Mattia Pascal Quá Cố

Lượt đọc: 56 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7
CHÚT SƯƠNG MÙ

❊ ❊ ❊

Dấu mùa đông đầu tiên kia có rét mướt rải chút sương mù, tôi cũng gần như chẳng nhận ra giữa những chuyến du ngoạn nhàn rỗi và sự tự do mới mẻ đầy say mê của mình. Bây giờ, mùa đông thứ hai ập đến bất ngờ với cái thằng tôi đang mệt mỏi vì cứ phải lang thang, như tôi đã kể ở trên, và buộc tôi dừng bước. Tôi nhận ra rằng… vâng, trời giăng chút sương mù lành lạnh. Và tôi ngộ thấy dù cho tâm hồn mình có phản kháng tiết trời kia đến thế nào đi chăng nữa, rốt cục nó vẫn phải nhận thua.

“Nhưng hãy cứ nhìn xem,” tôi tự mắng mình, “rồi mây mù sẽ tan đi để mình có thể yên bình hưởng thụ sự tự do!”

Tôi đã vui chơi kha khá, chạy khắp chỗ này chỗ kia: năm ấy Adriano Meis đã có tuổi trẻ vô lo vô nghĩ của anh. Giờ anh cần trở thành một người đàn ông, phải chín chắn, phải khoác lên mình vỏ bọc của một cuộc sống đạm bạc khiêm nhường. Ôi, điều ấy đối với anh sẽ dễ dàng làm sao, anh, một người tự do và chẳng chút vướng bận!

Có lẽ là vậy. Tôi bắt đầu suy tính xem cư trú ở thành phố nào sẽ hợp lý, bởi như một chú chim không tổ, nếu muốn có được sự tồn tại như bao người khác, tôi chỉ có thể hạ cánh. Nhưng đâu mới được? Một thành phố lớn hay nhỏ? Tôi chẳng thể nào tự quyết định.

Tôi nhắm mắt và bay lượn trong tâm tưởng qua những thành phố mà tôi đã từng ghé chân. Từ thành phố này sang thành phố khác, tôi ngừng lại từng nơi để có thể một lần nữa nhìn ra chính xác con đường ấy, Quảng trường ấy, khu vực ấy, nói chung là tất cả những thứ tôi còn lưu lại rõ ràng nhất trong tâm trí, rồi tôi tự nhủ:

“Đó, mình đã từng đi qua những nơi ấy mà! Mình đã ghé thăm biết bao cảnh vật mà chẳng mảy may để ý, và đây đó chúng vẫn hiện lên sống động. Ở bao nhiêu nơi mình từng tự nhủ: ‘Mình muốn có một căn nhà ở đây! Mình sẵn sàng sống ở đây!’ Và mình đã ghen tị với người dân bản xứ, bình lặng trong những thói quen và công việc thường nhật. Họ có thể sống ở đó mà chẳng biết đến cảm giác vô định đau thương đương đè chặt tâm hồn của những kẻ xa xứ.”

Cảm giác vô định đau thương ấy níu giữ tâm hồn tôi, chẳng cho tôi được yêu chiếc giường nơi tôi ngả lưng hay những sự vật xung quanh mình.

Mỗi sự vật đều hiện lên với chúng ta một cách khác biệt, dựa theo những hình ảnh mà nó thu thập từ môi trường xung quanh mà khơi gợi lên trong ta. Tuy nhiên, một sự vật nào đó cũng có thể tự thân nó gây hứng thú nhờ những cung bậc cảm xúc đa dạng và dễ chịu mà nó khiến ta cảm nhận sau một cái nhìn tổng quan hài hòa. Ấy vậy nhưng thường thường, cảm giác hứng thú mà một sự vật gây ra cho ta lại chẳng tồn tại trong một sự vật tương đồng khác. Trí tưởng tượng của ta tô hồng và gần như khoác lên nó ánh hào quang của những hình ảnh gần gũi với bản thân. Vậy là ta nhận thức sự vật ấy không còn là chính nó, mà tựa hồ như một thực thể chứa đầy sinh khí của những hình ảnh mà nó gợi lên trong tâm trí ta hoặc gắn liền với những thói quen của ta. Tựu trung lại, trong sự vật kia, ta chỉ yêu những thứ mà ta gắn cho nó, sự đồng thuận, hài hòa mà ta thiết lập giữa nó và bản thân ta, tâm hồn của nó dành riêng cho ta và được dựng lên từ những ký ức của chính bản thân ta.

