Mattia Pascal Quá Cố

Lượt đọc: 56 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
TRƯỞNG THÀNH

❊ ❊ ❊

Mụ phù thủy già chẳng bao giờ chịu yên:

– Mày nghĩ sao? – Mụ chất vấn tôi. – Mày vẫn chưa thấy hài lòng à? Mày lẻn vào nhà bà như một tên trộm, dụ dỗ con gái bà và rồi hại đời nó. Mày thấy thế vẫn chưa đủ hay sao?

– Không đâu, thưa mẹ vợ yêu quý! – Tôi đáp. – Bởi, nếu con chỉ dừng lại ở đó, sẽ như thể con gia ơn cho nhà mẹ vậy…

– Mày nghe thấy chưa? – Mụ quay sang hét vào mặt con gái. – Nó còn dám khoe khoang, thậm chí tự hào vì đã làm cái việc vĩ đại ấy với cái con… – Và tiếp theo là cả một tràng dài những từ ngữ miệt thị Oliva. Thế rồi, hai tay chống hông, khuỷu tay khuỳnh ra phía trước, mụ nói: – Mày đã được lợi lộc gì? Mày đã hủy hoại chính đứa con của mày rồi. Thế nhưng đối với nó thì phỏng có quan trọng gì? Cả đứa bé kia cũng là con của nó, của nó nữa…

Mụ chẳng bao giờ thiếu những lời nanh nọc như vậy, trong khi mụ biết rõ những lời ác độc ấy có ảnh hưởng thế nào với Romilda. Bản thân nàng vốn ghen tức với đứa con của Oliva, nó được sinh ra trong nhung lụa; trong khi đứa con của nàng sẽ chào đời trong cảnh thiếu thốn, với một tương lai vô định, giữa bao tranh chấp kia. Sự ghen tức này chẳng hề thuyên giảm khi có một quý bà tốt bụng nào đó vờ như không biết gì mà đến chỗ nàng, thuật lại tường tận sự sung túc, vui sướng của “bác gái” Malagna: Cuối cùng Chúa cũng đã rủ lòng thương tới nàng ấy; Oliva bung nở thể như bông hoa buổi sớm.

Trong khi đó, nàng thì chết dí trên ghế xô pha, lúc nào cũng chực như muốn nôn mửa. Nàng xuống sắc, tiều tụy và trắng bệch, chẳng có một giây phút thảnh thơi, chẳng muốn chuyện trò hay thậm chí mở mắt nhìn đời thêm nữa.

Đấy cũng là lỗi của tôi chăng? Có vẻ là vậy. Nàng chẳng muốn nhìn hay nghe tôi nói gì nữa. Tồi tệ hơn là khi chúng tôi buộc phải bán hết các căn nhà để cứu lấy trang trại Lồng gà với cối xay bột, người mẹ tội nghiệp của tôi chẳng có cách nào khác ngoài việc chuyển đến sống trong căn nhà thể như hỏa ngục của tôi.

Rõ rành rành rằng bán những căn nhà ấy đi cũng chẳng được ích lợi gì. Đứa con sắp chào đời khiến lão Malagna bấy giờ chẳng chùn tay. Lão làm điều duy nhất có thể: thỏa thuận với bọn cho vay nặng lãi và chính lão mua lại những căn nhà với giá rẻ mạt mà chẳng phải tính toán gì nhiều. Những khoản nợ đang đè nặng lên khu Lồng gà hầu như đã được chi trả, trang trại với cối xay bột bị đem đi thế chấp dưới sự kiểm soát của tòa án địa phương. Và chúng tôi được xóa nợ.

Giờ tôi phải làm gì? Tôi bắt đầu tìm việc mà chẳng có lấy chút hy vọng, cốt để trang trải những nhu cầu cấp thiết nhất của gia đình. Tôi chẳng được việc gì, còn cái danh tiếng mà những vui thú tuổi trẻ của tôi để lại, những trò phá hoại hồi ấy đã khiến người ta chùn bước trước cái khả năng trao cho tôi một công việc. Những biến cố trong gia đình mà tôi phải ngày ngày chứng kiến và can dự vào cũng đã làm tôi mất hết sự bình tĩnh cần có để đánh giá xem bản thân làm được việc gì và thông thạo việc gì.

Tôi ghê tởm trước cảnh mẹ phải chịu đựng mụ Pescatore. Người mẹ thánh thiện của tôi bấy giờ chẳng còn ngây thơ nữa. Nhưng trong mắt tôi, mẹ vẫn chẳng bận tâm đến những cực khổ, cũng bởi bà chẳng tin con người lại có thể xấu xa đến thế. Bà gò ép thu mình lại, hai tay yên vị đặt trong lòng, mắt cụp xuống. Bà đã lùi sâu vào một góc, nhưng vẫn nơm nớp lo sợ rằng đến cả góc ấy cũng chẳng phải chỗ của mình. Bà lúc nào cũng chực như biến mất, chừng như chỉ ít lâu nữa bà sẽ biến mất – nếu Chúa cho phép! Mà bà còn chẳng làm phiền tới một con muỗi. Đôi lúc bà sẽ thoáng nhìn Romilda, ánh mắt đầy cảm thông. Thế nhưng bà chẳng dám tới gần, bởi có lần, bà vốn đang định chạy lại giúp nàng thì mụ phù thủy kia sỗ sàng đẩy bà ra:

– Để tôi, để tôi. Tôi biết phải làm gì.

Biết rằng lúc ấy Romilda rất cần sự trợ giúp, tôi ngậm mồm. Thế nhưng tôi ngầm theo dõi để đảm bảo rằng không có ai đối xử tệ bạc với mẹ tôi cả.

