Ngay cả trước khi mở cửa, tôi đã dự cảm hẳn có chuyện gì đó nghiêm trọng đương xảy ra trong nhà: tôi nghe tiếng Papiano và ông Paleari quát tháo. Cô Caporale kích động chạy đến chỗ tôi:
– Vậy chuyện thật chứ? Mười hai ngàn lire?
Tôi ngừng bước, bồn chồn, bối rối. Trong lúc ấy, Scipione Papiano động kinh đương băng qua sảnh vào, chân trần, tay cầm đôi giày, người ngợm tái mét, chẳng có áo khoác; trong khi ông anh trai đương rú lên phía đằng kia:
– Giờ bố tố cáo đi! Tố cáo đi!
Ngay lập tức một cơn tức tối khủng khiếp đả thương tôi bởi Adriana, mặc cho cấm đoán, mặc cho thề thốt, nàng đã nói ra.
– Ai bảo với cô vậy? – Tôi thét lên với cô Caporale. – Chẳng có chuyện gì cả: tôi đã tìm thấy số tiền ấy rồi!
Cô Caporale nhìn tôi ngỡ ngàng:
– Số tiền ấy? Tìm thấy rồi? Thật sao? Ôi, Chúa ơi, xin ngợi ca Người! – Giương đôi bàn tay, cô cảm thán; rồi tôi chạy theo cô, trong khi cô cuống quýt vào phòng ăn, nơi Papiano và ông Paleari đương gào thét còn Adriana thì khóc lóc; cô thông báo: – Tìm thấy rồi! Tìm thấy rồi! Ngài Meis đây! Ngài ấy tìm thấy số tiền rồi!
– Gì cơ?
– Tìm thấy rồi?
– Có thể sao?
Cả ba người họ đều sững sờ; nhưng Adriana và ông bố, gương mặt hai người họ bừng bừng; ngược lại, Papiano mắt trợn lên, mặt tái mét.
Tôi nhìn kỹ hắn trong một giây. Hẳn tôi phải tái mét hơn hắn, cả người tôi run run. Hắn cụp mắt như thể kinh hãi, và hắn đánh rơi chiếc áo khoác của cậu em. Tôi đến sát trước mặt hắn, và tôi chìa tay.
– Vô cùng xin lỗi ngài; ngài, và mọi người… cho tôi xin lỗi, – tôi nói.
– Không! – Adriana thét lên, phẫn nộ; nhưng ngay lập tức nàng đưa chiếc khăn tay che miệng.
Papiano nhìn nàng, rồi hắn chẳng dám bắt tay tôi. Thấy vậy tôi lặp lại:
– Xin lỗi ngài… – Và tôi chìa tay ra thêm nữa, bắt lấy bàn tay run run của hắn. Tay hắn cứ như thể tay người chết, và cả đôi mắt, mờ mịt và gần như tắt ngúm, trông chẳng khác nào mắt của một kẻ đã chết.
– Tôi thực sự đau lòng, – tôi nói thêm, – vì những rắc rối, những phiền nhiễu sâu sắc mà, dù chẳng cố ý, nhưng chính tôi đã gây ra.
– Nhưng không… à, vâng… thực sự thì, – ông Paleari lắp bắp, – đó, đó là một việc mà… vâng, một việc không thể xảy ra, chết tiệt! Vui quá đi thôi, ngài Meis, tôi vô cùng hạnh phúc vì ngài đã tìm thấy số tiền kia rồi, bởi…
Papiano khịt mũi, hắn lấy hai tay mà quệt lấy vầng trán đẫm mồ hồi và cả trên đầu. Rồi, quay lưng lại với chúng tôi, hắn nhìn ra ngoài ban công.
– Tôi đã hành xử giống một kẻ… – Gượng cười, tôi nói tiếp. -Tôi đi tìm con lừa trong khi tôi đang cưỡi nó. Tôi vẫn mang theo người mười hai ngàn lire trong ví đây.
Đến lúc ấy, Adriana chẳng thể đứng vững được nữa:
– Nhưng ngài đã quan sát, có tôi ở đó, đã tìm khắp nơi, kể cả trong ví; nếu ở trong đó, trong cái tủ…
– Vâng, thưa tiểu thư, – tôi ngắt lời nàng, với nét kiên định lạnh lùng cứng nhắc. – Nhưng tôi đã tìm không kỹ, hẳn là vậy, từ lúc mà tôi tìm thấy chúng… Tôi xin được xin lỗi tiểu thư một cách chân thành nhất, bởi sự lơ đễnh của tôi đã làm tiểu thư phải chịu khổ nhiều hơn bất kỳ ai. Nhưng tôi hy vọng rằng…
– Không! Không! Không! – Adriana thét, rồi nàng bật lên tiếng khóc nấc và vội vã rời khỏi phòng. Cô Caporale chạy theo sau nàng.
– Tôi không hiểu… – Ông Paleari ngỡ ngàng nói.
Papiano giận dữ quay mặt lại:
– Dù thế nào thì tôi cũng sẽ đi, trong ngày hôm nay… Có vẻ như bây giờ mọi người không cần… cần…
Hắn khựng lại như thể hụt hơi. Hắn quay mặt hướng về tôi, nhưng hắn không đủ dũng khí để nhìn thẳng mặt tôi:
– Tôi… tôi không thể, xin ngài hãy tin, không thể nói không… khi họ đã… ở đây, họ đã chặn tôi lại… Tôi vội vội vàng vàng tới chỗ em trai tôi trong khi thằng bé… trong vô thức… ốm yếu như nó… nó đâu có biết gì, hay là, tôi tin là… ai biết được! Người ta cũng có thể ngờ rằng… Và tôi đã lôi nó ra đây… Một cảnh tượng hoang dại! Tôi đã buộc phải lột trần thằng bé… lục lọi người nó… tất thảy mọi chỗ… trong quần áo, tận cả đôi giày nữa… Rồi nó… ôi!
Trong giây phút ấy, khóc lóc đã khiến giọng hắn rung lên; đôi mắt hắn mọng nước. Thế rồi, như bị đau thương bóp nghẹt, hắn nói thêm:
– Và như vậy họ đã thấy rằng… Nhưng hẳn rồi, nếu ngài… Sau chuyện này, tôi sẽ đi!
– Nhưng không! Hoàn toàn không được! – Thấy vậy tôi nói. -Vì lỗi của tôi sao? Ngài phải ở lại đây! Tôi đi là hợp lý hơn cả!
– Sao ngài lại nói vậy, ngài Meis! – Ông Paleari thốt lên đau đớn.
Cả Papiano, nghẹn ngào giữa hai hàng nước mắt, hắn xua tay phản đối. Hắn nói:
– Tôi phải… tôi phải đi khỏi. Nói đúng ra thì tất cả những chuyện này xảy ra vì tôi… đã như vậy, ngây thơ là vậy… tôi đã thông báo rằng tôi phải đi khỏi, bởi họ chẳng thể lưu cậu em tôi ở lại nhà… Ngài Hầu tước, thực ra, ngài ấy đã gửi cho tôi… – tôi có đây – một bức thư gửi tới giám đốc một nhà điều dưỡng ở Napoli, tôi sẽ phải đến đấy để hoàn thành một số giấy tờ cần thiết nữa… Rồi lúc ấy cô em vợ tôi, cô ấy kính trọng ngài vạn phần… vạn phần… cũng xứng đáng thôi… cô ấy đã nhảy dựng lên mà bảo rằng không ai được phép rời khỏi nhà… rằng mọi người đều phải ở lại đây… bởi ngài… tôi chẳng biết… ngài đã phát hiện ra… Với tôi, chuyện này! Với chính anh rể cô ấy!… Cô ấy đã nói với tôi chuyện đó… có thể do tôi, thảm hại nhưng trung thực, tôi vẫn phải trả lại đây, cho bố vợ tôi…
– Con đang nghĩ gì vậy, thôi nào! – Ông Paleari ngắt lời hắn.
– Không! – Papiano một lần nữa tự trọng khẳng định. – Con đã nghĩ rồi! Con đã nghĩ thông suốt rồi, xin chớ có ngờ! Con sẽ đi khỏi đây… Tội nghiệp, tội nghiệp, tội nghiệp Scipione!
Chẳng thể kiềm chế bản thân thêm nữa, hắn tuôn trào nước mắt.