Nhưng bây giờ, trong một căn phòng khách sạn, làm thế nào tôi có thể cảm nhận được tất cả những điều ấy cho được?

Liệu tôi còn có thể có được một căn nhà, một căn nhà của tôi, hoàn toàn của tôi? Số tiền của tôi thật còm cõi… Nhưng một căn nhà nhỏ khiêm nhường, chỉ vài phòng thì sao? Bình tĩnh: trước tiên phải xem xét, phải tỉ mỉ cân nhắc tất cả mọi việc. Chắc chắn là khi đã tự do, vô cùng tự do, tôi chỉ có thể sống nay đây mai đó với chiếc va li trên tay. Tôi dừng lại ở một nơi, mua một ngôi nhà, ừm, rồi thì: đăng ký và nộp thuế ngay! Liệu họ có bắt tôi đăng ký hộ tịch hay không? Chắc chắn rồi! Nhưng tôi sẽ làm thế nào? Với một cái tên giả? Rồi sao, ai mà biết được? Có thể cảnh sát sẽ bí mật điều tra tôi… Tôi sẽ bị quy tội giả mạo, lừa đảo!… Không, quên đi: tôi đã tiên liệu rằng mình sẽ không có nhà, không có đồ đạc cá nhân. Nhưng tôi có thể lui về sống với một gia đình nào đó, trong một căn phòng đầy đủ tiện nghi. Có chăng tôi lại phải đau đầu vì một vấn đề nhỏ nhặt đến thế?

Mùa đông, chính mùa đông khiến tôi có những suy nghĩ sầu thảm này. Lễ Giáng sinh sắp tới khiến tôi đau đáu hướng về một góc ấm cúng, một ngôi nhà thân thương nơi người thân tụ họp.

Nhưng chắc chắn tôi chẳng tiếc rẻ gì ngôi nhà của mình cả. Còn ngôi nhà cũ hơn, ngôi nhà của bố tôi, ngôi nhà duy nhất mà tôi có thể tiếc nuối trong nỗi nhớ thương, ngôi nhà ấy đã bị phá vụn thành từng mảnh mà lý do chẳng liên quan tới cái tình trạng đã thay đổi của tôi. Vậy nên khi nghĩ về nỗi bất hạnh nếu tôi về Miragno mà gặp vợ và mẹ vợ – (rùng rợn làm sao) – rồi dành kỳ Giáng sinh ở đó, tôi buộc phải hài lòng.

Để tự chọc cười mà không phải vướng bận nữa, tôi tưởng tượng ra mình với một chiếc panettone1 thơm lừng trên tay, đương đứng trước cửa nhà.

“Cho hỏi? Hai quý bà Romilda Pescatore, góa phụ nhà Pascal và Marianna Dondi, góa phụ nhà Pescatore còn ở đây không?”

“Còn, thưa ngài. Nhưng ngài là ai?”

“Tôi là người chồng quá cố của quý bà Pascal, người đàn ông ga lăng tội nghiệp đã chết đuối năm kia. Tôi đây, từ thế giới bên kia nhanh nhanh chóng chóng trở về để dự lễ cùng gia đình, với sự cho phép của người cõi trên. Tôi sẽ sớm rời đi thôi!”

Gặp lại tôi bất ngờ đến vậy, liệu mụ góa Pescatore có chết vì kinh hãi hay không? Gì cơ! Mụ á? Mơ đi! Chỉ sau hai ngày, mụ sẽ bức tôi chết thêm lần nữa.

