiano của ông. Còn ai ngoài hắn có thể hài lòng với bầu trời mỏng manh, thấp lè tè trên đầu, chốn cư ngụ bình yên của một vị Chúa lỗi lạc, rộng lượng, sẵn sàng nhắm mắt và giơ tay xá tội; vị Chúa luôn luôn một giọng ngái ngủ trước những sự xuẩn ngốc: – Hãy tự cứu lấy chính mình, chỉ khỉ đó ta mới cứu lấy ngươi. – Và chàng Papiano của ông đã tự cứu lấy mình bằng mọi cách. Cuộc sống với hắn như thể một màn trình diễn kỹ năng. Và hắn mới vui sướng làm sao khi bày mưu tính kế: hắn sẵn sàng, chủ động ba hoa phét lác!”

Papiano khoảng bốn mươi tuổi, thân hình cao ráo, chân tay săn chắc, đầu hói, thêm một cặp ria mép lốm đốm bạc vĩ đại ẩn hiện dưới một chiếc mũi tốt tướng và hai cái lỗ phập phồng. Đôi mắt hắn màu xám, sắc và kích động y hệt đôi bàn tay. Hắn nhìn mọi thứ và chạm vào mọi thứ. Ví như trong khi nói chuyện với tôi, hắn nhận ra – mà tôi thì chẳng rõ bằng cách nào – rằng phía sau hắn, Adriana đương khổ sở lau dọn và sắp xếp lại vị trí một vài đồ vật trong phòng. Ngay lập tức, hắn thoắt nói:

– Xin ngài thứ lỗi!

Hắn chạy về phía nàng, giật lấy thứ đồ kia khỏi tay nàng:

– Không, cô em gái của tôi ơi, xem này: người ta làm thế này cơ mà!

Rồi chính hắn lau dọn, chính hắn đặt nó lại vị trí, xong hắn trở lại chỗ tôi. Hoặc có những khi hắn nhận ra em trai mình, mỗi khi cậu kia lên cơn co giật động kinh. “Cậu bé đương mơ mộng”, hắn nói rồi chạy lại mà vỗ nhẹ lên má cậu, nhéo nhéo cái mũi:

– Scipione! Scipione!

Hoặc hắn thổi vào mặt cậu, cho tới khi cậu tỉnh lại.

Có Chúa mới biết hẳn tôi sẽ vui thú đến nhường nào trước cảnh ấy, nếu không phải tôi sợ lòi đuôi chuột!

Hẳn là hắn đã nhận ra từ những ngày đầu tiên, hoặc – ít nhất – hắn đã thoáng thấy cái đuôi chuột ấy trong tôi. Hắn nói một tràng những lời ba hoa, tất thảy đều là mồi câu dẫn dụ tôi bày tỏ. Tôi tưởng như từng lời nói, từng câu hỏi của hắn, dù cho có hiển hiện thế nào đi chăng nữa, cũng đều ẩn chứa một cái bẫy. Trong khi ấy, tôi lại chẳng thể nào tỏ vẻ ngờ vực vì sợ sẽ làm hắn càng thêm nghi ngờ. Thế nhưng bằng cái vẻ khúm núm phục dịch kia, hắn khiến tôi bực bội tới mức khó lòng che giấu cảm xúc thực của mình.

Cảm giác bực bội của tôi cũng bắt nguồn từ hai nguyên nhân thẳm sâu và thầm kín. Một là: dù chẳng bao giờ phạm phải những điều xấu, chẳng bao giờ phương hại tới ai, tôi vẫn phải cảnh giác thế này, phải nhìn trước ngó sau, sợ sệt nghi ngờ, cứ như thể tôi đã mất cái quyền được sống bình yên. Còn một lý do khác tôi chẳng muốn tự thú với bản thân mình, vậy nên nó càng khiến tôi bực bội khôn nguôi trong thẳm sâu tâm hồn. Tôi an ủi bản thân mình:

“Đồ ngốc! Rời khỏi đây đi, sao lại phải chịu đựng cái tên nhiều chuyện này!”

Nhưng tôi không rời khỏi: tôi chẳng thể rời khỏi nữa.

Cuộc chiến giữa tôi với chính bản thân tôi, cốt để trốn tránh thứ tình cảm mà mình dành cho Adriana, đã ngăn tôi nghĩ đến hậu quả nảy sinh giữa sự tồn tại rất đỗi dị thường của tôi và thứ tình cảm ấy. Tôi ngồi lại đó mà bối rối, rúng động trong nỗi bất hạnh, hay đúng hơn là với trạng thái kích động liên hồi, dù cho ngoài mặt vẫn tươi cười niềm nở.