– Nào, – ông Paleari nói, vẻ bối rối xen lẫn thương cảm. – Giờ thì cậu ấy có liên quan gì nữa chứ?
– Cậu em tội nghiệp của tôi! – Papiano tiếp tục. Với cái nét đau thương chân thành, hắn khiến ruột gan tôi quặn thắt vì cảm thông.
Từ hai hàng nước mắt của hắn, tôi nhìn ra sự hối hận của hắn vì đã lợi dụng em trai mình, kẻ mà hắn sẽ đổ lỗi cho vụ trộm nếu tôi đã tố cáo, và cũng chính là kẻ mà chỉ mấy phút trước hắn đã hạ nhục bằng cuộc khám xét kia.
Không có ai rõ hơn hắn rằng tôi chẳng thể nào tìm lại được số tiền mà hắn đã trộm mất. Lời tuyên bố bất ngờ của tôi đã cứu lấy hắn chính trong giây phút mà khi thấy bản thân mình lâm nguy, hắn đã kết tội cậu em trai hay mặc cho người ta hiểu như thế – tuyền theo mưu kế mà hắn đã sắp đặt trước – rằng chỉ cậu ta mới có thể là tác giả của vụ trộm. Lời tuyên bố ấy của tôi bất ngờ đánh úp hắn. Giờ hắn khóc vì nhu cầu không thể kiềm chế được khiến hắn phải giải tỏa cái tâm hồn rúng động kia, và có thể cũng vì hắn cảm thấy mình không thể lưu lại đây, nếu hắn không khóc lóc như vậy, ngay trước mặt tôi. Hắn vừa khóc lóc vừa phủ phục trước mặt tôi, quỳ xuống gần sát chân tôi, nhưng chỉ với điều kiện rằng tôi giữ nguyên khẳng định của mình, rằng tôi đã tìm lại được số tiền: nếu tôi lợi dụng giây phút hắn ngã lòng mà rút lại lời nói của mình, hắn sẽ nhảy dựng lên trước mặt tôi mà cáu kỉnh. Hắn – như tôi hiểu rõ – không biết và không thể biết bất kỳ điều gì về vụ trộm kia; còn tôi, với lời khẳng định của mình, tôi sẽ chẳng cứu lấy ai ngoài cậu em trai hắn, kẻ mà, rốt cục, nếu tôi có tố cáo vụ trộm, cậu ta cũng sẽ chẳng bị trừng phạt gì sất, âu cũng do bệnh tật. Về phần mình, hắn sẽ gắng sức để trả lại số tiền hồi môn cho ông Paleari, như hắn đã bày tỏ.
Tôi dường như hiểu ra tất cả những điều ấy từ những giọt nước mắt của hắn. Được ông Anselmo và cả tôi an ủi, rốt cục hắn cũng nguôi ngoai. Hắn bảo sẽ sớm từ Napoli trở lại, ngay khi gửi cậu em vào nhà điều dưỡng, rồi giải quyết nốt phần trách nhiệm của hắn trong một cửa hàng mà rốt cục hắn đã dựng được lên ở mạn đó cùng với một người bạn, và hoàn thành số tài liệu mà ngài Hầu tước cần đến.
– Hay là, nhân đây, – hắn quay về phía tôi mà kết luận. – Ngài bận tâm chuyện ấy làm gì nữa? Ngài Hầu tước đã bảo tôi rằng, nếu ngài không phiền, hôm nay… cùng với bố vợ tôi và Adriana…
– Ôi, tuyệt vời, đúng vậy! – Chẳng để cho hắn nói hết câu, ông Anselmo thốt lên. – Tất cả chúng ta hãy cùng đi… tốt quá rồi! Tôi thiết tưởng chúng ta có lý do để vui vẻ lên đấy, ngay bây giờ, chết tiệt! Ngài nghĩ sao, ngài Adriano?
– Tôi thì… – Tôi giơ hai tay mà nói.
– Vậy thì, khoảng 4 giờ… Được chứ? – Papiano đề xuất trong khi lau sạch nước mắt.
Tôi trở về phòng. Dòng tâm tư của tôi lập tức vụt chạy về Adriana. Nàng đã khóc nấc mà trốn chạy, sau khi tôi phủ nhận những gì nàng tuyên bố. Và nếu giờ nàng đến đòi tôi một lời giải thích? Hẳn là cả nàng cũng sẽ chẳng tin rằng tôi đã tìm lại được số tiền kia. Vậy nàng sẽ suy luận điều chi? Rằng tôi, khi phủ nhận vụ trộm, tôi đã muốn trừng phạt nàng vì không tôn trọng lời thề. Nhưng tại sao? Hiển nhiên là bởi từ chỗ ông luật sư, người mà tôi đã bảo với nàng rằng tôi muốn nhờ tư vấn trước khi tố cáo vụ trộm, tôi đã biết được rằng cả nàng và tất cả những người trong nhà sẽ đều phải chịu trách nhiệm về vụ việc. Vậy nhưng, chẳng phải nàng đã nói với tôi rằng nàng sẵn sàng đối đầu với vụ bê bối đó sao? Vâng: nhưng tôi – rõ ràng – tôi không muốn: tôi thiên về hướng hy sinh mười hai ngàn lire như vậy hơn… Vậy thì, nàng phải tin rằng đó là lòng bao dung của tôi, sự hy sinh vì tình yêu dành cho nàng hay sao? Đây chính là một lời dối trá khác mà tình cảnh của bản thân buộc tôi phải nói: lời dối trá tởm lợm đã tô hồng bản thân tôi bằng một minh chứng ái tình đầy tình tế và thanh nhã, ban cho tôi lòng bao dung lớn hơn bội phần, trong khi rốt cục, nàng đâu có đòi hỏi và mong muốn nhiều đến thế.
Không! Không! Không! Tôi đang mộng tưởng gì vậy? Xét theo logic của lời dối trá cần thiết và không thể thoái thác kia, tôi phải đi đến những kết luận khác. Bao dung gì chứ! Hy sinh gì chứ! Minh chứng ái tình gì chứ! Sao tôi có thể tiếp tục dụ dỗ cô bé đáng thương đó? Niềm ham muốn của bản thân, tôi phải bóp nghẹt nó, bóp nghẹt nó. Tôi không được hướng về Adriana chỉ một ánh nhìn hay một lời tình ái. Rồi sao? Làm sao nàng có thể dung hòa lòng bao dung hiển hiện kia của tôi với cái thái độ mà từ giờ trở đi tôi phải ép mình thể hiện trước mặt nàng? Vậy nên tôi thiên về hướng lợi dụng vụ trộm, mà ngược với mong muốn của tôi, nàng đã tiết lộ, còn tôi thì phủ nhận, cốt để cắt bỏ hết những mối liên quan giữa tôi và nàng. Nhưng logic này là gì đây? Trong hai khả năng chỉ có một: hoặc tôi đã bị trộm, và rồi vì lý do nào đó mà khi biết được tên trộm, tôi đã chẳng tố cáo hắn, và tôi thu lại tình yêu của mình dành cho nàng, cứ như thể nàng có tội? Hoặc tôi thực sự đã tìm lại được số tiền kia, và vậy thì tại sao tôi không tiếp tục yêu thương nàng?
Tôi thấy chừng như bị bóp nghẹt bởi cảm giác buồn nôn, cảm giác giận dữ, ghét bỏ chính bản thân mình. Nếu ít nhất tôi có thể nói cho nàng biết đó đâu phải do tôi bao dung; nói cho nàng biết tôi không thể, không có bất cứ cách nào tố cáo vụ trộm cho được…
Nhưng tôi vẫn phải cho nàng một lý do… Có thể chính số tiền của tôi cũng đã là đồ ăn trộm? Hẳn nàng có thể suy đoán được chuyện này… Hoặc tôi sẽ phải bảo nàng rằng tôi là một kẻ bị truy nã, một kẻ đào tẩu đang lâm nguy, phải sống trong bóng tối và không thể nào gắn kết vận mệnh mình với một người phụ nữ? Lại những lời dối trá khác dành cho cô bé tội nghiệp… Nhưng, mặt khác, sự thật mà giờ đây thực khó tin đối với chính tôi, một câu chuyện cổ tích nực cười, một giấc mơ hoang đường, sự thật ấy tôi có thể kể cho nàng hay không? Để giờ đây không phải nói dối, tôi phải thú nhận với nàng rằng tôi đã luôn nói dối hay sao? Đó là hậu quả mà tôi phải gánh chịu vì hé lộ tình cảnh của mình. Và rồi ích lợi gì cơ chứ? Đó chẳng phải là một lời biện minh cho tôi, cũng chẳng phải là liều thuốc cho nàng.