Và tôi nhận ra sự quan tâm của tôi dành cho mẹ đã phần nào chọc tức mụ phù thủy kia, thậm chí ngay cả vợ tôi nữa. Tôi sợ rằng khi mình không có nhà, họ sẽ hành hạ mẹ tôi chỉ để giải tỏa bức xúc kìm nén bấy lâu. Tôi chắc rằng mẹ sẽ chẳng nói với tôi điều gì. Ý nghĩ ấy cứ giày vò tôi mãi. Đã bao lần, bao lần tôi chăm chú nhìn vào đôi mắt mẹ, chỉ để biết rằng liệu bà đã khóc hay không! Mẹ cười, đôi mắt nhìn tôi âu yếm và hỏi:

– Sao con lại nhìn mẹ như vậy?

– Mẹ vẫn ổn chứ?

Mẹ tôi nhẹ nhàng âu yếm tôi bằng đôi bàn tay và đáp lời:

– Ổn, con không thấy sao? Đến giúp vợ con đi, đi đi. Tội nghiệp con bé.

Tôi quyết định viết thư cho Roberto, bấy giờ đang ở Oneglia, để bảo anh đón mẹ về nhà. Chẳng phải vì tôi ngại gì, bản thân tôi luôn sẵn sàng phụng dưỡng mẹ, ngay cả khi khả năng của tôi vô cùng hạn chế như lúc bấy giờ. Tôi làm điều ấy chỉ vì mong muốn duy nhất là dành những gì tốt đẹp cho bà.

Berto đáp rằng anh không thể; không thể bởi quan hệ của anh với vợ và gia đình nhà vợ cũng căng thẳng vô cùng. Sau khi tai họa đổ ập xuống nhà chúng tôi, anh phải sống phụ thuộc hoàn toàn vào của hồi môn đằng vợ, bởi vậy nên anh chẳng muốn để vợ phải đèo bòng thêm một bà mẹ chồng. Mặt khác, về phần mẹ – anh bộc bạch – bản thân anh cũng không muốn để bà sống chung với mẹ vợ mình. Bà ta một người đàn bà tốt bụng, thế nhưng chẳng thể nói trước rằng sẽ không biến thành kẻ xấu khi những mâu thuẫn tiềm ẩn giữa mẹ vợ và mẹ chồng nảy sinh, vẫn sẽ là tốt hơn nếu mẹ ở lại nhà tôi; và nếu vậy, mẹ cũng chẳng phải rời xa quê hương trong những năm tháng cuối đời, cũng chẳng phải thay đổi thói quen hay cuộc sống của mình. Sau khi tỏ rõ các đường lợi hại, anh tuyên bố bản thân vô cùng đau khổ, vì dù rằng vô cùng mong muốn nhưng anh chẳng thể gửi cho tôi dù chỉ một chút tiền bạc giúp đỡ.

Tôi giấu mẹ bức thư này. Có thể trong giây phút ấy, nếu tâm hồn bồng bột khiến lý trí tôi lu mờ thì hẳn tôi đã tổn thương quá mức. Ví dụ như, tôi cân nhắc cái việc nếu nhổ đi chiếc lông đuôi của một con chim họa mi: nó sẽ vẫn còn tiếng hát; thế nhưng giả tôi bứt đi chiếc lông đuôi của một con công, liệu nó còn lại gì? Có lẽ nào tôi lại phá vỡ cái sự cân bằng mà anh đã dày công gây dựng, cách duy nhất giúp anh có được một cuộc sống đường hoàng bên cạnh người vợ. Đối với Berto mà nói, mất mát ấy sẽ thực khủng khiếp, chẳng gì có thể bù đắp được. Ngoài cái mã bảnh chọe, cung cách lịch thiệp với cái khí chất của một quý ông, anh chẳng có gì cho vợ cả. Thậm chí anh cũng chẳng dành cho vợ mình chút ít tình yêu thương, trong khi điều đó đã có thể bù đắp cho những khó nhọc mà vợ anh phải chịu đựng nếu chung sống với mẹ chúng tôi. Ha! Chúa đã tạo ra con người Berto như vậy; lòng thương cảm là thứ mà Người chỉ cho anh chút ít. Vậy anh Berto tội nghiệp của tôi liệu còn có thể làm được gì?

Tình hình đang ngày càng trở nên tồi tệ, còn tôi chẳng có cách nào khắc phục. Chúng tôi phải bán đi những đồ trang sức bằng vàng, những kỷ vật đáng quý của mẹ. Còn mụ góa Pescatore, sợ rằng tôi và mẹ sớm sẽ phải phụ thuộc vào cái khoản thu nhập hàng tháng còm cõi bốn mươi hai lire của mình, liền dần dần trở nên cáu kỉnh hơn. Tôi đã sớm biết sẽ có những lần cơn giận dữ kìm nén quá lâu của mụ bùng nổ, có thể bởi sự hiện diện cũng như thái độ của mẹ tôi. Mụ sẽ ném cho tôi ánh mắt chết người khi thấy tôi quanh quẩn như ruồi nhặng trong nhà. Những lúc như vậy, tôi sẽ chuồn ra khỏi nhà, tránh cho cái núi lửa ấy phun trào. Thế nhưng vì lo sợ cho số phận của mẹ, tôi quay trở vào.

Ấy vậy nhưng có một hôm tôi đã chẳng kịp quay trở lại để chống đỡ dòng thác lũ đã bùng nổ kia. Mụ cuồng dại vì một lý do vô cùng ngớ ngẩn, ấy là sự hiện diện của hai bà hầu già của mẹ tôi.