Mọi thứ tôi tình cờ phát hiện tối hôm đó, khi ẩn mình sau cánh cửa chớp, tôi vẫn chưa thể nào cắt nghĩa cho được. Tôi những tưởng ấn tượng xấu của Papiano khi nghe cô Caporale kể về tôi, hẳn sẽ ngay lập tức tan biến khi chúng tôi gặp mặt. Hắn làm phiền tôi, đúng vậy, nhưng cứ như thể hắn không cách nào sống mà không làm phiền tôi; chắc hẳn không phải dụng ý đuổi tôi đi; thực ra là ngược lại! Hắn mưu tính chuyện gì? Sau khi hắn trở về, Adriana lại trở nên rầu rĩ và khép kín, hệt như những ngày đầu tiên. Cô Caporale dùng kính ngữ với Papiano, ít ra là khi có mặt người khác, nhưng cái tên đại bịp kia lại công khai chẳng dùng kính ngữ với cô; thậm chí hắn còn gọi cô là Rea Silvia4. Tôi thì chẳng cách nào lý giải được những lối nói thân mật và kỳ khôi này của hắn. Hẳn người phụ nữ vô duyên kia chẳng đáng được tôn trọng cho lắm vì cuộc sống rối rắm của mình, thế nhưng cô ta cũng không đáng bị một người đàn ông chẳng máu mủ ruột rà hay dây dưa rễ má gì đối xử như vậy.

Một tối (khi trăng tròn như thể ngày rạng), đứng ở cửa sổ phòng, tôi nhìn thấy cô ta cô độc rầu rĩ bên kia, trên ban công, nơi bấy giờ chúng tôi hiếm khi còn tụ họp, và nếu có thì cũng chẳng hứng thú như khi trước, bởi Papiano thường chen vào và nói thay phần tất cả. Trí tò mò thôi thúc, tôi quyết định tới làm cô ta bất ngờ trong phút giây lơ đễnh ấy.

Như thường nhật, trong hành lang, ngay ngưỡng cửa phòng mình, tôi lại gặp cậu em trai của Papiano đương cuộn tròn trên chiếc hòm, cùng một vẻ như lần đầu khi tôi gặp cậu ta. Cậu ta định sống luôn trên chiếc hòm đó, hay định làm mật thám theo dõi tôi theo lệnh của anh trai?

Trên ban công, quý cô Caporale đương khóc. Thoạt tiên cô chẳng muốn nói gì với tôi; cô than phiền về một cơn đau đầu vô cùng dữ dội. Thế rồi, như thể bất ngờ lấy được quyết tâm, cô quay ra đối mặt tôi, chìa một tay ra và hỏi:

– Ngài là bạn tôi phải không?

– Nếu cô ban cho tôi vinh dự ấy… – Tôi cúi đầu trả lời.

– Cảm ơn ngài. Ngài đừng tâng bốc tôi, xin ngài đấy! Nếu ngài biết được tôi cần một người bạn đến mức nào, một người bạn thực sự, ngay lúc này! Hẳn ngài sẽ hiểu, khi mà ngài chỉ còn một mình trên thế gian, cũng như tôi… Nhưng ngài là đàn ông! Nếu ngài biết được… nếu ngài biết được…

Cô cắn lấy chiếc khăn tay đang cầm, ngăn những giọt nước mắt; nhưng vô ích, cô giận dữ xé nó ra thành từng mảnh.

– Tôi là một người phụ nữ, xấu xí và già nua, – cô ca thán. – Ba lần đen đủi mà chẳng có cách nào khắc phục! Tôi sống làm gì cơ chứ?

– Xin cô hãy bình tĩnh lại nào, – tôi khẩn khoản, đau lòng. – Sao cô lại nói vậy, thưa quý cô?

Tôi chẳng biết nói gì khác.

– Bởi… – Cô vỡ òa, nhưng đột nhiên kìm lại.

– Xin cứ nói, – tôi khích lệ. – Nếu cô cần một người bạn…

Cô chấm mắt bằng chiếc khăn tay bấy giờ đã rách, rồi…

– Tốt hơn hết là tôi nên chết đi! – Cô rên rỉ giữa cơn giày vò sâu sắc và dữ dội, tức thì khiến tôi nghẹn ngào vì thương cảm.

Tôi sẽ chẳng thể nào quên đường cong khổ sở nơi cái miệng héo úa và vô duyên của cô ta khi thổ lộ những lời kia, hay cái cằm run run mà trên ấy ngự trị vài cọng râu đen.

– Nhưng ngay cả cái chết cũng từ chối tôi, – cô nói tiếp. – Không sao đâu… xin lỗi, ngài Meis! Ngài có thể giúp gì cho tôi được cơ chứ? Chẳng ai có thể. Cùng lắm là chỉ một vài lời nói… vâng, có thể đôi chút thương cảm. Tôi mồ côi, và tôi phải ở đây, chịu sự đối xử như thể… có lẽ ngài đã nhận ra. Nhưng ngài biết đấy, họ đâu có quyền! Bởi đâu phải họ nhận tôi vì lòng hảo tâm…

Rồi cô Caporale thuật lại cho tôi về sáu ngàn lire của cô mà Papiano đã ngọt nhạt lấy mất, số tiền mà tôi đã nhắc tới trước đó.