Thế nhưng, phẫn nộ, tức tối, trong giây phút ấy có thể tôi đã thú nhận mọi điều với Adriana, nếu thay vì gửi cô Caporale tới, nàng đã đích thân bước vào phòng tôi và giải thích lý do tại sao nàng đã không giữ lấy lời thề.
Lý do tôi đã rõ: chính Papiano đã nói với tôi. Cô Caporale còn nói thêm rằng Adriana chẳng thể nguôi ngoai.
– Tại sao? – Tôi hỏi, với vẻ hờ hững giả tạo.
– Bởi em ấy không tin, – cô đáp, – rằng ngài thực sự tìm lại được số tiền kia.
Thoạt tiên tôi nảy sinh cái ý tưởng (mà rốt cục thì nó phù hợp với trạng thái tâm hồn tôi, với cái cảm giác buồn nôn mà tôi cảm nhận đối với chính mình) cái ý tưởng khiến Adriana mất hết tất cả sự tôn trọng dành cho tôi, để nàng không còn yêu tôi thêm nữa, để tỏ cho nàng thấy rằng tôi là một kẻ giả tạo, hà khắc, tráo trở, vị kỷ… Tôi hẳn sẽ bị trừng phạt vì những điều xấu xa mà bản thân gây ra cho nàng. Ngay lúc ấy, vâng, tôi sẽ gây cho nàng một điều xấu xa khác, nhưng vì mục đích tốt, để giúp nàng bình phục.
– Cô ấy không tin? Sao lại không? – Tôi bảo cô Caporale, với một nụ cười buồn bã, – Mười hai ngàn lire, thưa quý cô… Chúng chỉ như hạt cát thôi sao? Cô ấy tin là tôi sẽ bình thản thế này, nếu thực sự họ đã trộm mất của tôi từng ấy hay sao?
– Nhưng Adriana đã nói với tôi, – cô cố nói thêm.
– Ngu ngốc! Ngu ngốc! – Tôi ngắt lời. – Xem này, đúng thực là… trong một giây tôi đã nghi ngờ… Nhưng cô hãy cứ nói với tiểu thư Adriana rằng tôi đã không tin vụ trộm là có thể… Và thực sự thì thôi đi! Thêm vào đó, tôi chẳng có lý do nào để nói rằng đã tìm lại được số tiền, nếu tôi không thực sự tìm lại được chúng?
Cô Caporale nhún vai.
– Có thể Adriana tin rằng ngài có lý do nào đó để…
– Không! Không! – Tôi vội vàng ngắt lời cô. – Tôi xin nhắc lại, chúng ta đang nói về mười hai ngàn lire đấy, thưa quý cô. Nếu chỉ là ba mươi, bốn mươi lire, vậy quên đi!… Tôi chẳng có những suy nghĩ rộng lượng đó đâu, xin cô hãy tin… Chết tiệt! Hẳn phải là một vị thánh mới…
Khi cô Caporale đi chuyển lời cho Adriana, tôi vặn vẹo hai bàn tay, rồi tôi cắn lấy chúng. Tôi phải hành xử như vậy sao? Tôi phải lợi dụng vụ trộm, cứ như thể bằng số tiền trộm mất ấy tôi muốn trả nàng, bù đắp cho nàng vì những hy vọng vỡ tan? Ôi, cách hành xử của tôi mới hèn hạ làm sao! Ở bên kia, nàng chắc hẳn phải gào lên giận dữ, và nàng sẽ ghê tởm tôi… chẳng hiểu rằng nỗi đau của nàng cũng là chính của bản thân tôi. Đành vậy! Nàng phải ghét bỏ tôi, ghê tởm tôi, cũng như tôi ghét bỏ và ghê tởm chính mình. Và thậm chí để làm nàng khó chịu với tôi thêm nữa, để thúc đẩy nỗi ghê tởm của nàng, giờ đây tôi sẽ tỏ ra vô cùng thân thiện với Papiano, với kẻ thù của nàng, như thể để gây dựng lại hình ảnh của hắn trong mắt nàng vì nỗi nghi ngờ mà hắn đã phải chịu. Vâng, vâng, và như vậy hẳn tôi sẽ làm choáng ngợp cả tên trộm của mình, vâng, tới mức khiến tất thảy đều tin rằng tôi đã hóa điên… Và còn nữa, còn nữa: chẳng phải chúng tôi sắp tới nhà Hầu tước Giglio hay sao? Vậy được, chính ngày hôm ấy, tôi sẽ bắt đầu tán tỉnh tiểu thư Pantogada.
“Em sẽ càng khinh thường tôi thêm nữa, như vậy đó, Adriana!” – Trở mình trên giường, tôi rên rỉ. – “Còn điều gì khác, còn điều gì khác tôi có thể làm cho em?”
Khoảng hơn 4 giờ, ông Anselmo tới gõ cửa phòng tôi.
– Tôi đây, – tôi nói, rồi chạy đi mặc chiếc áo khoác. – Tôi đã sẵn sàng.
– Ngài đi thế này ư? – Ông Paleari nhìn tôi kinh ngạc và hỏi.
– Sao cơ? – Tôi nói.
Rồi tôi lập tức nhận ra rằng mình vẫn đội chiếc mũ bê rê du lịch mà tôi quen đội trong nhà. Tôi cất nó vào túi rồi lấy chiếc mũ từ trên giá treo, trong khi ông Anselmo cười, cười cứ như thể ông ấy…
– Ngài đi đâu vậy, ngài Anselmo?
– Ngài cũng hãy xem tôi ăn mặc thế nào để chuẩn bị ra ngoài đây, – ông ấy đáp giữa tràng cười, rồi lấy tay chỉ cho tôi đôi dép đi trong nhà của ông. – Ngài ra đi, ra phía kia kìa; có Adriana ở đó…
– Cả cô ấy cũng đi sao? – Tôi hỏi.
– Nó không muốn đi, – bắt đầu quay trở về phòng mình, ông Paleari nói. – Nhưng tôi đã thuyết phục nó. Ngài ra đi: nó ở phòng ăn, sẵn sàng rồi…
Trong căn phòng kia cô Caporale tiếp tôi với ánh mắt mới hằn học, trách móc làm sao! Cô ấy, bản thân đã chịu biết bao đau khổ vì ái tình và đã bao lần cảm thấy được an ủi bởi nàng thiếu nữ ngây thơ kia, và giờ thì Adriana đã biết đến ái tình, giờ thì Adriana đã tổn thương, cô ấy muốn đến lượt mình an ủi nàng, với thái độ biết ơn và ân cần. Cô ấy phản đối tôi, bởi cô cho rằng thật không công bằng khi tôi đã làm tổn thương một sinh vật tốt bụng và xinh đẹp đến vậy. Với cô thì có thể, cô chẳng xinh đẹp cũng không tốt bụng, và vậy thì nếu đàn ông muốn đối xử tàn tệ với cô thì ít nhất họ cũng có chút cái cớ. Nhưng tại sao lại làm Adriana tổn thương thế này?
Ánh mắt của cô đã nói cho tôi như vậy, và rồi nó mời tôi tới xem người con gái mà tôi làm khổ.
Nàng nhợt nhạt làm sao! Tôi vẫn nhìn ra được trong mắt nàng rằng nàng đã khóc. Ai biết được nàng đã buộc phải nỗ lực biết bao nhiêu, trong đau thương, để thay đổi trang phục mà ra ngoài với tôi.
*
Dù cho tôi tâm trạng rối bời, hình dáng của Hầu tước Giglio d’Auletta cũng như căn nhà của ông tạo cho tôi một cảm giác tò mò nhất định.