Sau tai họa của nhà chúng tôi, một bà đã phải ngay lập tức tìm nơi khác để phục vụ vì chẳng thể bỏ mặc đứa con gái góa bụa và ba đứa cháu nhỏ. Nhưng bà còn lại, Margherita, thì may mắn hơn. Bà chỉ còn một mình giữa thế gian và đã có thể an dưỡng tuổi già với những gì dành dụm suốt nhiều năm phục vụ gia đình tôi. Gặp lại hai người đàn bà lương thiện, hai người bạn gần gụi lâu năm, chừng như mẹ tôi đang dần trở nên buồn rầu vì cái tình cảnh thê thảm và cay đắng vô cùng tận của bà lúc bấy giờ. Bà Margherita cao thượng đã ngờ tới tình cảnh ấy nhưng chẳng dám nói ra và ngay lập tức đề nghị đưa mẹ tôi đến ở nhà bà: bà có hai căn phòng nhỏ bé và sạch sẽ, cùng với một khoảnh sân nho nhỏ đầy ắp hoa lá nhìn ra biển: họ sẽ được sống yên bình cùng nhau: ôi, bà hẳn sẽ hạnh phúc biết bao khi vẫn có thể phục vụ mẹ tôi, vẫn còn cơ hội thể hiện những tình cảm yêu thương trân quý của bà với mẹ.

Thế nhưng mẹ tôi nào dám chấp nhận lời đề nghị của người đàn bà đáng mến kia? Lời từ chối ấy là ngọn nguồn cơn giận của mụ Pescatore.

Lúc vào nhà, tôi nhìn thấy mụ đang giương nắm đấm về phía Margherita, trong khi bà vẫn hiên ngang ngẩng cao đầu. Còn mẹ tôi chừng như quá sợ hãi, nước mắt lưng tròng, run rẩy, hai tay nắm chặt lấy bà Margherita như để trốn tránh cơn giận dữ của mụ thông gia.

Trước hình ảnh mẹ tôi lúc ấy, tôi mất hết bình tĩnh. Tôi chộp lấy tay mụ góa Pescatore mà hẩy mụ ra xa. Mụ bật dậy rồi lao tới như muốn ăn tươi nuốt sống tôi; thế nhưng mụ dừng lại:

– Cút! – Mụ thét. – Mày và cả mẹ mày, cút! Cút ra khỏi nhà tao!

– Nghe đây, – tôi nói với mụ, giọng run run do những nỗ lực mãnh liệt để kiềm chế bản thân. – Nghe đây. Bà biến ngay đi, đừng có thử thách sự kiên nhẫn của tôi. Biến, nếu bà vẫn còn yêu lấy bản thân mình! Biến!

Romilda lúc ấy vẫn đang khóc lóc và gào thét. Nàng vụt dậy khỏi ghế mà lao vào vòng tay của mụ:

– Không! Mẹ phải ở đây với con! Đừng bỏ con, đừng bỏ con ở đây một mình!

Thế nhưng bà mẹ đáng mến của nàng đẩy nàng ra, giọng tức tối:

– Mày thích nó cơ mà? Đi mà bám lấy cái thằng đầu đường xó chợ của mày đi! Tao sẽ đi khỏi đây một mình.

Vậy mà mụ đâu có muốn đi.

Hai ngày sau, tâm trạng giận dữ như thường nhật, cô Scolastica tới với ý định duy nhất là mang mẹ tôi đi theo. Tôi đồ rằng Margherita đã nhờ cô tới.

Cảnh này thực đáng để diễn lại.

Sáng hôm ấy, mụ Pescatore đang đứng làm bánh, hai tay áo xăn cao, váy kéo lên và cuộn lại ngang hông vì sợ bẩn. Lúc cô Scolastica vào nhà, mụ chỉ khẽ quay đầu rồi lại nhào bột như thể chẳng có gì xảy ra. Cô tôi chẳng thèm để tâm đến mụ; bà vào nhà mà chẳng chào bất cứ ai, chăm chăm hướng tới mẹ, như thể trong nhà chẳng có bất cứ ai ngoài mẹ tôi cả.

– Ngay lập tức, nhanh lên, mặc quần áo vào! Chị đi với em. Em biết được những chuyện xảy ra với chị rồi. Em đây. Đi nào, nhanh lên! Thu dọn đi!

Cô tôi nói nhát gừng từng chữ một. Cái mũi hếch lên kiêu hãnh. Khuôn mặt rám nắng của bà run run rồi dần dần nhăn nhúm lại. Đôi mắt bà nảy lửa.

Mụ góa Pescatore, im lặng.

Mụ đã nhào xong bột, sau đó ngâm nước rồi cô đặc lại thành pasta1. Mụ giương phần pasta lên rồi cố tình giã mạnh xuống mặt bàn: đây là cách mụ đáp lại những gì cô tôi nói. Thấy vậy, cô tôi càng làm dữ. Còn mụ cứ thế mà đập mạnh thêm: “Đúng rồi! – Hẳn rồi! – Sao lại không chứ? – Hiển nhiên rồi!” Thế rồi, như thấy vậy là chưa đủ, mụ lấy cán lăn bột ra mà đặt lên bàn, ý nói: tao còn cả cái này.

Nhưng mụ chẳng làm được gì! Cô Scolastica nhảy dựng lên, tức tối tháo cái khăn choàng trên vai mà ném về phía mẹ tôi:

– Đây! Vứt lại tất cả. Đi ngay!

Và rồi bà chạy ra đứng trân trân trước mặt mụ góa Pescatore. Vì không muốn mặt chạm mặt với cô tôi, mụ lùi về sau một bước, hầm hè định giương cái cán lăn bột lên. Thấy vậy, cô Scolastica hai tay lấy hai nắm pasta ở trên bàn mà trét thẳng vào đầu mụ, kéo tuột xuống mặt, hai tay nắm chặt, phía đó, phía đó, phía đó, trên mũi, trên mắt, trong mồm, bất cứ nơi nào có thể trét được là bà trét. Thế rồi bà nắm lấy một tay mẹ tôi mà lôi tuột đi.