Còn về nỗi muộn phiền của người phụ nữ bất hạnh kia, đó không hẳn là những gì tôi muốn khai thác từ cô ta. Tôi lợi dụng (thú thực là vậy) trạng thái kích động của cô, có lẽ do cô ta đã uống nhiều hơn thường nhật vài ly rượu. Tôi đánh bạo hỏi:

– Nhưng xin lỗi, thưa quý cô, tại sao cô lại đưa số tiền đó cho ông ấy?

– Tại sao ư? – Cô nắm chặt tay. – Hai việc bất nhân, việc này xấu xa hơn việc nọ! Tôi đã đưa cho hắn để tỏ rõ rằng tôi hoàn toàn hiểu hắn muốn gì từ tôi. Ngài hiểu chưa? Với người vợ còn sống, hắn…

– Tôi hiểu rồi.

– Đương nhiên, – cô phấn khích nói tiếp. – Rita tội nghiệp…

– Người vợ phải không?

– Vâng, Rita, chị gái của Adriana… Hai năm trời cô ấy ốm yếu, giằng co giữa sự sống và cái chết… Tưởng tượng xem, nếu tôi… Nhưng tất nhiên, ở nhà này họ biết tôi hành xử thế nào. Adriana biết, và bởi vậy nên em ấy quý tôi; em ấy thì quý tôi, tội nghiệp. Nhưng bây giờ tôi còn lại gì? Ngài hãy xem: vì hắn, tôi đã bán cả đàn piano, thứ đối với tôi… là tất cả, có thể ngài sẽ hiểu! Không chỉ vì nó là miếng cơm manh áo: tôi trò chuyện bằng chiếc đàn piano! Tôi sáng tác từ ngày trẻ, hồi còn ở Học viện; ngay cả sau khi tốt nghiệp, tôi vẫn sáng tác; nhưng rồi tôi bỏ dở. Nhưng khi tôi có chiếc đàn piano, tôi vẫn theo ngẫu hứng sáng tác cho riêng mình; tôi chìm đắm… Một vài lần tôi say mê đến mức ngã ra đất và bất tỉnh nhân sự, xin ngài hãy tin. Bản thân tôi cũng chẳng biết thứ gì đương tuôn chảy từ trong tâm hồn mình. Tôi và nhạc cụ của mình trở thành một vật thể duy nhất, tôi chẳng cảm nhận được ngón tay mình rung trên phím đàn: tôi bày tỏ tiếng khóc lóc và gào thét của tâm hồn mình. Tôi có thể kể cho ngài chuyện này, rằng một tối (có tôi và mẹ tôi, trên một căn gác lửng) có một dòng người đã tụ tập phía dưới đường. Họ vỗ tay hân hoan tôi, lâu thật lâu. Còn tôi thì sợ.

– Xin lỗi, thưa quý cô, – nghe vậy tôi hỏi, cốt để an ủi cô bằng cách nào đó. – Liệu chúng ta có thể thuê một chiếc piano hay không? Tôi rất muốn, rất muốn được nghe cô đàn; và nếu cô…

– Không, – cô ngắt lời tôi, – sao ngài lại muốn tôi chơi đàn nữa! Đối với tôi nó kết thúc rồi. Đàn ca sáo nhị. Đủ rồi. Kết thúc rồi…

– Nhưng còn ông Terenzio Papiano, – tôi đánh bạo hỏi cô lần nữa, – ông ấy đã hứa hoàn lại cô số tiền ấy hay chăng?

– Hắn ư? – Cô Caporale lập tức nói, rùng mình giận dữ. – Tôi chẳng bao giờ thèm đòi hắn! Vâng, nhưng hắn vừa hứa trả lại tôi, nếu tôi giúp hắn… Ha! Hắn muốn được tôi giúp đỡ, hẳn là tôi. Hắn còn có gan mà bày tỏ với tôi, thản nhiên đến vậy…

– Giúp đỡ ông ấy? Trong chuyện gì?

– Trong một chuyện bất nhân nữa! Ngài hiểu chứ? Tôi thấy là ngài đã hiểu rồi.

– Adri… tiểu… tiểu thư Adriana? – tôi lắp bắp.

– Chính xác. Tôi phải thuyết phục em ấy! Tôi, ngài hiểu chứ?

– Thuyết phục cô ấy cưới ông ta?

– Chính vậy. Ngài biết tại sao không? Em ấy được thừa hưởng, hay đúng hơn, hẳn phải được thừa hưởng mười bốn đến mười lăm ngàn lừe tiền hồi môn: tiền hồi môn của cô chị gái đáng thương. Hắn phải trả lại số tiền ấy cho ông Anselmo bởi Rita mất mà không có con. Tôi chẳng biết hắn đã làm trò quỷ quyệt gì. Hắn đã xin hoàn lại số tiền ấy trong vòng một năm. Giờ hắn hy vọng rằng… Suỵt… Adriana kìa!

Adriana tiến gần tới chỗ chúng tôi, ngại ngần và kín đáo hơn thường lệ: nàng vòng một tay ôm lấy eo cô Caporale và khẽ gật đầu chào tôi. Sau khi được nghe những lời tâm sự kia, tôi cảm thấy giận dữ khôn nguôi khi thấy nàng nhẫn nhục như vậy và gần như thành nô lệ dưới chế độ độc tài đáng căm phẫn của tên lừa đảo nọ. Ấy nhưng một lúc sau, em trai Papiano xuất hiện trên ban công, thể như một cái bóng.