Tôi được biết ông ấy ở Roma bởi, cho tới giờ, chẳng có mưu chước nào có thể phục hưng Vương quốc Hai Sicilia ngoài cuộc chiến giành lấy quyền lực thế tục: khi giành lại được Roma cho Giáo Hoàng, sự thống nhất của Italia sẽ bị đạp đổ, và rồi… ai biết được! Ngài Hầu tước chẳng muốn liều mình tiên đoán thêm gì nữa. Bấy giờ, nhiệm vụ của ông đã được định ra rõ ràng: chiến đấu không nhân nhượng trên mặt trận của giới tăng lữ. Và nhà của ông ấy thường được ghé thăm bởi những Giám mục cứng đầu cứng cổ nhất của Giáo triều Roma, cũng như những Hiệp sĩ nhiệt thành nhất của Đảng Đen1.
Tuy nhiên, ngày hôm ấy, chúng tôi chẳng thấy ai giữa căn sảnh rộng lớn được trang hoàng tráng lệ. Ý là, không hẳn vậy. Ở giữa sảnh có một giá tranh, dựng trên đó là một tấm toan đã phác được phân nửa. Đó hẳn phải là bức chân dung của Minerva, con chó cái bé nhỏ của Pépita. Nó đen tuyền, nằm duỗi trên một chiếc ghế bành trắng toát, cái đầu vươn dài, gối lên hai chi trước.
– Tác phẩm của họa sĩ Bernaldez, – Papiano trịnh trọng thông báo, cứ như thể hắn đang diễn thuyết, và đòi hỏi từ phía chúng tôi một cái cúi đầu sâu thật sâu.
Bước vào trước tiên là Pépita Pantogada và bà nhũ mẫu Candida.
Tôi đã nhìn thấy cả người này lẫn người kia trong cảnh tranh sáng tranh tối phòng tôi: giờ, trước ánh sáng, tôi trông cô Pantogada như một người khác; không hoàn toàn khác hẳn, nhưng trên mũi… Có thể nào cô ta có cái mũi ấy khi ở trong nhà tôi hay sao?
Tôi đã tưởng rằng cô ta có cái mũi nho nhỏ hếch lên kiêu hãnh, nhưng thay vào đó thì mũi cô ta khoằm, chắc nịch. Nhưng trông như thế cô vẫn đẹp: da nâu, đôi mắt ngời sáng, mái tóc bóng bẩy, đen nháy và lượn sóng; đôi môi khỏe khoắn, thanh mảnh và rực đỏ. Bộ váy tối màu, điểm xuyết những chấm trắng tạc lên trên cái cơ thể thanh thoát yêu kiều kia. Sánh cạnh cô ta, vẻ đẹp thần bí của Adriana tóc vàng trở nên mờ nhạt.
Và rồi cuối cùng tôi cũng biết được bà Candida có cái gì trên đầu! Một bộ tóc giả màu vàng ánh đỏ hoành tráng, xoăn tít, và – trên bộ tóc giả – một chiếc khăn lớn bằng lụa xanh da trời, hay đúng hơn là một chiếc khăn choàng, được buộc lại một cách nghệ thuật dưới cằm bà. Thân hình bà càng căng tràn sức sống bao nhiêu, khuôn mặt nhỏ thó của bà càng gầy guộc và yếu ớt bấy nhiêu, dù cho toàn bộ khuôn mặt ấy đã bự phấn, được đánh bóng và trang điểm.
Trong khi ấy, Minerva, con chó cái già, gắng gượng sủa lên những tiếng khàn khàn, nó chẳng để mọi người chào hỏi. Thế nhưng cái con vật bé nhỏ tội nghiệp ấy không sủa chúng tôi; nó sủa cái giá tranh, sủa cái ghế bành trắng, mà hẳn đối với nó ấy chính là những công cụ tra tấn: nó phản đối và đùng đùng giận dữ. Nó muốn đuổi cái dụng cụ ba chân dài đáng nguyền rủa ấy ra khỏi sảnh. Nhưng rồi vì cái dụng cụ kia chôn chân tại chỗ, bất động và hằm hè, nó vừa sủa vừa lùi lại, rồi nó nhảy xổ về phía trước, nhe răng, và rồi nó lại cáu kỉnh thu mình về.
Nhỏ bé, to bè, béo ị trên bốn chi quá đỗi mỏng manh, Minerva thực sự vô duyên. Đôi mắt nó lòa đi vì tuổi già, những sợi lông đầu ngả bạc. Trên lưng nó, đoạn khấu đuôi trụi lông vì thói quen cọ mạnh vào dưới tủ, dưới cạnh ghế, vào bất cứ đâu và bất cứ thứ gì nó tìm được, về điều ấy tôi đã biết được ít nhiều.
Pépita bỗng túm lấy cổ nó rồi đặt nó vào tay bà Candida, và cô gào lên:
- Cito! Im mồm!
Giữa lúc ấy, don Ignazio Giglio d’Auletta bước vào đầy giận dữ. Ông gù, người như sắp gãy làm đôi. Ông chạy lại chỗ ghế bành bên cửa sổ, và – ngay khi ngồi xuống – ông đặt cây ba toong giữa hai chân, hít một hơi thật sâu rồi nở nụ cười với sự mệt mỏi chí tử của mình. Khuôn mặt ông lộ vẻ kiệt sức, cày xới bởi những nếp nhăn theo chiều thẳng đứng. Nhẵn thín, khuôn mặt ấy xanh xao như người chết, nhưng đôi mắt thì ngược lại, tràn đầy sức sống, nảy lửa, gần như đôi mắt người trẻ. Một vài lọn tóc bự chảng kỳ lạ buông dài, bết vào thái dương, vào má ông, trông tựa như những cái lưỡi màu tro ướt át.
Ông đón tiếp chúng tôi một cách vô cùng lịch thiệp, nói chuyện với chúng tôi bằng thứ thổ âm Napoli đặc sệt. Ông mời thư ký của mình tiếp tục trình dẫn cho chúng tôi những kỷ vật được trưng bày tràn ngập sảnh và minh chứng cho lòng trung thành của ông với nhà Borbone. Khi chúng tôi tới trước một bức tranh nhỏ phủ một tấm màn xanh lá thêu dòng chữ vàng kỳ bí: “Ta không che giấu; ta bảo vệ; hãy nâng ta tên mà đọc lấy”, ông nhờ Papiano tháo bức tranh ra khỏi tường và đem lại chỗ ông. Phía dưới, được đóng khung kính, là một bức thư của Pietro Ulloa2 mà hồi tháng Chín năm 1860, những ngày tháng cuối cùng của Vương quốc, ông ta đã mời Hầu tước Giglio d’Auletta tham gia vào Nội các mà rồi sau đó ông chẳng thể thành lập. Bên cạnh đó là bản nháp bức thư chấp thuận của ngài Hầu tước: bức thư kiêu dũng giẫm đạp lên tất cả những kẻ đã chối từ việc nắm lấy quyền hành và trách nhiệm trong giây phút hiểm nguy cùng cực, hỗn độn tang thương, khi đứng trước kẻ thù, trước tên hải tặc Garibaldi bấy giờ đã gần tới cửa ngõ Napoli.
Cao giọng đọc bức thư này, ông lão ấy mặt bừng sáng và xúc động biết bao, tới mức ngay cả khi những gì ông ấy đọc hoàn toàn đối lập với cảm xúc của bản thân, ông vẫn đánh thức trong tôi lòng ngưỡng mộ. Về phần mình, ông cũng từng là một anh hùng. Tôi có được một minh chứng khác, khi chính ông kể lại cho tôi cầu chuyện của một bông hoa bách hợp bằng gỗ dát vàng, cũng được đặt trong sảnh. Sáng ngày mùng năm tháng Chín năm 1860, Đức vua rời khỏi Hoàng cung Napoli trên một cỗ xe mở, cùng Hoàng hậu và hai quý tộc trong triều, tới đường Chiaia cỗ xe phải dừng bước bởi một đám xe cộ và phương tiện đương kẹt lại trước một tiệm thuốc treo tấm biển với những bông hoa bách hợp dát vàng. Một chiếc thang bắc lên tấm biển đang cản trở lối đi. Đôi ba người thợ trèo lên chiếc thang ấy mà gỡ những bông hoa bách hợp khỏi tấm biển. Đức vua phát hiện và chỉ cho Hoàng hậu thấy cái hành động cẩn trọng mà đê hèn của tên bán thuốc. Vào những thời đại khác, hẳn lão ta đã lấy làm vinh hạnh mà trang hoàng cửa tiệm của lão bằng biểu tượng Hoàng gia. Hầu tước d’Auletta, giây phút ấy đương đi ngang qua: bực bội, giận dữ, ông nhanh chóng vào trong tiệm thuốc mà nắm lấy cổ áo tên đê hèn kia, rồi chỉ cho hắn Đức vua ngoài kia, thế rồi ông nhổ vào mặt hắn, và giương lên một trong những bông hoa bách hợp bị tháo rời nọ, ông bắt đầu hô vang giữa đám đông: “Đức vua vạn tuế!”.