Cảnh tiếp theo chỉ dành cho mình tôi. Mụ góa Pescatore thét lên vì giận dữ. Mụ bóc ra từng đống pasta trên mặt, trên những sợi tóc bẩn thỉu rồi ném thẳng vào mặt tôi trong khi tôi cười, cười như bị động kinh. Mụ tóm lấy râu tôi và cào cấu tôi thậm tệ. Thế rồi, như mất trí, mụ lăn ra đất mà xé quần xé áo. Mụ lăn lộn, lăn lộn trên sàn nhà trong cơn mê sảng. Vợ tôi lúc ấy (sit venia verbo - thứ cho tôi phải nói điều này) đương nôn thốc nôn tháo đằng kia, giữa những tiếng thét xé tai, còn tôi:

– Cặp đùi kìa! Cặp đùi kìa! – Tôi thét với mụ góa Pescatore đang lăn lộn dưới đất. – Đừng có chìa đùi ra cho tôi xem, tôi xin đấy!

*

Có thể nói rằng từ ấy, tôi có thói quen cười vào vận hạn của mình, cười vào từng nỗi thống khổ của mình. Trong giây phút ấy, tôi thấy mình như nghệ sĩ trong một tấn bi hài kịch nghiệt ngã nhất mà người ta chẳng thể nào tưởng tượng ra: mẹ tôi chạy trốn với bà cô kỳ lạ của tôi như vậy; vợ tôi ở đó thì đang… thôi quên đi; mụ Marianna Pescatore dưới đất chỗ đằng kia; còn bản thân, tôi chẳng có mẩu bánh nào, hay cái thứ mà người ta gọi là bánh mì, cho ngày sắp tới. Bộ râu tôi phủ đầy pasta, khuôn mặt thì lấm lem, chảy ra những thứ mà tôi chẳng rõ là máu hay nước mắt vì cười nhiều quá thể. Tôi chạy ra ngắm kỹ mình trong gương. Là nước mắt, nhưng tôi cùng đã bị cào một phen ác. Còn con mắt của tôi, lúc ấy, tôi thích con mắt tôi đến nhường nào! Trong giây phút tuyệt vọng, nó đã khiến tôi nhìn đi nơi khác, bất cứ nơi đâu nó hướng tới. Tôi bỏ đi, quyết tâm không trở về nhà tới chừng nào tìm ra cách để bảo đảm cuộc sống cho vợ tôi và tôi, dù cho cách ấy có thảm hại đến mức nào.

Trong giây phút giận dữ khôn nguôi đối với biết bao năm tháng bốc đồng, tôi dễ dàng lý giải được rằng nỗi bất hạnh của tôi chẳng thể khơi nguồn cảm hứng cho bất cứ ai, chẳng thể làm ai đó động lòng hay quan tâm cho được. Tôi hoàn toàn xứng đáng bị như vậy. Chỉ còn một kẻ duy nhất có thể rủ lòng thương tôi, kẻ đã cướp trắng tất cả những gì chúng tôi có. Nhưng hiển nhiên lão Malagna sẽ không cảm thấy cái trách nhiệm phải trợ giúp tôi, sau bao chuyện xảy ra giữa tôi và lão.

Thay vào đó, sự trợ giúp lại đến từ một kẻ mà tôi ít có thể ngờ tới nhất.

Cả ngày hôm ấy tôi ở ngoài. Tầm tối, tôi tình cờ đụng phải Pomino. Hắn định vờ như không thấy tôi và chạy đi mất.

– Pomino!

Hắn ngoảnh lại, khuôn mặt trầm uất rồi ngừng bước, ánh mắt hạ thấp:

– Mày muốn gì?

– Pomino! – Tôi nhắc lại to hơn, lắc vai hắn mà cười vào cái vẻ ủ rũ của hắn. – Mày đùa tao à?

Ôi cái sự vô ơn của loài người! Hắn giận tôi, hẳn là Pomino giận tôi vì cái sự phản bội mà hắn tin là tôi gây ra cho hắn. Tôi chẳng cách nào mà thuyết phục được hắn, rằng chính hắn đã phản bội lại tôi, và hắn không những phải cảm ơn tôi mà còn phải cúi đầu xuống đất mà hôn lên chân tôi.

Tôi vẫn quay cuồng trong cái trạng thái tưng tửng tồi tệ kia, thứ cảm xúc đã chiếm trọn tôi từ lúc nhìn thấy mình trong gương.

– Mày có thấy mấy vết cào này không? – Được một lúc tôi bảo hắn. – Mụ ta làm tao ra nông nỗi này đây!

– Ro… à, vợ mày á?

– Mụ mẹ nàng!

Rồi tôi kể cho hắn như thế nào và tại sao. Hắn cười, nhưng nụ cười hắn đượm buồn. Có thể hắn nghĩ rằng hẳn mụ ta, mụ góa nhà Pescatore, sẽ chẳng làm thế với hắn, cào cấu hắn đến vậy: gia cảnh nhà hắn khác tôi, và cả bản chất lẫn trái tim hắn cũng vậy.

Lúc ấy tôi bỗng định hỏi hắn tại sao, nếu hắn thực sự đau đớn tới nhường này thì sao hắn không cưới Romilda đi, sao không kíp mà trốn đi với nàng, như tôi đã khuyên hắn, trước khi sự nhút nhát đến nực cười hay tính thiếu quyết đoán của hắn làm tôi phải gánh chịu sự đen đủi là phải lòng nàng. Giữa lúc tâm trạng rối bời, tôi những muốn nói với hắn thêm nhiều điều nữa. Thế nhưng tôi kiềm chế. Thay vào đó, tôi chìa tay rạ mà hỏi hắn rằng những ngày ấy hắn đi lại với ai.

– Chẳng với ai cả! – Hắn thở dài. – Chẳng với ai cả! Tao chán, chán đến chết mất!

Cảm giác bực bội trong ngôn từ hắn thốt ra khiến tôi thấy như hiểu được lý do thực sự vì sao Pomino tổn thương tới vậy. Có thể hắn tiếc Romilda, thế nhưng cũng chẳng tiếc bằng việc mất những người bạn cũ. Berto không còn ở đó nữa, còn tôi thì hắn không thể chơi cùng vì đã có Romilda chen ngang. Vậy còn gì dành cho Pomino tội nghiệp?