– Hắn kia, – cô Caporale nhỏ tiếng với Adriana.

Nàng nhắm hờ đôi mắt, cười cay đắng. Nàng lắc đầu và thu mình khỏi ban công. Nàng bảo tôi:

– Xin lỗi, ngài Meis. Chúc buổi tối tốt lành!

– Tên gián điệp, – cô Caporale nháy mắt, thì thầm với tôi.

– Tiểu thư Adriana sợ gì cơ chứ? – Tôi buột miệng, giữa sự bực bội tăng tiến. – Chẳng nhẽ cô ấy không hiểu rằng nếu cứ thế này, cô ấy sẽ khiến cho hắn càng thêm kiêu ngạo và làm cho ách thống trị của hắn trở nên tồi tệ thêm sao? Nghe này, thưa quý cô, tôi thú nhận rằng tôi luôn vô cùng ghen tị với tất cả những ai biết trân quý và hưởng thụ cuộc sống, tôi ngưỡng mộ họ. Giữa những kẻ đầu hàng làm thân phận tôi tớ và những kẻ biết nắm lấy cơ hội làm chủ, ngay cả với lòng kiêu ngạo, thì lòng cảm thông của tôi nghiêng về những kẻ này.

Cô Caporale nhận ra lòng nhiệt thành trong lời tôi nói và, cố ý thách thức, cô bảo:

– Vậy tại sao trước tiên chính ngài không thử nổi loạn?

– Tôi?

– Ngài, chính ngài, – cô khẳng định, châm biếm nhìn thẳng vào mắt tôi.

– Nhưng tôi thì liên quan gì? – Tôi hỏi lại. – Tôi chỉ có thể nổi loạn bằng một cách duy nhất: đó là đi khỏi đây.

– Ừm, – cô Caporale hậm hực kết luận, – có thể đó chính là điều mà Adriana chẳng muốn.

– Chuyện tôi đi khỏi đây?

Cô xoay xoay chiếc khăn tay rách trong không trung rồi cuộn nó lại một ngón tay và thở dài:

– Ai biết được!

Tôi nhún vai.

– Ăn tối! Ăn tối! – Tôi thốt lên; rồi tôi mặc cô đứng trân trân trên ban công.

Tôi bắt đầu nổi loạn ngay từ tối hôm ấy. Trong lúc đi ngang qua hành lang, tôi dừng lại trước chiếc hòm, nơi Scipione Papiano đã quay trở lại co mình phía trên, và rồi:

– Xin lỗi, – tôi bảo cậu ta, – ngài không thể ngồi chỗ nào khác thoải mái hơn sao? Ngài ngồi đây ngáng đường tôi quá thể.

Cậu ta ngờ nghệch nhìn tôi, đôi mắt trống rỗng, chẳng cử động.

– Ngài có hiểu không? – Tôi lắc lắc cánh tay cậu ta mà nạt nộ.

Cứ như thể tôi đang nói chuyện với bức tường vậy! Lúc ấy cánh cửa phía cuối hành lang mở ra, và Adriana xuất hiện.

– Cầu xin tiểu thư, – tôi bảo nàng, – làm ơn hãy giúp tôi chuyển lời cho anh chàng tội nghiệp này rằng anh ta có thể ra chỗ khác ngồi hay không.

– Cậu ấy bị bệnh, – Adriana cố xin lỗi thay cậu ta.

– Tất nhiên là cậu ấy bị bệnh rồi! – Tôi phản bác. – Ở đây không ổn: cậu ấy thiếu không khí… và rồi, ngồi trên chiếc hòm… Hay tiểu thư muốn tôi nói với anh cậu ấy?

– Không, không, – nàng vội đáp lời tôi. – Tôi sẽ nói với anh ấy, xin ngài chớ lo ngại.

– Có lẽ tiểu thư sẽ hiểu, – tôi nói thêm. – Tôi vẫn chưa phải là vua, để có một chàng cận vệ canh cửa.

Từ đêm ấy trở đi, tôi đánh mất khả năng làm chủ bản thân.

Tôi công khai cạy mở cánh cửa rụt rè của Adriana. Chẳng nghĩ ngợi gì thêm, tôi nhắm mắt và thả mình cho những xúc cảm của bản thân.

Cô chủ nhà đáng mến tội nghiệp! Mới đầu trông nàng như bị giằng xé giữa hai thứ, sự sợ hãi và niềm hy vọng. Đoán định rằng giận dữ là nguồn cơn cho sự thay đổi của tôi, nàng chẳng dám hy vọng tơ tưởng gì. Nhưng mặt khác, tôi cảm thấy rằng nàng sợ hãi âu cũng vì niềm hy vọng mà cho tới thời điểm ấy vẫn thầm kín và gần như vô thức. Nàng hy vọng không đánh mất tôi. Và vậy nên, trong khi tôi vẫn nuôi nấng niềm hy vọng của nàng bằng vẻ cương quyết mới mẻ, nàng chẳng dám đầu hàng tất cả cho sự sợ hãi.