Giờ đây, được đặt trong sảnh, bông hoa bách hợp bằng gỗ này gợi nhớ cho ông về buổi sáng tháng Chín đáng buồn kia, và một trong những chuyến đi cuối cùng mà Quốc vương của ông thực hiện trên đường phố Napoli. Ông tôn vinh nó như thể chiếc chìa khóa vàng của các quần thần trong triều hay huy hiệu Hiệp sĩ Thánh Gennaro và nhiều thật nhiều những danh hiệu khác đương trang hoàng lộng lẫy trong sảnh, bên dưới hai bức chân dung khổ lớn bằng dầu của Ferdinando và Francesco II3.
Một lúc sau, để bắt đầu thực hiện cái kế hoạch đáng buồn mà tôi đã vạch ra, tôi để ngài Hầu tước lại với ông Paleari và Papiano, rồi tôi tiến lại gần Pépita.
Ngay lập tức tôi nhận ra cô nàng đương vài phần bồn chồn không yên. Trước nhất cô hỏi giờ tôi.
- Quattro e meccio? Bốn rưỡi? Được! Được!
Dù cho quattro e meccio có là gì đi chăng nữa thì hiển nhiên nó không làm cô vui lòng: tôi luận ra từ hai chữ “Được! Được!” mà cô nghiến chặt răng thốt ra, và rồi cũng từ bài diễn thuyết như tên bắn và kích động mà chỉ một lúc sau cô buông ra chống lại Italia và hơn hết là chống lại Roma khi chúng quá đỗi tự kiêu vì những gì đã qua. Thêm vào đó, cô bảo tôi rằng ngay cả họ, ở Tây Ban Nha, họ cũng có một Đại Hý Trường như của chúng tôi, cùng niên đại; nhưng họ chẳng chăm chút nó dù ít dù nhiều:
- Piedra muerta! Cứt đái!
Đối với họ, một đấu trường bò tót có giá trị hơn gấp vạn lần. Vâng, và đặc biệt đối với cô, vượt lên trên tất thảy những tuyệt tác của nghệ thuật cổ xưa chính là bức chân dung Minerva của chàng họa sĩ Manuel Bernaldez, người đến muộn. Nguyên nhân cho sự thiếu kiên nhẫn của Pépita chẳng là gì khác, và giờ nó đã lên tới đỉnh điểm. Cô run run nói; thi thoảng, cô lướt ngón tay lên mũi nhanh như cắt; cô cắn môi; hết xòe tay lại nắm tay, còn con mắt cô luôn hướng về phía đằng kia, chỗ cánh cửa.
Cuối cùng, hầu phòng cũng thông báo rằng Bernaldez đã tới. Chàng ta xuất hiện, người nóng bừng, mồ hôi nhễ nhại, cứ như thể chàng ta vừa chạy tới. Ngay lập tức Pépita quay lưng lại mà cố tỏ thái độ lạnh lùng vô cảm. Sau khi chào ngài Hầu tước, chàng ta lại gần chỗ chúng tôi, hay đúng hơn là chỗ Pépita, nói với cô bằng ngôn ngữ của họ và xin lỗi vì sự chậm trễ. Lúc ấy, cô ta chẳng thể kiềm mình được nữa và đáp lời chàng với tốc độ tên bắn:
– Trước tiên ngài hãy nói tiếng Italia, bởi đây chúng ta đang ở Roma. Có các ngài đây và họ không hiểu tiếng Tây Ban Nha, và tôi chẳng hề thích khi ngài nói chuyện với tôi bằng tiếng Tây Ban Nha. Cũng xin thưa với ngài rằng tôi chẳng quan tâm một chút nào đến việc ngài đến muộn, ngài có thể bớt lời biện minh của mình được rồi đấy.
Khiêm nhường vô cùng, chàng ta cười e thẹn và cúi đầu. Thế rồi chàng ta hỏi liệu có thể tiếp tục bức chân dung hay không, khi bấy giờ hẵng còn chút ánh sáng.
– Xin cứ tự nhiên! – Cô đáp lại với dáng vẻ và giọng điệu không thay đổi. – Lei puede pintar senza de mi o tambien borrar lo pintado, come glie par. Ngài có thể vẽ mà chẳng cần tôi hoặc xóa bỏ toàn bộ bức họa, cứ làm những gì ngài muốn.
Manuel Bernaldez lại cúi đầu và quay ra phía bà Candida, lúc ấy với con chó cái bé nhỏ trong tay.
Cuộc tra tấn một lần nữa bắt đầu đối với Minerva. Nhưng kẻ hành hạ nó còn chịu một sự tra tấn độc ác hơn bội phần: để trừng phạt chàng ta vì chậm trễ, Pépita đã đưa đẩy với tôi vô vàn những lời tán tỉnh mà tôi thiết nghĩ là quá nhiều cho cái mục đích mà tôi hướng tới. Thi thoảng liếc trộm Adriana, tôi nhận thấy nàng đau khổ biết nhường nào. Sự tra tấn không chỉ dành cho Bernaldez và Minerva; nó còn dành cho cả tôi và nàng. Tôi thấy mặt mình nóng bừng, cứ như thể tôi đương say dần, say dần khi khiêu khích chàng trai trẻ tuổi tội nghiệp kia, thế nhưng chàng ta chẳng khiến tôi cảm nhận chút thương cảm: ở nơi đó, chỉ Adriana mới khiến tôi thương cảm. Và bởi tôi phải làm nàng tổn thương, nên tôi chẳng quan tâm đến việc ngay cả chàng ta cũng phải chịu đựng nỗi đau tương tự: hay đúng hơn là chàng ta càng chịu khổ nhiều bao nhiêu, tôi càng cảm thấy Adriana phải chịu ít đi bấy nhiêu. Dần dần, cảm xúc bạo liệt mà mỗi chúng tôi gây ra cho bản thân mình lớn dần lên và giãn căng tới mức mà bằng cách này hay cách kia, thứ cảm xúc ấy sẽ phải bùng nổ.
Minerva mở màn. Ngày hôm đó, không bị đôi mắt của cô chủ quản thúc, ngay khi chàng họa sĩ rời mắt để chú tâm vào tấm toan, nó lẳng lặng nhấc mình khỏi tư thế ép buộc, rồi đẩy các chi và cái đầu nhỏ thó qua khe hở giữa lưng và mặt ghế bành, như thể nó muốn đâm dúi vào trong ấy và giấu mình. Thế rồi nó trưng cho chàng họa sĩ cái hạ thể, một phát hiện đẹp đẽ, một chữ o, và nó quẫy quẫy cái đuôi thẳng đứng như trêu ngươi chàng ta. Đã vài lần bà Candida phải đặt nó về chỗ. Trong lúc hậm hực chờ đợi, Bernaldez nghe loáng thoáng một vài từ mà tôi nói với Pépita và thầm lẩm bẩm vài câu chỉ trích. Hơn một lần, khi nhận ra điều ấy, tôi những định rỉ tai chàng ta: “Ngài hãy nói to lên!”. Nhưng rốt cục chẳng thể chịu đựng thêm nữa, chàng ta gào lên với Pépita:
– Làm ơn: ít nhất hãy giữ yên con thú đi!
- Vestia, vestia, vestia… Con thú, con thú, con thú… – rất đỗi kích động, Pépita giãy nảy, hai tay quơ loạn xạ. – Có thể nó là con thú, nhưng ngài không được nói nó thế!
– Ai mà biết được nó hiểu những gì, thực tội nghiệp… – tôi nói với Bernaldez, đưa ra một chút lý do và nhận định.
Câu nói ấy thực sự có thể suy luận được theo hai cách hiểu; tôi chỉ nhận ra sau khi đã nói. Ý tôi muốn bảo: “Ai mà biết được nó hiểu những gì từ việc ngài đang làm”. Nhưng Bernaldez lại hiểu lời lẽ của tôi theo ý khác4, và với cảm xúc cực đoan mãnh liệt, chàng ta nhìn thẳng vào mắt tôi và đáp trả:
– Tôi hiểu những gì mà ngài không hiểu!