Tôi phải tự nhủ rằng sự may mắn của bản thân chỉ gói gọn trong một điều: rằng tôi được giải thoát khỏi vợ, mẹ vợ, nợ nần, những nỗi muộn phiền tủi hổ của cuộc đời đầu tiên. Bây giờ, tôi chẳng vướng bận điều gì. Như vậy với tôi vẫn chưa đủ hay sao? Thôi nào, tôi còn cả một cuộc đời phía trước. Còn bây giờ thì… ai biết được có bao nhiêu kẻ cô độc giống tôi!

“Đúng vậy, nhưng những kẻ này,” tiết trời âm u, màn sương mù đáng nguyền rủa kia khiến tôi phải nghĩ, “đều là những kẻ tha hương và họ có một căn nhà đâu đó, nơi mà một ngày kia bọn họ sẽ trở về. Hoặc giả bọn họ không có nhà cũng như anh, thì ngày mai họ có thể có lấy một căn, và trong khi đó họ sẽ được một người bạn hiếu khách nào đó dang tay cứu giúp. Còn anh, nói trắng ra, anh sẽ luôn luôn là một kẻ lang thang khắp chốn: đó chính là sự khác biệt. Kẻ lang thang trọn kiếp, Adriano Meis.”

Tôi cựa mình khó chịu mà thốt lên:

– Cũng được thôi! Càng ít rắc rối. Không bạn bè ư? Mình có thể có chứ…

Ngay ở nhà hàng mà tôi thường dùng bữa mấy ngày qua, có một quý ông hay ngồi gần bàn tôi đã tỏ ra hứng thú muốn được kết bạn với tôi. Ông chừng ngoại tứ tuần: đầu hói quá nửa, tóc nâu, cặp kính vàng chẳng chịu yên trên sống mũi, có chăng do sức nặng của sợi dây kính cũng bằng vàng. Ôi, người đàn ông nhỏ bé này mới dễ thương làm sao! Ông ấy nhỏ bé tới mức khi đứng dậy khỏi ghế và đặt mũ lên đầu, trông ông như một người khác: như thể một đứa trẻ vậy. Khuyết điểm của ông nằm ở đôi chân ngắn cũn cỡn, thậm chí chẳng chạm đất khi ông ngồi. Ông chẳng thể đứng dậy một cách nghiêm chỉnh mà gần như trượt xuống khỏi ghế. Ông tìm ra cách khắc phục khuyết điểm bằng đôi giày cao gót. Có gì xấu đâu? Vâng, đôi gót gây nhiều tiếng động; thế nhưng chúng tạo cho những bước đi ngắt quãng hệt như chim đa đa của ông ấy cái nét duyên dáng đế vương.

Ông rất tài ba và khôn ngoan – có lẽ có đôi chút hâm hâm và thất thường – với những cách nhìn nhận chỉ của riêng ông; rồi ông còn là một Hiệp sĩ nữa.

Ông ấy đã đưa cho tôi tấm danh thiếp: – Hiệp sĩ Tito Lenzi.

Nói về danh thiếp, trong thoáng chốc tôi lại có một lý do để không hài lòng bởi cái hình tượng xấu xí mà có vẻ tôi đã trưng ra khi chẳng thể trao đổi với ông một tấm danh thiếp. Tôi vẫn chưa có danh thiếp: tôi thấy do dự về việc in danh thiếp với cái tên mới. Khốn khổ! Người ta không thể sống thiếu danh thiếp hay sao? Chỉ cần nói tên ra, thế thôi.

Tôi đã làm vậy; nhưng, thú thực, tôi đã nói tên thật của mình… Vậy thôi!

Ngài Hiệp sĩ Tito Lenzi thật biết cách nói chuyện làm sao! Ông ấy thạo tiếng Latin; ông trích dẫn Cicero2 như không vậy.