Cái vẻ bối rối tế nhị, thận trọng khéo léo của nàng đã ngăn tôi không thể ngay lập tức đối diện với bản thân mình và ngày càng dấn sâu hơn vào cái thách thức ngầm với Papiano.

Tôi đã chờ đợi hắn sẽ đứng trước mặt tôi ngay ngày hôm sau, rũ bỏ những lời khen và vẻ hào nhoáng thường nhật. Thay vào đó, không có gì xảy ra. Hắn chuyển cậu em đi khỏi vị trí canh gác, khỏi chiếc hòm, như tôi mong muốn, thậm chí hắn còn cười cợt cái vẻ đểnh đoảng và lơ đễnh của Adriana trước mặt tôi.

– Xin ngài hãy thông cảm, ngài Meis: cô em vợ bé bỏng của tôi ngượng ngùng như thể một nữ tu vậy.

Cái vẻ khuất phục không mong đợi, rất đỗi thoải mái của hắn khiến tôi phải nghĩ. Hắn đang nhắm tới thứ gì?

Một tối, tôi thấy hắn trở về nhà với một kẻ vừa bước vừa dộng mạnh cây ba toong xuống nền nhà, cứ như thể tên này muốn được nghe tiếng bước đi của mình, trong khi chân xỏ một đôi giày vải không gây ra tiếng động.

- Dôva ca l’è stô me car parent? (Người họ hàng của tôi đâu rồi?) – Hắn bắt đầu gào lên với chất giọng Torino đặc sệt. Hắn chẳng thèm bỏ cái mũ vành vểnh, trùm xuống gần tới đôi mắt ti hí, mờ mịt vì rượu, cũng chẳng thèm bỏ cả cái tẩu ngậm trên miệng, cái tẩu cứ như thể đang hun chiếc mũi hắn đỏ dừ hơn cả mũi cô Caporale. - Dôva ca l’è stô me car parent? (Người họ hàng của tôi đâu rồi?)

– Ông ấy đây, – Papiano chỉ vào tôi và nói. Rồi hắn quay sang tôi: – Ngài Adriano, một sự bất ngờ đáng quý! Ngài Francesco Meis, người Torino, họ hàng của ngài.

– Họ hàng của tôi! – Tôi nghệt người cảm thán.

Tên kia nhắm mắt, chìa một bàn tay thể như một con gấu và giữ nó lơ lửng trong phút chốc, chờ tôi nắm lấy.

Tôi mặc kệ hắn ở đó với cái điệu bộ kia. Tôi đánh giá hắn một chút, rồi hỏi:

– Trò hề gì thế này?

– Không, xin lỗi ngài, tại sao cơ chứ? – Terenzio Papiano lên tiếng. – Ngài Francesco Meis đã khẳng định với tôi rằng ngài ấy là…

- Cusin, - tên kia cao giọng, mắt vẫn nhắm tịt. – Tut i Meis i sôma parent. (Anh họ, tất cả những người họ Meis chúng tôi đều là họ hàng.)

– Nhưng tôi đâu có cái vinh hạnh được quen biết ngài! – Tôi phản đối.

- Oh ma côsta ca l’è bela! - Tên kia thốt lên. – L’è propi për lon che mi’t sôn vnú a trôvè. (Ôi chuyện này mới thú vị làm sao! Đây chính là lý do tại sao tôi đến tìm cậu đấy.)

– Meis? Người Torino? – Tôi hỏi, vờ như lục lại trí nhớ. – Nhưng tôi đâu phải người Torino!

– Gì cơ! Xin lỗi, – Papiano chen ngang. – Chẳng phải ngài kể với tôi rằng ngài sống ở Torino cho tới năm mười tuổi hay sao?

– Đúng vậy! – Tên kia tiếp lời, khó chịu vì có người dám nghi ngờ điều mà hắn vô cùng chắc chắn. – Cusin, cusin! Anh họ! Anh họ! Quý ngài đây… ngài tên gì nhỉ?

– Terenzio Papiano, hân hạnh được phục vụ ngài!

– Ngài Terenzio: a l’à dime che to pare a l’è andàit an America: cosa ch’a veut di’ lon? a veul di’ che ti t’ ses fieul ‘d barba Antôni ca l’è andàit ‘ntla America. E nui sôma cusin. (Ngài ấy đã kể với tôi rằng bố cậu đã đến châu Mỹ: chuyện này có nghĩa là gì? Có nghĩa là cậu là con chú Antonio râu ria, người đã đến châu Mỹ. Và chúng ta là anh em họ.)

– Nhưng bố tôi tên Paolo…

- Antôni!

– Paolo, Paolo, Paolo. Chẳng nhẽ ngài biết rõ hơn tôi hay sao?