Trước ánh nhìn kiên định và thách thức của chàng ta, trong cơn kích động của mình, tôi không thể không đáp lời chàng:
– Nhưng tôi hiểu, quý ngài của tôi ơi, rằng ngay cả khi ngài là một họa sĩ tài hoa…
– Chuyện gì đấy? – Ngài Hầu tước nhận ra diễn tiến căng thẳng của chúng tôi và hỏi.
Mất hết mọi khả năng tự chủ, Bernaldez bật dậy mà đứng trân trân trước mặt tôi:
– Một họa sĩ tài hoa… Nói nốt đi!
– Một họa sĩ tài hoa, đó… nhưng tôi thấy có phần vô duyên. Ngài dọa con chó cái nhỏ bé đến sợ sệt, – lúc ấy tôi bảo chàng, vẻ cứng cỏi và khinh miệt.
– Tốt, – chàng ta nói. – Để xem chỉ có riêng lũ chó cái hay không.
Rồi chàng ta lùi bước.
Pépita bất chợt bật lên tiếng khóc kỳ lạ, co giật, và rồi cô ta ngã vào tay bà Candida và Papiano, bất tỉnh.
Giữa sự hỗn loạn bỗng chợt xảy tới, trong khi tôi cùng những người khác đương quan sát cô Pantogada nằm trên đi văng, tôi thấy một tay mình bị kéo lại. Tôi thấy Bernaldez, lúc ấy đã trở lại phía sau tôi. Tôi kịp thời chộp lấy bàn tay chàng ta đương giương lên và đẩy bật chàng ta trở lại, nhưng chàng ta một lần nữa tung mình và đánh sượt qua mặt tôi. Tôi giận dữ xông lên; nhưng Papiano và ông Paleari chạy tới mà kìm tôi lại, trong khi Bernaldez vừa lùi lại vừa gào lên:
– Nếu ngài có gan! Tôi sẵn sàng phục vụ ngài!… Ở đây người ta biết địa chỉ của tôi đấy!
Ngài Hầu tước nửa dựng dậy khỏi chiếc ghế bành, người run run. Ông gào lên trước kẻ gây sự. Trong khi ấy tôi vẫn đương tranh cãi với ông Paleari và Papiano. Hai ngươi họ cố cản tôi đuổi theo chàng ta. Cả ngài Hầu tước cũng gắng trấn an tôi và nói rằng, thân là một quý ông, tôi phải gọi hai người bạn đến mà dạy cho tên ác nhân kia một bài học thích đáng, khi hắn dám tỏ ra thiếu tôn trọng đến vậy trong nhà ông.
Toàn cơ thể rung lên, gần như chẳng thở được, tôi cáo lỗi vì sự vụ đáng tiếc và rồi chạy khỏi, theo sau là ông Paleari và Papiano. Adriana ở lại bên cạnh cô Pantogada bất tỉnh, lúc ấy vẫn đương được chăm sóc.
Giờ đến phiên tôi cầu xin kẻ trộm của mình làm chứng5: hắn và ông Paleari, còn ai tôi có thể cậy nhờ được nữa?
– Tôi ư? – Ông Anselmo thốt lên, ngây thơ và ngỡ ngàng. -Nhưng sao lại vậy! Không thưa ngài! Ngài nghiêm túc sao? – (Và ông cười). – Tôi đâu có biết gì về những chuyện ấy, tôi, ngài Meis… Thôi nào, thôi nào, thật ấu trĩ, ngu ngốc, xin ngài thứ lỗi…
– Ngài sẽ làm điều đó vì tôi, – không thể bắt đầu tranh luận với ông trong giây phút ấy, tôi hăng tiết gào lên. – Ngài cùng với con rể ngài sẽ tới tìm anh chàng kia, và…
– Tôi không đi! Ngài nói gì vậy! – Ông ngắt lời tôi. – Xin hãy yêu cầu tôi bất cứ việc gì khác: tôi sẵn sàng phục vụ ngài. Nhưng riêng việc này thì không: trước hết việc này không dành cho tôi; rồi thì thôi đi, tôi đã nói với ngài rồi: thực ấu trĩ! cần gì phải xem nặng chuyện đến thế… Quan hệ gì đâu chứ…
– Không! Không! – Papiano xen vào khi thấy tôi bức xúc. -Quan hệ rất nhiều ấy chứ! Ngài Meis có toàn quyền được đòi hỏi sự thỏa mãn; thậm chí con còn cho là nghĩa vụ, chắc chắn rồi! Ngài phải, ngài phải…
– Vậy ngài hãy đi cùng với một người bạn của ngài, – tôi nói, không mảy may nghi ngờ rằng tới cả hắn cũng từ chối.
Nhưng Papiano chìa hai tay ra với vẻ đau thương cùng quẫn.
– Ngài biết rõ tôi những muốn đi biết bao đấy!
– Vậy ngài không đi sao? – Đương giữa đường, tôi thét lớn.
– Bình tĩnh nào, ngài Meis, – hắn thỉnh cầu, vẻ khiêm nhường. – Ngài nghĩ xem… Nghe này: ngài thử xét… xét xem cái hoàn cảnh sống dựa dẫm vô cùng bất hạnh của tôi… một tên thư ký hèn mọn của ngài Hầu tước… một thằng hầu, thằng hầu, thằng hầu…
– Ngài còn gì phải e ngại điều gì? Chính ngài Hầu tước… ngài không nghe thấy sao?
– Vâng thưa ngài! Nhưng ngày mai? Một tu sĩ… trước đảng phái của ông ta… với một thư ký dính líu vào những sự vụ Hiệp sĩ… Ôi, Chúa thiêng liêng, ngài chẳng biết rắc rối thế nào đâu! Rồi thì cô ả kia, ngài đã thấy chưa? Như một con mèo, cô ta yêu gã họa sĩ, tên hạ lưu ấy… Mai họ sẽ làm lành, và vậy thì xin ngài thứ lỗi, tôi sẽ ra sao? Tôi sẽ vướng vào chuyện của họ! Xin ngài hãy bình tĩnh, ngài Meis, ngài hãy xét xem tình cảnh tôi… Chuyện là thế đấy.
– Vậy các ngài muốn bỏ mặc tôi lúc hoạn nạn thế này hay sao? – Giận dữ, một lần nữa tôi bùng nổ. – Ở Roma, tôi chẳng quen một ai cả!
– …Có cách giải quyết! Có cách giải quyết! – Papiano nhanh chóng gợi ý. – Tôi đã muốn bảo với ngài ngay lập tức… Tôi, cũng như bố vợ tôi, xin ngài hãy tin, chúng tôi cũng khó khăn lắm; chúng tôi hết cách… Ngài có lý, ngài đùng đùng giận dữ, tôi biết: giọt máu nào phải nước lã. Vậy nên, ngài hãy tìm lấy hai sĩ quan của Quân đội Hoàng gia: họ không thể từ chối việc đại diện cho một quý ông như ngài trong một trận quyết đấu danh dự. Ngài hãy đến chỗ họ, trình bày hoàn cảnh của mình… Cũng chẳng phải lần đầu họ thi hành nhiệm vụ này cho một người lạ.
Chúng tôi đã tới trước cổng nhà; tôi bảo Papiano: – Ngài được lắm! – Rồi tôi bỏ hắn lại đó, với ông bố vợ. Tôi cất bước rời đi, rầu rĩ, chẳng rõ phương hướng.
Một lần nữa tôi lại phải đối mặt với suy nghĩ choáng ngợp về sự bất lực tuyệt đối của mình. Tôi có thể nào quyết đấu trong tình trạng này? Tôi vẫn chưa hiểu rằng mình chẳng thể làm gì nữa hay sao? Hai sĩ quan? Vâng. Nhưng trước tiên họ sẽ muốn biết, và hợp lý thôi, rằng tôi là ai. Ôi, người ta có thể nhổ thẳng vào mặt tôi, tát tôi, đánh tôi: tôi phải khẩn cầu người ta rằng hãy cứ đánh tôi thực mạnh như người ta muốn, vâng, nhưng đừng gào lên, đừng gây ra quá nhiều tiếng động… Hai sĩ quan! Và nếu chỉ thoáng chốc tôi đã để lộ cho họ thấy thân phận thật của mình, đầu tiên họ sẽ không tin lời tôi, ai biết được họ sẽ nghi ngờ những gì; rồi thì sẽ vô ích, cũng như với Adriana vậy: cả khi họ tin tôi, trước tiên họ sẽ khuyên tôi sống lại, bởi một kẻ đã chết không thể đòi thực thi bất cứ điều khoản nào của Bộ luật Hiệp sĩ.