– Nhận thức ư? Nhưng người ta đâu cần nhận thức, thưa ngài! Nhận thức, như một người đưa đường, đối với con người ta chẳng thể nào là đủ được. Có thể sẽ đủ nếu nó là một tòa thành khép kín chứ không phải một Quảng trường rộng mở, ví dụ vậy. Nó có thể đủ nếu chúng ta coi bản thân mình tách biệt hoàn toàn với mọi thứ, và nhận thức của chúng ta, về mặt bản chất, không rộng mở đối với những kẻ khác. Tựu trung là theo tôi, trong nhận thức có tồn tại một mối quan hệ mật thiết… hẳn rồi, một mối quan hệ mật thiết giữa người suy nghĩ là tôi và những vật thể khác mà tôi nghĩ tới. Vậy thì nhận thức chẳng phải là một thể tuyệt đối và đầy đủ đối với con người ta được, ngài có hiểu không? Khi những cảm xúc, khuynh hướng hay thị hiếu của những kẻ mà tôi hoặc ngài nghĩ đến không ảnh hưởng đến tôi hay đến ngài, chúng ta sẽ chẳng thể nào thỏa mãn, an lòng hay vui vẻ được. Nói trắng ra thì tất cả chúng ta đều đương đấu tranh để những cảm xúc của chính mình, những suy nghĩ, khuynh hướng hay thị hiếu của chúng ta có thể phản chiếu lên nhận thức của kẻ khác. Và nếu điều này chẳng xảy ra thì, bởi vì… có thể nói thế này, không khí trong thời khắc ấy đã chẳng đưa đẩy rồi làm nảy nở những hạt giống, thưa quý ngài,… những hạt giống ý tưởng của ngài trong tâm trí kẻ khác. Vậy thì ngài chẳng thể nào nói rằng chỉ có nhận thức không đã là đầy đủ. Đủ để làm việc gì? Để ngài sống một mình ư? Để héo mòn trong bóng tối? Thôi đi! Nghe này; tôi ghét hùng biện, cái trò giả dối lừa lọc cũ rích, những con cú với đôi mắt kính. Hùng biện, tôi chắc chắn, đã ưỡn ngực tự hào mà cho ra đời câu nói hoa mỹ này: “Tôi có nhận thức của tôi và vậy là đủ”. Thì đó! Cicero trước đây từng nói: Mea mihi conscientia pluris est quam hominum sermo - Nhận thức của tôi quan trọng hơn mọi lời nói. Nhưng Cicero, nói thực thì, khả năng hùng biện của lão ta, khả năng hùng biện… xin Chúa cứu rỗi, thưa ngài! Lão ta còn nhàm chán hơn cả một tên chơi đàn violin nghiệp dư!

Tôi đã định hôn ông ấy nếu người đàn ông bé nhỏ của tôi tiếp tục kéo dài cái cuộc đối thoại dí dỏm sâu sắc mà tôi đã lấy ví dụ kia, nhưng ông bắt đầu đi vào những chuyện riêng tư hơn. Vậy là, đương tin tưởng rằng tình bạn của chúng tôi có thể manh nha dễ dàng làm sao, tôi bỗng thấy trở ngại, thấy trong mình có một thế lực nào đó buộc tôi phải né tránh, phải rút lui. Khi ông ấy nói và cuộc hội thoại xoay quanh những chủ đề mơ hồ, mọi chuyện vẫn ổn. Nhưng giờ Hiệp sĩ Tito Lenzi muốn tôi bộc bạch.

– Ngài không phải người Milano, đúng không?

– Không…

– Ngài đi ngang qua đây?

– Vâng…

– Milano đẹp nhỉ?

– Đẹp, hẳn rồi…

Tôi cứ như một con vẹt đã thuần dưỡng. Những câu hỏi của ông ấy càng lao tới, tôi cùng với những câu trả lời của mình càng lùi xa. Chẳng mấy chốc đã nói đến châu Mỹ. Khi người đàn ông bé nhỏ kia biết tôi sinh ra ở Argentina, ông bật dậy khỏi ghế, hồ hởi nắm lấy tay tôi:

– Ôi, tôi mừng cho ngài, quý ngài thân mến! Tôi ghen tị với ngài đấy! Ôi, châu Mỹ… Tôi đã từng tới đó.