Tên kia nhún vai và nhoẻn miệng cười:

- A m’smiava Antôni, - hắn vừa nói vừa gãi gãi chiếc cằm lởm chởm những râu ít nhất bốn ngày chưa cạo, gần như bạc trắng. – ‘I veui nen côtradite: sarà prô Paôlo. I ricordo nen ben, perché mi’ i l’hai nen conôssulo. Tôi cứ tưởng là Antonio, tôi sẽ không phản bác lại cậu: hẳn chính là chú Paolo. Tôi chẳng nhớ rõ, bởi tôi chưa gặp chú bao giờ.)

Người đàn ông tội nghiệp! Hắn phải biết chắc chắn hơn tôi về tên của ông chú đã đến châu Mỹ kia; thế nhưng hắn đầu hàng, bởi bằng bất cứ giá nào hắn cũng muốn làm họ hàng với tôi. Hắn kể cho tôi nghe rằng bố hắn, cũng tên Francesco giống hắn, là anh trai của ông Antonio… hay của ông Paolo, bố tôi, người đã từng đi khỏi Torino, khi hắn ta ancor masnà, còn tấm bé, mới bảy tuổi, và rằng -thân là một nhân viên quèn – hắn đã luôn sống xa gia đình, chỗ này một lúc, chỗ kia một lúc. Vậy nên hắn chẳng biết gì nhiều về họ hàng nhà mình, cả nội lẫn ngoại: tuy nhiên, hắn chắc chắn, vô cùng chắc chắn rằng hắn là anh họ tôi.

Nhưng ông nội, ít nhất là ông nội, hắn có biết ông không? Tôi hỏi hắn về ông. Vâng: hắn có gặp ông, nhưng không nhớ chính xác là ở Pavia hay Piacenza.

– À vậy hả? Ngài đã gặp ông? Vậy trông ông thế nào?

Ông ấy… hắn chẳng nhớ chút gì về ông ấy, franc nen, hoàn toàn không.

- A sôn passa trant’ani. (Ba mươi năm đã trôi qua rồi.)

Trông hắn tuyệt nhiên chẳng có ý xấu. Hắn có vẻ là một tên đốn mạt đã nhấn chìm linh hồn mình trong rượu, cốt để trốn tránh sức nặng của cuộc đời nhàm chán và thảm hại. Hắn nhắm mắt và gật đầu, đồng ý tất thảy những điều tôi tung ra cho hắn chiêm ngưỡng. Tôi chắc rằng ngay cả khi tôi có nói rằng ngày bé chúng tôi đã lớn lên cùng nhau và có vài lần tôi đã giật lấy mũ của hắn, thì hẳn hắn cũng sẽ bằng lòng chấp thuận. Chỉ có một điều tôi không được nghi ngờ, rằng chúng tôi là anh em họ: về điều này hắn không nhân nhượng: bấy giờ hắn đã chắc chắn, chúng tôi đã nhận được nhau, vậy là đủ.

Thế nhưng, được một lúc, khi quan sát Papiano và trông thấy hắn vui mừng, tôi chẳng còn hứng mà cợt nhả. Tôi đuổi cái người đàn ông tội nghiệp nửa phần say xỉn kia đi: – Chào anh họ thân mến! - Và tôi hỏi Papiano, mặt đối mặt, để cho hắn hiểu rõ rằng tôi không phải miếng mồi dễ xơi.

– Giờ thì ngài hãy nói xem ngài đã khai quật được người đàn ông kì dị đó ở đâu ra vậy.

– Ngàn lần xin lỗi, ngài Adriano! – Tên lừa đảo kia bắt đầu nói, trong khi tôi chẳng thể nào mà không công nhận sự tài hoa của hắn. – Tôi nhận ra mình thực bất hạnh…

– Nhưng ngài rất đỗi hạnh phúc, luôn luôn như vậy! – Tôi cảm thán.

– Không, ý tôi là: bất hạnh vì đã không làm ngài hài lòng. Nhưng xin ngài hãy tin đó chỉ là một sự trùng hợp. Đây: sáng nay tôi phải đến Bưu điện vì công việc của ngài Hầu tước, ông chủ tôi. Trong khi tôi đương ở đó, tôi nghe tiếng có ai gọi lớn: “Ngài Meis! Ngài Meis!” Tôi lập tức ngoảnh mặt lại, tin là ngài cũng ở đó vì một việc gì cụ thể. Ai biết được, nhỡ đâu ngài cần tôi. Tôi xin nhắc lại, tôi luôn sẵn sàng phục vụ ngài. Nhưng hỡi ôi! Họ gọi người đàn ông kỳ dị này, như ngài đã rất công bình mà nhận xét. Và thế là, trong tình cảnh ấy… vì tò mò, tôi tới gần và hỏi lão xem có phải đích thực lão họ Meis và lão là người ở đâu, bởi tôi cũng có vinh dự và vinh hạnh được tiếp đón một ngài Meis ở nhà… Mọi sự như vậy đấy! Lão đã khẳng định với tôi rằng ngài hẳn phải là họ hàng với lão, và lão muốn tới làm quen với ngài…

– Ngài gặp lão ở Bưu điện?