Vậy nên tôi phải ngoan ngoãn chịu đựng sự khiêu khích này, cũng như vụ trộm? Bị sỉ nhục, xém bị tát vào mặt, bị thách thức, bỏ đi như một tên hèn nhát, biến mất trong bóng tối của vận mệnh vô cùng bức bối đang chờ tôi phía trước, khinh thị, thù ghét bản thân mình?
Không, không! Vậy tôi có thể cách nào mà sống được đây? Làm sao tôi chịu đựng được cuộc sống này? Không, không, đủ rồi! Đủ rồi! Tôi dừng lại. Tôi thấy mọi thứ xung quanh như quay cuồng: tôi chẳng còn cảm thấy đôi chân mình khi bất chợt nảy ra một suy nghĩ đen tối, cái suy nghĩ khiến tôi ớn lạnh từ đầu tới chân.
“Nhưng ít nhất thì trước tiên, trước tiên…” mê sảng, tôi tự nhủ, “ít nhất thì trước tiên phải thử… tại sao không? Nhỡ người ta giúp mình thì sao… Ít nhất phải thử… Mình không thể hèn hạ như thế được… Nếu người ta giúp mình… Mình sẽ đỡ ghê tởm bản thân hơn… Dấu sao thì mình cũng đâu còn gì để mất… Tại sao không thử?”
Tôi cách quán cà phê Aragno hai bước chân. “Ở đó, ở đó, làm tới thôi!” Rồi, trong cơn kích động mù quáng tột cùng đang thôi thúc, tôi bước vào.
Ở phòng đầu tiên, quanh một cái bàn, có năm hay sáu viên sĩ quan thuộc lực lượng Pháo binh. Một người trong số họ nhìn thấy tôi dừng lại gần đó với vẻ ám muội, chần chừ, cậu ta quay ra nhìn. Tôi chào cậu ta, và với giọng đứt quãng vì hụt hơi:
– Khẩn cầu ngài… xin ngài thứ lỗi… – Tôi nói. – Tôi có thể nói chuyện với ngài một chút được không?
Ấy là một chàng thanh niên thấp bé, không râu ria, hẳn vừa mới tốt nghiệp Học viện chính năm ấy, hàm trung uý. Cậu đứng dậy ngay lập tức và bước tới chỗ tôi, vẻ nhiều phần lịch thiệp.
– Xin cứ nói, thưa ngài…
– Đây, tôi xin tự giới thiệu: tôi tên Adriano Meis. Tôi là một ngoại nhân, và tôi không quen ai cả… Tôi có một… một xích mích, vâng… Tôi cần hai người làm chứng… Tôi chẳng biết nhờ cậy ai nữa… Nếu ngài và một người bạn của ngài có thể…
Bất ngờ, ngỡ ngàng, cậu ta đứng một hồi mà xem xét tôi, rồi cậu quay sang phía mấy người bạn và gọi:
– Grigliotti!
Ông này là một trung uý già với cặp ria mép vĩ đại hếch lên, chiếc kính một mắt dính chặt vào một bên mắt, tóc thẳng, vuốt sáp. Ông đứng dậy, trong lúc tiếp tục nói chuyện với những người bạn khác (ông phát âm chữ r kiểu Pháp) và tiến lại chỗ chúng tôi, bình tĩnh gật đầu, vẻ suy xét. Khi thấy ông đứng dậy, tôi đã muốn nói với cậu trung uý thấp bé kia: “Ông kia thì không, làm ơn đấy! Ông kia thì không!” Nhưng hẳn nhiên chẳng còn ai trong nhóm có khả năng hơn trong sự vụ kiểu này, như rồi tôi nhận thấy. Ông thuộc làu tất thảy những điều lệ của Bộ luật Hiệp sĩ.
Tôi chẳng thể nào diễn giải từng từ từng chữ ra đây tất cả những gì mà ông ta thấy cần phải nói với tôi về hoàn cảnh của mình, tất cả những gì ông đòi hỏi từ tôi… tôi phải đánh một bức điện báo, tôi chẳng biết cách nào, chẳng biết cho ai, phải bày tỏ, chọn ra những điểm chính yếu, tới chỗ một đại tá… ça va sans dire - lẽ dĩ nhiên… như ông ấy đã làm khi chưa nhập ngũ, và hoàn cảnh y hệt của tôi xảy đến với ông ở Pavia… Bởi, khi bàn về vấn đề Hiệp sĩ… và tiếp nữa, tiếp nữa, những điều lệ rồi tiền lệ rồi tranh cãi rồi lời thề danh dự và những gì nữa tôi chẳng biết.
Tôi đã bắt đầu cảm thấy bất an ngay từ giây phút lần đầu tiên thấy ông: giờ thì hẳn nhiên, khi nghe ông ta dông dài như vậy! Tới một lúc, tôi chẳng thể chịu thêm nữa: máu tôi chạy ngược lên đầu, tôi ngắt lời:
– Vâng thưa ngài! Tôi biết điều đó! Ngài tốt lắm… ngài nói đúng lắm; nhưng ý ngài là sao khi bảo tôi phải đi đánh bức điện báo, ngay bây giờ đây? Tôi chỉ có một mình! Tôi muốn quyết đấu, đó! Ngay lập tức quyết đấu, ngay ngày mai, nếu có thể… không nhiều chuyện! Ngài muốn tôi biết những chuyện ấy để làm gì cơ chứ? Tôi đã cậy nhờ tới các ngài với hi vọng rằng sẽ chẳng cần đến nhiều thủ tục, đến những chuyện phù phiếm, ngu ngốc, xin ngài thứ lỗi!
Sau cơn bùng nổ ấy, cuộc đối thoại gần như trở thành cãi vã và đột nhiên chấm dứt bằng một tràng cười thô tục của tất cả những viên sĩ quan kia. Mất hết thần trí, tôi bỏ chạy, mặt bừng bừng, như thể họ đã bắt lấy tôi mà vụt vậy. Tôi đưa tay lên đầu, như để níu giữ lấy lý trí đang rời khỏi con người tôi. Bị tràng cười ấy bám theo, tôi rời đi giận dữ, để lủi mình, giấu mình ở một nơi nào đó… Ở đâu? Nhà ư? Ngôi nhà khiến tôi khiếp hãi. Tôi phóng đi, phóng đi như một kẻ điên; rồi từ từ tôi chậm bước và cuối cùng, hết hơi, tôi dừng lại, như chẳng thể kéo theo linh hồn mình thêm nữa, khi ấy đã nhụt chí vì sự nhạo báng kia, giận dữ và tràn đầy suy nghĩ rầu rĩ nặng nề. Tôi dừng lại một hồi mà ngỡ ngàng. Rồi chẳng nghĩ ngợi gì thêm, tôi lại di chuyển, bỗng chốc như trút bỏ được mọi nỗi đau một cách lạ kỳ; tôi mụ mị. Tôi tiếp tục lang thang chẳng biết bao lâu, dừng lại chỗ này chỗ kia mà nhìn ngắm qua khung kính những cửa hiệu. Dần dần những khung cửa ấy khép lại, và tôi những tưởng chúng khép lại đối với tôi, vĩnh viễn. Tôi thấy dòng người trên đường ngày một thưa dần, như bỏ tôi lại một mình trong màn đêm, lang thang giữa những ngôi nhà im lìm, tối tăm, với tất cả những cánh cửa, những khung cửa sổ khép kín, khép kín đối với tôi, vĩnh viễn: hết thảy cuộc sống này đều khóa kín, tắt lịm, lặng thinh trong màn đêm nọ. Tôi đã nhìn thấy cuộc sống ấy từ đằng xa, như thể nó chẳng còn ý nghĩa hay mục đích gì cho tôi. Và kìa, rốt cục thì, dù cho tôi chẳng muốn, gần như được dẫn dắt bởi thứ cảm xúc đen tối đã chiếm lĩnh tôi tất thảy, lớn lên dần dần trong tôi, tôi đã ở trên cầu Margherita, dựa mình vào thành cầu, phóng tầm mắt mà quan sát dòng sông đen kịt trong màn đêm.