– Cưới vợ đi, ông bạn yêu quý! – Tôi bảo hắn. – Mày sẽ biết thế nào là vui sướng!

Thế nhưng hắn nhắm mắt, lắc đầu với vẻ nghiêm trọng; hắn giơ một tay:

– Không! Không bao giờ!

– Tuyệt vời, Pomino: kiên trì vào! Nếu mày mong mỏi một người để bầu bạn thì tao luôn sẵn sàng, kể cả xuyên đêm, nếu mày muốn.

Tôi tỏ cho hắn cái quyết tâm của tôi từ khi ra khỏi nhà, và rồi cả cái hoàn cảnh tồi tệ của bản thân lúc bấy giờ. Pomino cảm động như một người bạn thực sự. Hắn đưa tôi chút tiền mà hắn có trong người. Tôi chân thành cảm ơn hắn, và bảo hắn rằng sự trợ giúp ấy sẽ chẳng có nghĩa lý gì đối với tôi: ngày hôm sau tôi sẽ vẫn thê thảm như vậy. Tôi cần một sinh kế ổn định.

– Đợi đã! – Pomino thốt lên. – Mày có biết bố tao làm ở Tòa thị chính không?

– Không. Nhưng tao cũng tưởng tượng được.

– Ông là ủy viên hội đồng thị trấn về giáo dục công.

– Điều này quả là tao không tưởng được.

– Tối hôm qua, trong bữa ăn… Đợi đã! Mày biết Romitelli không?

– Không.

– Không là thế nào! Cái lão ở mạn dưới, chỗ thư viện Boccamazza ấy. Lão điếc, gần như mù dở, thiểu năng và không đứng được trên cả hai chân nữa. Bữa tối hôm qua, bố tao kể rằng thư viện đã suy tàn thảm hại và cần được quản lý với sự quan tâm cao độ nhất. Đúng chỗ cho mày đấy.

– Thủ thư ư? – Tôi thốt lên. – Nhưng tao…

– Sao lại không cơ chứ? – Pomino nói. – Đến lão Romitelli còn làm được…

Lý do này đã thuyết phục được tôi.

Pomino khuyên tôi nên để cô Scolastica ngỏ chuyện ấy với bố hắn. Như vậy sẽ tốt hơn.

Ngày hôm sau, tôi chạy tới thăm mẹ và kể với bà chuyện kia, bởi cô Scolastica chẳng thèm nhìn mặt tôi nữa. Vậy là, bốn ngày sau, tôi trở thành thủ thư. Sáu mươi lire một tháng, giàu hơn mụ góa Pescatore! Tôi đã có thể ca khúc khải hoàn.

Những tháng đầu, công việc của tôi hệt như một trò giải trí với lão Romitelli nọ. Tôi chẳng có cách nào làm cho lão hiểu rằng lão đã bị Chính quyền thị trấn bãi nhiệm, và bởi vậy, lão không cần phải đến thư viện nữa. Mỗi buổi sáng, không sai lệch dù chỉ một phút, tôi thấy lão xuất hiện với bốn chân (bao gồm hai cây ba toong, mỗi tay một cái, chúng phục vụ lão tốt hơn là đôi chân). Vào trong thư viện, lão lôi từ túi áo ghi lê một chiếc đồng hồ bỏ túi to tướng với sợi dây kỳ lạ rồi treo lên tường. Rồi lão ngồi, hai cây ba toong kẹp giữa hai chân. Lão sẽ rút trong túi ra một chiếc mũ len, một hộp thuốc lá, một chiếc khăn tay khổ lớn có họa tiết kẻ ô đỏ đen. Lão sẽ rít lấy một hơi đầy những thuốc rồi chùi mũi. Xong xuôi, lão sẽ mở ngăn kéo của chiếc bàn nhỏ và lấy ra một cuốn sách cũ kĩ của thư viện: Từ điển lịch sử về những nhạc sĩ, nghệ sĩ, và các nhà sưu tập đã chết và còn sống, in ở Venezia năm 1758.

– Ngài Romitelli! – Tôi gào lên trong khi lão đang thực hiện tất cả những động tác kia một cách vô cùng thong thả, chẳng tỏ dấu hiệu nào dù chỉ là nhỏ nhất rằng lão biết đến sự hiện diện của tôi.

Nhưng tôi đang nói với ai vậy? Có bắn đại bác thì lão cũng chẳng nghe thấy đâu mà. Tôi lắc một tay lão, và lão quay ra, nheo nheo mắt, nhăn hết cả khuôn mặt chỉ để nhìn tôi một thoáng, thế rồi lão khoe cho tôi hàm răng vàng ởn, có lẽ lão định cười với tôi. Rồi lão lại dí sát mặt xuống cuốn sách như muốn lấy nó làm gối. Vậy đấy! Lão đọc sách kiểu đó, cách hai centimét. Lão đọc to bằng một mắt:

- Birnbaum, Giovanni Abramo… Birnbaum, Giovanni Abramo, đã cho in… Birnbaum Giovanni Abramo, đã cho in tại Leipzig, năm 1738… tại Leipzig năm 1738… một bài tiểu luận khổ tám… khổ tám: Những nhận xét khách quan về một động thái khó xử của Nhạc sĩ kiêm nhà phê bình. Mitzler… Mitzler đã thêm… Mitzler đã thêm bài luận này vào cuốn đầu của Thư viện âm nhạc. Vào năm 1739…

Lão cứ tiếp tục như vậy, nhắc đi nhắc lại những cái tên và ngày tháng hai hay ba lần, như thể lão đang lùa chúng vào trong trí nhớ mình. Cớ sao lão đọc to như vậy, tôi chẳng biết. Tôi xin nhắc lại rằng có bắn đại bác lão cũng chẳng nghe thấy đâu.