Ông ấy đã từng tới đó? Hỏng bét!

– Trong trường hợp này, – tôi vội bảo ông, – chính tôi mới là người phải mừng cho ngài vì đã tới đó, bởi có thể nói rằng tôi chưa từng ở đó mặc dù tôi là người bản địa. Tôi đã rời đi khi mới được mấy tháng tuổi; vậy nên cũng khó có thể nói rằng tôi đã đặt chân lên đất Mỹ, vậy đấy!

– Tiếc thật! – Hiệp sĩ Tito Lenzi thốt lên vẻ tiếc rẻ. – Nhưng chắc hẳn ngài vẫn còn người thân ở đó, tôi nghĩ vậy!

– Không, không có ai cả…

– À, vậy thì ngài đã cùng gia đình tới Italia định cư? Ngài sống ở đâu?

Tôi nhún vai:

– À! – Tôi thận trọng hé một tiếng thở dài. – Chỗ này chỗ kia… Tôi chẳng có gia đình và… và tôi cứ đi.

– Thích thật! Ngài sướng thật đấy! Ngài cứ đi… Ngài không có bất kỳ một ai thân thích hay sao?

– Không một ai.

– Thích thật! Ngài sướng thật đấy! Tôi ghen tị với ngài!

– Vậy ngài có gia đình chứ? – Tới lượt tôi hỏi ông, cốt lèo lái cuộc hội thoại khỏi hướng về mình.

– À không, đáng tiếc là vậy! – Ông ấy thở dài, mặt nhăn nhó. – Tôi một mình và vốn đã luôn luôn một mình!

– Vậy cũng giống tôi!…

– Nhưng tôi chán ngấy rồi, quý ngài thân mến ơi! Chán ngấy rồi! – Người đàn ông bé nhỏ ấy giãy nảy. – Đối với tôi, sự cô độc… vâng, rốt cục thì tôi cũng đã chán ngấy nó rồi. Tôi có nhiều bạn; nhưng tin tôi đi, rằng đến một tầm tuổi nào đó, sẽ chẳng hay ho gì khi về nhà mà chẳng thấy ai cả. Ôi! Có người hiểu ra và có người không, quý ngài thân mến. Người hiểu ra thì đáng thương hơn, bởi rốt cục họ sẽ thấy mình chẳng còn chút năng lượng hay mong muốn gì nữa. Hay chính xác hơn, người hiểu ra sẽ nói: “Mình không được làm cái này, cũng không được làm cái kia, biết đâu mình sẽ làm điều gì xuẩn ngốc thì sao.” Tuyệt vời! Nhưng đến một lúc nào đó người ta nhận ra cả cuộc đời chỉ là một điều xuẩn ngốc, vậy thì ngài thử nói xem, một cuộc đời không phạm phải một điều xuẩn ngốc còn nghĩa lý gì: có nghĩa là ngài chưa bao giờ thực sự sống, thưa quý ngài thân mến.

– Nhưng ngài, – tôi những muốn an ủi ông, – ngài vẫn còn thời gian, may mắn thay…

– Còn thời gian để làm mấy trò xuẩn ngốc? Tôi làm nhiều rồi, ngài cứ tin vậy đi! – Ông ấy trả lời tôi bằng một cái khoát tay kèm nụ cười trống rỗng. – Tôi đã du ngoạn, tôi đã đi cũng như ngài và… những cuộc phiêu lưu, những cuộc phiêu lưu rất đỗi thú vị và mặn nồng… vâng, tôi đều đã trải qua. Ngài xem, ví dụ như ở Wien, có một tối…

Tôi choáng. Gì cơ! Những cuộc phiêu lưu tình ái, ông ấy á? Ba, bốn, năm lần ở Áo, Pháp, Italia… cả ở Nga nữa sao? Và những cuộc phiêu lưu mới hay ho làm sao! Cuộc sau cháy bỏng hơn cuộc trước… Đây, để minh chứng cho những cuộc phiêu lưu là một đoạn hội thoại giữa ông ấy và một người phụ nữ có chồng:

ÔNG TA: – À, nói về điều này thì, tôi hiểu, thưa quý bà thân mến… Phản bội chồng ư, lạy Chúa tôi! Trung thành, trung thực, phẩm hạnh… ba từ to lớn, thiêng liêng, với dấu trọng âm nặng nề đè trên chữ a 3. Và rồi: danh dự! một vĩ từ khác… Nhưng, xin hãy tin rằng, thực chất đây là một thứ khác, quý bà thân mến: một thứ chỉ hiện hữu trong giây phút ngắn ngủi! Xin bà hãy cứ hỏi những người bạn của mình xem, liệu họ đã từng phiêu lưu tình ái hay chưa.

NGƯỜI PHỤ NỮ CÓ CHỒNG: – Vâng; và sau đó tất cả, bọn họ đều vỡ mộng ê chề!

ÔNG TA: – Nhưng hẳn rồi! Thực dễ hiểu! Bởi khi bị những từ ngữ xấu xa kia cản trở và kìm hãm, họ đã mất sáu tháng, một năm, quá nhiều thời gian để quyết định. Bối rối giữa tầm quan trọng của việc hành động và những suy nghĩ bộn bề, họ vỡ mộng, cần phải quyết định ngay, quý bà thân mến! Tôi nghĩ rồi tôi làm luôn. Đơn giản như vậy!

Chỉ cần nhìn ông ấy, cân nhắc đôi chút cái con người nhỏ thó kì cục này là ta có thể nhận ra ông ấy đương nói dối mà chẳng cần thêm minh chứng gì khác.

Đứng trước bất ngờ này, trong tôi dấy lên cảm giác ghét bỏ sâu sắc và xấu hổ thay cho ông ấy, khi mà ông ấy chẳng ngờ được những lời nói dối trắng trợn của mình có ảnh hưởng thảm hại thế nào. Bản thân tôi cũng phát ngượng khi chứng kiến ông ấy nói dối một cách dễ dàng và thích thú đến vậy, trong khi ông đâu nhất thiết phải làm thế; mà tôi, một người không thể sống mà thiếu đi những lời dối trá, tôi phải gắng gượng và chịu đựng chúng cho tới khi tâm hồn mình quặn thắt.

Ghét bỏ và tức giận, tôi nắm lấy một tay ông mà gào lên:

“Nhưng xin lỗi, ngài Hiệp sĩ, tại sao? Tại sao?”

Ghét bỏ và tức giận là hai cảm giác đúng đắn và tự nhiên trong tôi. Sau khi suy nghĩ kỹ, tôi nhận ra rằng câu hỏi kia hẳn phải ngu ngốc lắm. Nói thực, nếu người đàn ông bé nhỏ đáng mến kia gắng gượng hết sức nhằm khiến tôi tin vào những cuộc phiêu lưu của ông ấy, vậy thì nguyên do chắc chắn không vì ông phải nói dối. Còn tôi… tôi bị hoàn cảnh ép buộc. Thứ đối với ông ấy chỉ là trò mèo hay gần như quyền cá nhân, thì đối với tôi, ngược lại, nó là một nghĩa vụ khó chịu, một bản án.

Và suy nghĩ này dẫn tới kết luận gì? Ôi, rằng cái thằng tôi đã bị hoàn cảnh kết án phải dối trá mà nào có thể né tránh, tôi chẳng thể bao giờ có nổi một người bạn, một người bạn thực sự. Và vậy là không nhà cửa, không bạn bè… Tình bạn đồng nghĩa với tin tưởng; mà tôi thì làm sao chia sẻ được cho ai bí mật về cuộc đời không tên, không quá khứ, một thứ cỏ dại mọc lên từ vụ tự sát của Mattia Pascal? Tôi chỉ có thể có những mối quan hệ hời hợt, chỉ có thể cho phép bản thân mình được trao đổi vài từ lạnh nhạt với kẻ qua đường.

Cũng được thôi, đó là cái giá phải trả cho sự may mắn của tôi. Phải kiên nhẫn! Tôi lại nản lòng vì điều ấy hay sao?