“Dưới đó ư?”
Tôi rùng mình kinh ngạc. Nỗi kinh ngạc với một cú huých giận dữ đã dựng dậy tất cả năng lượng sống trong tôi, trang bị cho chúng một thứ cảm xúc thù hằn dữ dội, chống lại những kẻ mà từ đằng xa, họ khiến tôi phải kết liễu cuộc đời mình, cũng như họ đã từng ở mạn đó, bên cối xay khu Lồng gà. Họ, Romilda và bà mẹ nàng, đã đẩy tôi vào những tình cảnh này: ôi, tôi chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện làm giả một vụ tự sát để chạy thoát khỏi họ. Và kìa, giờ đây, sau khi lang bạt hai năm trời như một cái bóng, giữa ảo ảnh của một cuộc sống đằng sau cái chết, tôi thấy mình bị bó buộc, bị cưỡng ép, bị túm tóc lôi đi mà tiếp tục thực hiện bản án của họ dành cho tôi. Họ đã thực sự giết chết tôi rồi! Và họ, chỉ riêng họ thoát khỏi tôi…
Tôi rùng mình phản kháng. Lẽ nào tôi không thể trả thù họ, thay vì tự sát hay sao? Tôi chuẩn bị giết ai? Một kẻ đã chết… chẳng ai cả…
Tôi đứng đó, như thể lóa mắt vì một luồng sáng kỳ quái bất chợt. Trả thù! Vậy thì tôi sẽ trở về đó, về Miragno? Tôi sẽ chui ra khỏi lời dối trá đang siết tôi nghẹt thở mà tôi chẳng thể tiếp tục. Tôi sẽ trở về để hành hạ họ, với tên thật của mình, với hoàn cảnh thật của mình, với chính nỗi bất hạnh thật sự của mình? Nhưng còn hiện tại? Liệu rằng tôi có thể trút bỏ hiện tại như vậy, như trút bỏ một gánh nặng quá thể mà người ta có thể vứt đi hay chăng? Không, không, không! Tôi thấy mình không thể. Rồi tôi đứng đó trên cầu mà khó chịu, trăn trở vì vận mệnh bản thân.
Trong lúc ấy, tôi thò tay vào trong túi áo khoác, với những ngón tay run rẩy tôi nắm lấy một vật mà tôi chẳng hiểu là thứ gì. Rốt cục, với một động tác đầy giận dữ, tôi kéo giật nó ra ngoài. Là chiếc mũ bê-rê du lịch, chiếc mũ mà khi ra khỏi nhà để tới thăm ngài Hầu tước Giglio, tôi đã nhét vào túi mà chẳng để ý. Tôi những định vứt nó xuống sông, nhưng – ngay lúc ấy – một ý tưởng loé lên trong đầu tôi; một suy ngẫm hình thành trên chuyến đi từ Alenga tới Torino trở lại rõ rệt trong tâm trí tôi.
“Ở đây,” tôi tự nhủ gần như trong vô thức, “trên thành cầu này… chiếc mũ… cây ba toong… Đúng rồi! Như họ đã làm với Mattia Pascal ở đó, dưới lòng kênh bên cối xay; mình sẽ làm với Adriano Meis ở đây, bây giờ… Một mạng đổi một mạng! Mình sẽ trở lại thành người sống; mình sẽ trả thù!”
Một xúc cảm hạnh phúc, hay đúng hơn một cơn điên rồ chiếm lấy tôi, nâng đỡ tôi. Đúng vậy! Đúng vậy! Tôi không phải giết chết bản thân mình, một kẻ đã chết, mà tôi phải giết chết cái ảo ảnh điên rồ và nực cười đã giày vò, tra tấn tôi suốt hai năm trời, chính là tên Adriano Meis kia, kẻ bị kết án là một tên hèn nhát, một tên nói láo, một tên hạ cấp. Tôi phải giết chết tên Adriano Meis kia, kẻ đã sống với một cái tên giả, và chắc hẳn cũng phải có một bộ não bằng tơ gai, một trái tim bằng bìa giấy, những mạch máu bằng cao su mà trong đó hẳn phải chảy trôi một chút thứ nước vẩn đục nào đó thay vì máu: vậy thì được! Thế nên, nào, xuống kia, xuống kia đi, con rối thảm hại đáng ghét! Xuống đó mà chết đuối đi, cũng như Mattia Pascal ấy! Đến lượt mày rồi đó! Cái bóng của cuộc sống dựng lên từ một lời dối trá rùng rợn, sẽ được khép lại một cách xứng đáng, bằng một lời dối trá rùng rợn! Và tôi sẽ sửa lại tất cả!
Tôi còn cách nào khác khiến cho Adriana hài lòng vì những sự việc xấu xa mà tôi đã gây ra cho nàng? Nhưng sự sỉ nhục của tên hạ lưu kia, tôi phải chịu đựng hay sao? Gã ta đã tấn công tôi, tên hèn hạ ấy! Ôi, tôi chắc chắn chẳng có gì mà phải sợ gã ta nữa. Không phải tôi, không phải tôi, mà chính Adriano Meis đã chịu sự sỉ nhục ấy. Và giờ, kia, Adriano Meis tự sát.
Chẳng còn lối thoát nào cho tôi!
Trong khi ấy, nỗi thấp thỏm đã chiếm lấy tôi, cứ như thể tôi sẽ thực sự phải giết chết ai đó. Nhưng rồi não bộ tôi bỗng dưng được khai thông, trái tim tôi nhẹ bẫng, và tôi cảm thấy tinh thần mình sáng tỏ hạnh phúc.
Tôi nhìn quanh. Tôi ngờ rằng ở bên kia, trên đường Lungotevere, ai đó, một tên bảo vệ nào đó, khi nhìn thấy tôi đứng hồi lâu trên cầu, có thể hắn sẽ dừng lại mà theo dõi tôi. Tôi muốn chắc chắn: tôi đi ra, thoạt tiên quan sát Quảng trường Liberia, rồi đoạn đường Lungotevere dei Mellini. Không có một ai! Tôi trở lại phía sau. Nhưng trước khi lên cầu, tôi dừng lại giữa những hàng cây, dưới một cột đèn: tôi xé một tờ giấy từ cuốn sổ tay rồi với cây bút chì tôi viết: Adriano Meis. Gì nữa? Không gì cả. Địa chỉ và ngày tháng. Vậy đủ rồi. Tất cả những gì của Adriano Meis đều ở đó, trong cái mù, trong cây ba toong. Tôi sẽ bỏ lại tất cả ở nhà, những bộ quần áo, những cuốn sách… Tiền, sau vụ trộm, tôi đã mang theo mình.
Tôi lẳng lặng trở lại cầu, người cúi thấp. Chân tôi run rẩy, trái tim như nổi lên giông bão trong lồng ngực. Tôi xuống tới một chỗ ít bị ánh đèn chiếu sáng nhất, và ngay lập tức tôi cởi mũ, kẹp vào dải băng trên mũ tờ giấy đã gập, rồi tôi đặt nó lên thành cầu, với cây ba toong bên cạnh. Tôi đội lên đầu chiếc mũ bê-rê du lịch may mắn đã cứu lấy mình, và tôi đi, mò mẫm trong bóng tối như một tên trộm, chẳng hề ngoảnh lại một thời đã qua.
1. Đảng Đen: tập hợp tầng lớp quý tộc cũ trung thành với Giáo triều Roma.
2. Pietro Calà Ulloa (1801 – 1879): một chính khách trung thành với nhà Borbone, Thủ tướng Vương quốc Hai Sicilia.
3. Ferdinando và Francesco II: hai Quốc vương cuối cùng của Vương quốc Hai Sicilia.
4. Vì trong câu nói của Adriano có chữ “nó” dùng ngôi lei, tương tự như Lei (ngài). Bernaldez hiểu nhầm câu nói của Adriano thành ý nghĩa rằng chàng ta không hiểu những gì Pépita nói.
5. Trong các trận đấu tay đôi nhằm bảo vệ danh dự, thường sẽ có người làm chứng.