Tôi đứng nhìn lão, lòng đầy kinh ngạc. Điều gì còn có thể quan trọng đối với một người như lão, một kẻ sống trong tình trạng một chân đã bước xuống mồ (lão chết bốn tháng sau khi tôi nhậm chức thủ thư). Việc Birnbaum Giovanni Abramo đã cho in tại Leipzig năm 1738 một bài tiểu luận khổ tám có thể quan trọng đối với lão như vậy sao? Chẳng phải lão đã hao tổn biết bao sức lực khi đọc sao! Phải công nhận rằng lão không thể sống thiếu những cái ngày tháng kia, những tin tức về những nhạc sĩ (chính lão, một kẻ điếc đặc), nghệ sĩ và các nhà sưu tập đã chết và còn sống cho tới năm 1758. Có thể lão tin rằng thư viện được lập ra để con người ta đọc sách, mà bản thân là một thủ thư, chính lão sẽ phải đọc. Đó là một công việc khiến lão chẳng bao giờ được gặp một ai khác. Vả lão đã chọn cuốn sách ấy thì làm sao chọn được cuốn khác nữa? Giả thiết rằng lão bị thiểu năng là rất có thể, thậm chí khả năng này còn cao hơn trước nữa.

Trong khi ấy, chiếc bàn lớn ở giữa phòng bị phủ đầy một lớp bụi dày ít nhất độ một ngón tay; dày tới nỗi để bù đắp lại một phần nào đó sự vô ơn thảm hại của những người đồng hương, tôi đã lần ra được những con chữ to tròn trong lời đề tặng dưới đây:

TƯỞNG NHỚ

ĐỨC ÔNG BOCCAMAZZA

NHÀ TỪ THIỆN HÀO PHÓNG VÔ CÙNG

ĐỂ MINH CHỨNG VĨNH CỬU CHO LÒNG BIẾT ƠN NHỮNG NGƯỜI ĐỒNG HƯƠNG XIN DỰNG TẤM BIA NÀY

Chốc chốc lại có hai hay ba cuốn sách lao từ trên kệ xuống, theo sau là vài con chuột to như thỏ.

Trong mắt tôi, chúng giống như quả táo của Newton vậy.

– Đây rồi! – Tôi vui sướng mà thốt lên. – Đây là những gì tôi sẽ làm, trong khi Romitelli đọc về Birnbaum của lão.

Trước nhất, tôi viết một yêu cầu chính thức vô cùng tỉ mỉ gửi tới Hiệp sĩ Gerolamo Pomino đáng kính, ủy viên hội đồng thị trấn về giáo dục công, để yêu cầu ít nhất một cặp mèo khẩn trương tới chăm sóc thư viện Boccamazza, hay nhà thờ Santa Maria Liberale. Nuôi dưỡng chúng hầu như chẳng tốn gì cho Chính quyền thị trấn, khi mà chúng sẽ thừa khả năng tự nuôi sống bản thân từ thành quả của những chuyến đi săn. Tôi viết thêm rằng thư viện cũng sẽ được phục vụ tốt hơn nếu có nửa tá bẫy và mồi cần thiết. Tôi chẳng dám dùng từ cacio - phô mai, một từ thông tục mà – thân là một kẻ làm thuê – tôi thấy không tiện khi dùng với một ủy viên hội đồng thị trấn về giáo dục công.

Họ gửi cho tôi hẳn hai con mèo hen thảm hại đến mức chúng lập tức run rẩy ngay khi thấy đám chuột vĩ đại kia và – để khỏi chết đói – chính chúng lại lẩy bẩy trong những cái bẫy mà gặm nhấm đống phô mai. Mỗi sáng tôi đều thấy chúng ở trong đó, bị cầm tù, gầy guộc, xấu xí, yếu ớt tới mức chẳng còn sức mà kêu meo meo.

Tôi phàn nàn, thế là họ gửi cho tôi luôn hai con mèo nhanh nhạy và nghiêm túc. Chúng chẳng tốn thời gian mà ngay lập tức thi hành bổn phận của mình. Cả những cái bẫy cũng phát huy tác dụng: chúng giữ cho tôi những con chuột còn sống. Một tối, khi tôi cảm thấy chán chường vì những nỗ lực cũng như chiến thắng của mình chẳng được lão Romitelli để tâm đến, cứ như thể lão chỉ có trách nhiệm duy nhất là đọc, cũng như bọn chuột có trách nhiệm gặm nhấm sách của thư viện, tôi đi bắt hai con chuột sống rồi bỏ vào ngăn kéo bàn của lão. Tôi hy vọng phá vỡ được cái thói quen đọc sách nhàm chán của lão, chí ít là trong buổi sáng ngày hôm sau. Thế nhưng cám cảnh thay! Lão mở ngăn kéo và thấy hai con thú vật ngoe nguẩy ngay dưới mũi. Lão quay sang tôi, lúc ấy đã bật cười nắc nẻ mà chẳng thể đứng vững, rồi lão hỏi:

– Đã có chuyện gì vậy?

– Hai con chuột, thưa ngài Romitelli!

– À, lũ chuột… – Lão thản nhiên nói.

Đây là nhà của chúng; lão đã quá quen rồi; và lão tiếp tục đọc cuốn sách cũ kĩ của lão, tựa như chẳng có gì xảy ra.

*

Trong cuốn Hiệp ước Cây cối của Giovan Vittorio Soderini2 có viết rằng hoa quả chín “một phần nhờ vào không khí nóng, một phần nhờ vào không khí lạnh, bởi sự ấm áp mà các loại quả nhận được giúp chúng chín. Sự ấm áp là tác nhân cơ bản làm hoa quả chín.” Vậy là Giovan Vittorio Soderini đã chẳng biết ngoài sự ấm áp, những người bán hoa quả còn thử nghiệm một tác nhân làm hoa quả chín khác. Để có thể chào hàng sớm nhất và bán với giá cao nhất, họ thu hoạch các loại quả, táo, đào hay lê, trước khi chúng đạt ngưỡng an toàn và ngon miệng, rồi làm chúng chín bằng cách giáng xuống những cú đánh cuồng nộ.