– Vâng thưa ngài, lão là nhân viên ở đó: nhân viên hỗ trợ kiêm bưu tá.

Tôi phải tin vậy sao? Tôi muốn tìm hiểu rõ. Và sự thực đúng là như vậy, vâng. Nhưng cũng thực là trong khi tôi những muốn mặt đối mặt với hắn, để phản biện lại ngay tức thì những trò lừa lọc kín kẽ của hắn, thì Papiano chẳng tỏ ra nghi ngờ. Hắn lảng tránh tôi, lảng tránh tôi để đi sâu vào quá khứ của tôi và bất ngờ đánh úp tôi từ sau lưng. Khi đã hiểu rõ con người hắn, tôi có quá nhiều lý do để sợ rằng với cái khứu giác nhanh nhạy kia, hắn là một con chó săn mà tôi không nên đùa dai. Sẽ thực rắc rối nếu hắn đánh hơi ra dấu vết dù chỉ là nhỏ nhất: chắc hẳn hắn sẽ theo về đến cái cối xay ở Lồng gà.

Vậy nên sự sợ hãi của tôi là có cơ sở, khi mà, vẫn ở đó, vài ngày sau, trong khi tôi đương ở trong phòng đọc sách, một giọng người vọng tới từ hành lang, như thể từ thế giới bên kia, một giọng người vẫn còn sống động trong tâm trí tôi.

- Agradecio Dio, antes, che me la son levada de sobre! (ơn Chúa trước nhất, vì tôi đã thoát khỏi nó rồi!)

Lão Tây Ban Nha? Cái lão Tây Ban Nha lùn tịt béo ị với bộ râu bự chảng ở Monte Carlo của tôi? Kẻ đã muốn cùng chơi với tôi và kẻ mà tôi đã nổ trận cãi vã ở Nice?… Ôi, Chúa ơi! Dấu vết đây! Papiano đã đánh hơi ra rồi!

Tôi bật dậy, một tay dựa vào bàn khỏi ngã, bỗng nhiên mụ mị đau đớn. Ngỡ ngàng, gần như kinh hãi, tôi lắng tai, định sẵn ý tưởng kíp trốn chạy khỏi hai kẻ ấy – Papiano và lão Tây Ban Nha (là lão, chẳng còn nghi ngờ gì nữa: tôi đã thấy lão trong giọng nói kia) – hai kẻ đó đã đi ngang qua hành lang rồi. Trốn chạy? Nhỡ lúc đi vào, Papiano đã hỏi bà hầu xem tôi có nhà hay không thì sao? Hắn sẽ nghĩ gì khi tôi bỏ chạy? Nhưng mặt khác, nếu hắn đã biết tôi không phải là Adriano Meis thì sao? Papiano! Lão Tây Ban Nha đó có thể biết gì về tôi? Lão đã gặp tôi ở Monte Carlo. Khi ấy, tôi đã nói với lão rằng tôi tên là Mattia Pascal hay sao? Có thể! Tôi chẳng nhớ…

Tôi bỗng thấy mình trước gương, trong khi bản thân chẳng biết gì, cứ như thể có ai đã cầm tay tôi dẫn dắt vậy. Tôi ngắm nghía bản thân mình. Ôi cái con mắt đáng nguyền rủa kia! Có thể vì nó mà lão sẽ nhận ra tôi. Nhưng làm thế nào, làm thế nào mà Papiano đã lần ra được tới đó, tới tận chuyến du ngoạn của tôi ở Monte Carlo? Điều này làm tôi ngỡ ngàng hơn thảy. Trong khi đó thì tôi phải làm gì? Chẳng gì cả. Tôi phải ở đó chờ xem những gì phải đến sẽ đến.

Chẳng có gì xảy đến cả. Nhưng nỗi sợ hãi trong tôi thậm chí chẳng biến mất, ngay cả trong buổi tối cùng ngày, khi Papiano giải thích cái bí ẩn của chuyến viếng thăm mà đối với tôi thực khó hiểu và tệ hại. Hắn đã tỏ cho tôi thấy rằng hắn hoàn toàn chẳng lần theo dấu vết trong quá khứ của tôi, mà chỉ là số phận, khi đã đôi lần ưu ái tôi, giờ lại muốn ưu ái tôi lần nữa khi dựng dậy trước tôi lão Tây Ban Nha kia. Mà có thể lão chẳng nhớ gì về tôi dù ít dù nhiều.

Theo những gì Papiano kể lại với tôi về lão, thì khi du ngoạn tới Monte Carlo, tôi chẳng thể nào mà không gặp lão, bởi lão vốn là một con bạc chuyên nghiệp. Thực lạ lùng khi gặp lão ở Roma, hay lạ lùng hơn rằng khi tới Roma, tôi lại vào đúng nhà mà lão cũng có thể vào. Nếu tôi chẳng có gì phải sợ, thì chắc chắn trường hợp này đối với tôi đã chẳng lạ lùng đến thế: đã bao lần chúng ta gặp phải kẻ mà ta đã tình cờ quen biết ở đâu đó? Mặt khác, lão ấy có lý do hoặc tin rằng bản thân có lý do chính đáng để tới Roma và tới nhà Papiano. Lỗi là do tôi, hay do số phận đã run rủi khiến tôi cạo sạch bộ râu và đổi tên.