“Mình sẽ sống với mình và vì mình, như mình đã sống đến tận bây giờ!”

Vâng; nhưng thú thực, tôi sợ rằng mình sẽ chẳng thể hài lòng hay thỏa mãn với bạn đồng hành là chính bản thân mình. Và rồi, khi tôi chạm lên gương mặt và thấy nó nhẵn râu, khi lấy một tay vuốt mái tóc dài và chỉnh trang lại cặp kính trên mũi, tôi có ấn tượng thực lạ: chừng như tôi không còn là mình, không thể chạm vào chính mình nữa.

Chính vậy, tôi thay hình đổi dạng thế này vì người khác, đâu phải vì tôi. Giờ tôi phải sống với mình, ẩn giấu thế này hay sao? Và nếu tất cả mọi thứ mà tôi đã vẽ vời hay tưởng tượng ra cho Adriano Meis không phải để phục vụ người khác, thì nó phục vụ cho ai? Cho tôi? Nhưng hơn bao giờ hết, tôi chỉ có thể tin những điều ấy khi những người khác cũng tin.

Bây giờ, nếu anh chàng Adriano Meis này chẳng có cả dũng khí mà dối trá, mà lăn lộn giữa đời, và anh ta cô lập bản thân trong căn phòng khách sạn, mệt mỏi vì đơn độc, suốt những ngày đông rầu rĩ trên những con đường Milano, và anh ta khép mình với người bạn đồng hành là Mattia Pascal quá cố, ha, vậy thì tôi có thể mường tượng ra số phận mình sẽ bắt đầu chuyển hướng xấu. Mọi việc sẽ không còn là trò chơi đối với tôi nữa, và rằng vận may của tôi…

Nhưng sự thật có thể là thế này: rằng trong sự tự do vô hạn của mình, tôi có thể gắng gượng bắt đầu sống theo một cách nào đó. Nhưng thời điểm phải hạ quyết tâm, tôi lại chần chừ, tưởng như có bao vật cản, bóng tối và trở ngại.

Và đây, một lần nữa, tôi tung mình ra bên ngoài giữa phố phường. Tôi quan sát tất cả, thi thoảng dừng chân vì những sự vẩn vơ, ngẫm nghĩ hồi lâu vì vài điều nhỏ nhặt. Khi mệt mỏi, tôi bước vào một quán cà phê, đọc một tờ báo nào đó, nhìn ngắm dòng người vào rồi ra; và rốt cục, cả tôi cũng bước ra. Nhưng nếu xét trên phương diện này, từ góc nhìn của một kẻ ngoài cuộc, tôi thấy chừng như cuộc sống chẳng có nghĩa lý hay mục đích gì. Tôi thấy lạc lõng giữa đám đông hỗn độn. Và trong lúc ấy những tiếng ầm ào loạn nhịp, liên hồi của thành phố cứ dội vào tai tôi lùng bùng.

“Ôi, nhân loại,” tôi bối rối tự hỏi, “sao cứ phải gắng gượng để biến bộ máy vận hành cuộc sống cuộc họ trở nên phức tạp hơn? Những thứ máy móc bộn bề này là sao? Và con người sẽ làm gì khi máy móc đã làm tất cả? Hẳn lúc ấy người ta sẽ nhận ra cái gọi là tiến trình phát triển chẳng liên quan gì đến hạnh phúc? Trong tất cả những phát minh mà khoa học chân thành tin tưởng rằng chúng sẽ giúp làm giàu nhân loại (trong khi chúng làm nghèo nhân loại vì đắt giá đến vậy), rốt cục thì chúng ta sẽ cảm nhận được niềm hạnh phúc gì khi chiêm ngưỡng chúng?”

Ngày hôm sau, trên chuyến tàu điện, tôi gặp một người đàn ông tội nghiệp, một kẻ thuộc dạng không thể không nói cho những người khác biết bất cứ suy nghĩ gì hiện lên trong tâm trí.