Bấy giờ, tâm hồn non xanh của tôi cũng đang chín dần bằng cách ấy.

Chẳng mấy chốc mà tôi trở thành một con người khác hẳn ngày trước. Romitelli chết, tôi bỗng trở nên cô độc nơi đây, bị nỗi buồn gặm nhấm, trong cái nhà thờ bé nhỏ heo hút, giữa cả đống sách này. Tôi đơn độc vô cùng, tới mức chẳng thiết kẻ bầu bạn. Tôi chỉ có thể giam mình trong đó vài giờ một ngày. Thế nhưng khi rảo bước trên những con đường thị trấn, tôi hổ thẹn khi bị nhìn thấy trong tình trạng thê thảm thế này. Tôi sống trong nhà như thể ở tù. Vậy thì ở đây tốt hơn, một lần nữa tôi tự nhủ. Nhưng làm gì? Săn chuột, vâng. Nhưng đối với tôi vậy có đủ hay không?

Lần đầu tiên tôi thấy mình đang cầm một cuốn sách lấy ngẫu nhiên từ một trong các giá sách của thư viện, tôi bỗng thấy lạnh sống lưng vì kinh hãi. Tôi sẽ trở thành lão Romitelli thảm hại. Tôi sẽ cảm thấy trách nhiệm phải đọc. Tôi, thủ thư, sẽ phải đọc thay phần tất cả những kẻ chẳng vác xác đến thư viện? Tôi lẳng cuốn sách xuống đất. Nhưng rồi tôi nhặt lại; và rồi – vâng thưa bạn – tôi bắt đầu đọc, cũng với một con mắt, vì con mắt còn lại chẳng thiết điều gì.

Tôi đọc mỗi thứ một chút, không theo trình tự đặc biệt nào cả; nhất là sách triết học. Họ suy nghĩ thực nhiều. Thế nhưng bất cứ ai nuôi dưỡng tâm hồn cũng như thân thể bằng những cuốn sách ấy, sẽ như thể được sống trên mây vậy. Chúng làm não tôi, vốn đã tưng tửng, nay còn mất cần bằng hơn. Khi não bốc khói, tôi đóng cửa thư viện và tìm tới một lối đi hẹp và dốc dẫn đến một dải bờ biển cô quạnh.

Cảnh biển khiến tôi rơi vào trạng thái bất ngờ hoảng hốt, dần dần đè nặng tôi tới nghẹt thở. Tôi ngồi trên bờ và cúi đầu, ngăn bản thân không nhìn ra biển. Thế nhưng tôi cảm nhận được tiếng gầm gào khắp đường bờ biển trong khi chầm chậm, chầm chậm thả trôi những hạt cát dày đặc nặng nề giữa các ngón tay. Tôi thì thầm:

– Mình sẽ mãi mãi thế này cho tới lúc chết, không bao giờ đổi thay, không bao giờ…

Sự tồn tại của tôi được đặt trong một tình trạng bất di bất dịch. Nó khiến tôi nảy sinh những suy nghĩ chớp nhoáng, kỳ lạ, những tiếng sấm điên rồ. Tôi bật dậy, như để rũ mình khỏi sự điên rồ đương chiếm trọn tâm can, rồi tản bộ dọc bờ biển. Nhưng rồi tôi thấy biển vỗ vô hồi vào bờ những con sóng mỏi mệt như ngái ngủ. Tôi thấy những hạt cát bị lãng quên. Rồi tôi giương nắm đấm mà gào lên giận dữ:

– Nhưng tại sao? Tại sao?

Tôi nhúng chân mình xuống nước.

Biển cả đưa sóng sâu vào thêm nữa, như để cảnh tỉnh:

“Anh bạn yêu quý, cậu đã thấy những gì cậu có được khi đặt một vài câu tại sao chưa? Chân cậu sẽ bị nhúng nước. Trở về thư viện của cậu đi! Nước mặn sẽ làm hỏng giày cậu đấy; mà vứt chúng đi làm sao được khi cậu chẳng có tiền. Trở về thư viện và từ bỏ triết học đi: đi đi, hay tốt hơn là cậu cũng đọc Birnbaum Giovanni Abramo cho in ở Leipzig năm 1738 một bài tiểu luận khổ tám: cậu hẳn sẽ thấy mình được lợi hơn đấy.”

Nhưng ngày nọ, có người chạy tới báo tôi rằng vợ tôi đang lâm bồn, và rằng tôi phải lập tức phi về nhà ngay. Tôi lao đi như một chú nai, nhưng phần nhiều là để trốn chạy chính bản thân mình, để không phải cảm nhận chỉ một giây phút riêng mình tôi với tôi, không phải nghĩ rằng cái thằng tôi sắp có đứa con, tôi, trong hoàn cảnh ấy, một đứa con!

Ngay khi vừa về tới cửa nhà, mẹ vợ tôi nắm lấy vai mà quay người tôi lại:

– Gọi bác sĩ! Chạy mau! Romilda chết mất!

Hẳn bạn sẽ muốn nghỉ ngơi chút ít khi nghe một tin sét đánh ngang tai như thế? Vậy nhưng thay vào đó, mụ ta thét “Chạy mau!”. Tôi chẳng cảm thấy chân mình, chẳng hiểu đôi chân sẽ đưa mình tới đâu. Trong khi ấy tôi vẫn chạy, chẳng hiểu kiểu gì, – Bác sĩ! Bác sĩ! – tôi vừa chạy vừa nói. Có vài người dừng lại giữa đường, đòi tôi ngừng bước mà giải thích với họ chuyện gì đã xảy ra. Họ kéo lấy tay áo tôi, còn tôi chỉ thấy phía trước những khuôn mặt trắng bệch, hoảng hốt. Tôi né tránh, né tránh tất cả: – Bác sĩ! Bác sĩ!