Khoảng hai mươi năm về trước, Hầu tước Giglio d’Auletta, người nhận Papiano làm thư ký, đã gả con gái duy nhất của ông cho don Antonio Pantogada, tùy viên của Đại sứ quán Tây Ban Nha tại Tòa Thánh Vatican. Sau đám cưới ít lâu, khi cảnh sát phát hiện lão Pantogada trong một sòng bạc cùng vài kẻ trong giới quý tộc Roma, lão đã bị triệu hồi về Madrid. Ở đó, lão đã làm những chuyện sa đọa tiếp sau, thậm chí có thể tồi tệ hơn nữa, vậy nên rốt cục lão bị ép phải từ bỏ ngành ngoại giao. Từ ấy trở đi, Hầu tước d’Auletta chẳng còn được bình yên, buộc phải liên tục gửi tiền trả nợ cho ông con rể hết thuốc chữa. Bốn năm trước, vợ lão Pantogada mất, để lại một đứa con gái nhỏ chừng mười sáu tuổi. Ngài Hầu tước đã giữ cô bé bên mình khi biết rõ nếu không làm vậy thì cô bé sẽ rơi vào tay ai. Lão Pantogada không muốn để cô bé chạy thoát; nhưng rồi, vì cần gấp một khoản tiền, lão từ bỏ. Giờ lão liên tục dọa dẫm ông bố vợ rằng lão sẽ giành lại cô con gái, và chính ngày hôm ấy lão đã đến Roma với ý định này, để bòn rút thêm tiền từ ngài Hầu tước tội nghiệp, khi bản thân lão biết rõ rằng ngài Hầu tước chưa bao giờ và sẽ không bao giờ bỏ mặc cô cháu gái Pépita thương mến vào tay lão.

Hắn đã cất những lời đanh thép, chính hắn, Papiano, để sỉ vả hành vi tống tiền đáng hổ thẹn của lão Pantogada. Và cơn giận dữ cuồng nhiệt của hắn là thực tâm. Trong lúc hắn nói, tôi không khỏi ngưỡng mộ cái lương tâm được kết cấu khác thường của hắn. Có thể hắn thực lòng phẫn nộ trước những trò suy đồi của kẻ khác, nhưng lương tâm hắn cũng cho phép hắn bình thản làm chính những trò tương tự hay gần như thế, gây tổn hại đến ông Paleari tốt bụng, bố vợ hắn.

Lần này Hầu tước Giglio không nhân nhượng. Vậy nên hẳn nhiên lão Pantogada sẽ lưu lại Roma một thời gian và chắc chắn lão sẽ đến nhà Terenzio Papiano, hai người hẳn phải hiểu nhau rất rõ. Vậy là một cuộc chạm trán giữa tôi và lão Tây Ban Nha kia sẽ là không thể tránh khỏi, ngày này hay ngày khác. Tôi phải làm gì đây?

Chẳng thể hỏi ai, tôi lại một lần đi tìm lời khuyên trong gương. Trên mặt kính, tôi thấy hình ảnh của Mattia Pascal quá cố hiện lên lơ lửng, như thể thẳm sâu dưới lòng kênh, với con mắt kia là thứ duy nhất của anh ta còn sót lại trong tôi. Thế rồi anh ta nói với tôi:

“Anh đã đẩy mình vào mớ rắc rối gì thế này, hỡi Adriano Meis! Anh sợ Papiano, thú nhận đi! Và anh muốn đổ lỗi cho tôi, lại là tôi, vì ở Nice tôi đã cãi vã với lão Tây Ban Nha. Thế nhưng tôi có lý, và anh biết điều đó. Anh tưởng rằng bây giờ xóa sạch mọi dấu vết của tôi trong anh là đủ hay sao? Được thôi, nghe theo lời khuyên của cô Caporale mà gọi bác sĩ Ambrosini đi, để ông ấy chỉnh mắt cho anh. Rồi… anh sẽ thấy!”

1. Sophocles (497/67-406/5? TCN): một trong ba bi kịch gia lớn nhất Hy Lạp cổ đại.

2. Vở kịch của Sophocles, chưa rõ năm sáng tác. Nội dung: Cha của Orestes là Agamemnon trở về từ cuộc chiến thành Troy và bị tình nhân của vợ mình là Aegisthus sát hại. Chị gái của Orestes là Electra đã gửi chàng cho Strophius ở Phocis. Bảy năm sau, Orestes trở về báo thù cho cha mình.

3. Hamlet: nhân vật chính trong một vở kịch cùng tên của đại thi hào William Shakespear (1564 – 1616), đã ngã lòng không giết kẻ thù là ông chú Claudius khi có cơ hội.

4. Rea Silvia: nhân vật trong thần thoại La Mã, mẹ của Romulus và Remus, hai vị anh hùng sáng lập nên thành phố Roma.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Luigi Pirandello

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.