– Thực là một phát minh tuyệt vời! – Lão nói với tôi. – Chỉ với hai đồng, trong vài phút, tôi đã đi được nửa Milano rồi.

Lão chỉ thấy được hai đồng tiền vé, người đàn ông tội nghiệp, mà chẳng nghĩ được rằng đồng lương còm cõi của lão sẽ bay biến hết tiêu, sẽ chẳng đủ cho lão sống cái cuộc đời inh tai nhức óc, với tàu điện, đèn điện, vân vân và vân vân…

Vậy thì như ý tôi, khoa học chính là ảo ảnh khiến ta tưởng rằng sự tồn tại của loài người có thể trở nên dễ dàng và thoải mái hơn khi có nó! Nhưng khi đã thừa nhận rằng khoa học khiến cuộc sống thực sự trở nên dễ dàng hơn nhờ tất cả những thứ máy móc phức tạp và khó hiểu này, tôi băn khoăn: “Liệu có dịch vụ tồi tệ nào cho một kẻ buộc phải sống trong một trò lừa dối vô nghĩa, khiến cho cuộc sống của hắn trở nên dễ dàng và gần như máy móc hay không?”

Tôi quay về khách sạn.

Đằng kia, trong hành lang, lủng lẳng trên khung cửa sổ là một chiếc lồng với một con hoàng yến. Chẳng thể nói chuyện với người khác và cũng chẳng biết làm gì, tôi bắt chuyện với nó, với con hoàng yến: tôi mấp máy môi một vài thanh âm với nó, và nó hoàn toàn tin rằng có ai đó đang nói với nó, và nó lắng nghe, nhặt nhạnh trong tiếng thầm thì của tôi những tin tức quý giá về tổ ấm, những lá cây xanh hay sự tự do… Nó phấn khích, quay tới quay lui, nhảy lẫng cẫng. Nó nhìn ra xa, lắc lắc cái đầu be bé, rồi nó trả lời tôi, hỏi tôi, tiếp tục lắng nghe tôi. Chú chim bé nhỏ tội nghiệp! Nó làm tôi mềm lòng, trong khi tôi chẳng biết mình đã nói gì với nó…

Thôi thì nghĩ lại, chẳng phải những chuyện tương tự cũng xảy ra với loài người chúng ta hay sao? Không phải chúng ta tin rằng thiên nhiên cũng nói chuyện với mình hay sao? Và chẳng phải chúng ta cũng cảm thấy như tìm được ý nghĩa trong giọng nói bí ẩn của nàng, một câu trả lời, thể theo ước vọng của chính chúng ta, một câu trả lời cho những câu hỏi hóc búa mà ta đặt ra cho nàng? Và lúc ấy, trong sự lớn lao vô cùng của nàng, biết đâu thiên nhiên cũng mang từ nơi xa xôi nào đó những thông tin về chúng ta và giấc mộng hão huyền của chúng ta.

Nhưng các bạn hãy thử cân nhắc một chút kết cục của trò đùa mà một người đàn ông trong lúc nhàm chán nghĩ ra, có thể khiến anh ta lâm vào tình trạng phải sống một mình thế này! Thiếu chút nữa tôi đã tát mình mấy cái. Vậy là tôi sắp trở thành một triết gia thật sao?

Không, không, thôi nào, cuộc sống bây giờ của tôi thực chẳng có tí logic gì cả. Tôi chẳng thể nào chịu đựng nó thêm nữa. Tôi cần phải vượt qua mọi trở ngại, bằng mọi giá phải đưa ra quyết định.

Tựu trung lại, tôi phải sống, phải sống, phải sống.

1. Panettone: loại bánh truyền thống được dùng trong các kỳ Giáng sinh tại Italia.

2. Cicero (106 TCN – 43 TCN): tên đầy đủ là Marcus Tulius Cicero, triết gia, nhà hùng biện, chính khách La Mã.

3. Fedeltà (trung thành), Onestà (trung thực), Dignità (phẩm hạnh): đều có dấu trọng âm rơi vào chữ a.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Luigi Pirandello

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.