Trong lúc ấy, bác sĩ đã ở sẵn nhà tôi rồi. Tôi tụt hơi, nom thực thảm hại. Sau khi đã chạy qua tất cả các tiệm thuốc, tôi về nhà, đương tuyệt vọng và giận giữ thì đứa bé gái đầu tiên ra đời. Bác sĩ đang gắng sức đưa đứa thứ hai ra.

– Hai đứa!

Tôi tưởng như vẫn nhìn ra hai đứa chúng nó trong nôi, đứa này nằm cạnh đứa kia. Chúng gãi người nhau bằng những đôi bàn tay bé xíu, mỏng manh, một phản xạ tự nhiên hoang dã khiến người khác thấy ác cảm nhưng cũng đáng thương. Thảm hại, thảm hại, nom chúng còn thảm hại hơn cả hai con mèo hen mà tôi thấy trong bẫy chuột mỗi sáng. Cả hai đứa con của tôi cũng chẳng có sức mà khóc lóc như hai con mèo không có sức kêu meo meo. Và trong khi ấy, chúng vẫn cứ ở đó gãi gãi nhau!

Tôi tách chúng ra. Và ngay từ giây phút đầu tiên khi chạm vào thân thể bé nhỏ, mềm mại mà lành lạnh ấy, tôi bỗng thấy một luồng khí mới chảy trong mình, một cảm giác dịu dàng, khó tả: chúng là con tôi!

Vài ngày sau, một đứa mất. Đứa còn lại cho tôi thời gian để yêu thương nó với tất cả tình yêu của một người cha. Người cha, không có gì khác, sẽ lấy đứa con gái ấy làm lẽ sống duy nhất của đời mình. Thế nhưng nó nhẫn tâm rời bỏ tôi khi mới gần một tuổi; và nó đã xinh đẹp biết nhường nào, những lọn tóc vàng mà tôi cuốn quanh những đầu ngón tay rồi hôn lên mãi, chẳng bao giờ biết chán. Nó gọi tôi bằng bố, và lập tức tôi trả lời: – Con yêu; – và nó lại gọi tiếp: – Bố…; – cứ như vậy, chẳng có lý do nào cả, thể như những chú chim gọi bầy.

Cùng ngày ấy và gần như cùng giờ ấy, mẹ tôi mất. Tôi chẳng biết làm thế nào để san sẻ sự quan tâm hay nỗi thống khổ của mình. Tôi để đứa con gái bé bỏng của tôi nằm lại đó rồi chạy tới chỗ mẹ. Bà chẳng quan tâm tới chính bản thân mình, tới cái chết đang chờ đợi bà, và bà hỏi tôi về đứa cháu gái bé nhỏ, lòng quặn thắt vì chẳng thể gặp nó lần nữa, chẳng thể hôn lên nó lần cuối. Chín ngày tôi chịu sự tra tấn ấy! Vậy thì, sau chín ngày chín đêm canh chừng miệt mài không nghỉ, không chợp mắt dù chỉ một phút… tôi phải nói như vậy ư? – Nhiều người hẳn sẽ ngần ngại mà thú nhận, thế nhưng chúng ta là con người, con người, con người – lúc ấy tôi chẳng cảm thấy đau khổ gì cả, không: tôi chìm trong suy nghĩ choáng váng, sợ hãi được một lúc, rồi thiếp đi. Đúng vậy đấy. Trước tiên tôi phải ngủ cái đã. Sau đó, vâng, khi tôi tỉnh dậy, đau thương chiếm trọn tôi, đau thương cuồng nộ và dữ dội vì đứa con gái bé bỏng, vì người mẹ giờ đây đã không còn nữa. Tôi tưởng như sắp phát điên. Một đêm dài tôi lang thang khắp các nẻo đường thị trấn và vùng đồng quê. Tôi chẳng biết trong đầu mình đã chất chứa suy nghĩ gì nữa. Chỉ biết rằng, cuối cùng, tôi thấy mình đang ở trang trại Lồng gà, cạnh con kênh bên cối xay bột. Một lão thợ xay già nào đó tên Filippo đang đứng gác. Lão nắm lấy tay tôi mà kéo tôi ngồi xuống dưới những tán cây, rồi lão kể cho tôi nghe hồi lâu, hồi lâu về mẹ tôi, cả về bố tôi và những khoảng thời gian đẹp đẽ giờ đã lùi xa vào dĩ vãng. Lão khuyên tôi không nên khóc lóc và tuyệt vọng như thế, bởi đứa con gái bé bỏng của tôi sẽ có bà nội, bà nội tốt bụng sẽ chờ nó ở thế giới bên kia, bà nội sẽ bế nó vào lòng mà kể cho nó nghe về tôi, sẽ không bao giờ để nó cô đơn một mình, không bao giờ.

Ba ngày sau, như để thanh toán cho những giọt nước mắt của tôi, Roberto gửi tôi năm trăm lire. Anh muốn tôi chôn cất mẹ tử tế. Thế nhưng chuyện ấy cô Scolastica đã lo chu toàn.

Trong một thời gian, năm trăm lire ấy nằm lại giữa những trang giấy của một cuốn sách cũ kỹ trong thư viện.

Sau rồi tôi cần tới chúng. Chúng chính là – như tôi sẽ kể – tác nhân cho cái chết đầu tiên của tôi.

1. Pasta: hỗn hợp bột bánh và nước.

2. Giovan Vittorio Soderini (1526 – 1596): nhà nông học người Italia.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Luigi Pirandello

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.