Mattia Pascal Quá Cố

Lượt đọc: 56 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
NGÔI NHÀ VỚI CON CHUỘT CHŨI

❊ ❊ ❊

Hồi nãy, tôi đã vội nói rằng tôi biết rõ cha mình. Tôi chẳng biết ông là ai. Khi ông mất tôi mới có bốn tuổi rưỡi. Ông lái một chiếc thuyền trabaccolo1 của mình tới đảo Corse, nơi ông làm một vài thương vụ, và rồi chẳng trở lại nữa. Ông mắc bệnh và chết ở tuổi ba mươi tám, sau ba ngày sốt dịch. Thế nhưng, ông cũng để lại một gia tài cho vợ và hai con: Mattia (sẽ là tôi, và đã từng là tôi) và Roberto, người anh trai hơn tôi đôi tuổi.

Một vài lão già trong thị trấn vẫn thích thú kể lại về số của cải của cha tôi, mà nguồn gốc của chúng có thể nói là bí hiểm (trong khi số của cải này chẳng thể làm vấy bẩn ký ức về ông được nữa, bởi chúng đã bị xé lẻ và rơi vào tay kẻ khác mất rồi).

Họ kể rằng ông đã thắng được số của cải ấy nhờ chơi bài với tên thuyền trưởng một thuyền buôn của Anh ở Marseille. Sau khi thua sạch số tiền mang theo bên người, mà ấy là một khoản chẳng hề nhỏ, lão cược tiếp một lượng lớn lưu huỳnh tải trên thuyền từ Sicilia xa xôi, tài sản của một tay lái buôn người Liverpool đã thuê thuyền chở (họ biết cả chuyện này! Thế còn tên hắn thì sao?). Sau rốt, lão thuyền trưởng nhổ neo trong tuyệt vọng, chỉ để trầm mình giữa biển cả mênh mông. Chiếc thuyền cuối cùng cũng cập bến Liverpool, khoang thuyền nhẹ đi vì thiếu bóng lão thuyền trưởng.

May mắn thay, những người đồng hương của tôi vẫn lấp đầy con thuyền ấy bằng lòng ghen ăn tức ở.

Chúng tôi có đất và có nhà. Máu phiêu lưu và sáng suốt, cha tôi chẳng bao giờ buôn bán vững bền ở một chỗ: ông luôn lái chiếc trabaccolo của mình tới những nơi mà ông thấy tốt hơn, rồi mua vào một cách hợp lý và lập tức bán ra các mặt hàng đủ chủng loại. Và cũng bởi ông chẳng bao giờ bị cám dỗ bởi những thương vụ quá lớn hay mạo hiểm, ông đầu tư khoản lợi nhuận của mình từng chút từng chút một vào nhà và đất, ngay tại đây, trên quê hương bé nhỏ của mình, nơi mà ông hy vọng sẽ sớm được thảnh thơi với những thành quả mà bản thân đã khó nhọc giành lấy, hạnh phúc và bình yên bên người vợ và những đứa con của mình.

Ông thâu tóm một mảnh đất có tên Đôi bờ, đầy rẫy ô liu và dâu tằm, rồi cái trang trại Lồng gà, cả nơi đây cũng được ưu ái vô cùng với một khoảnh ao nhỏ xinh, và rồi được dựng thêm một cối xay bột. Ông mua cả một quả đồi Cựa sắt với vườn nho bậc nhất khu vực, và sau cùng là khu San Rocchino, nơi ông xây lên một tòa biệt thự tuyệt hảo. Trong thị trấn, ngoài ngôi nhà chúng tôi ở, ông còn tậu thêm hai ngôi nhà khác và mấy khoảnh đất hoang, giờ đây đã bị san phẳng để dựng quân xưởng.

Cái chết gần như chẳng ai ngờ tới của ông đã giáng cho chúng tôi một đòn trí mạng. Bất lực trước khối di sản, mẹ tôi phải cậy nhờ một kẻ vì đã chịu biết bao ơn huệ của cha tôi mà đổi đời, một kẻ ít nhất sẽ cảm thấy chút biết ơn, một kẻ mà ngoài lòng tận tâm và trung thực, lão chẳng phải hy sinh bất cứ thứ gì nhờ có những khoản bù đắp hậu hĩnh.

Mẹ tôi quả như một vị thánh! Bản tính nhút nhát và ngại va chạm, bà thực có ít kinh nghiệm về đời và về người! Nghe bà nói, tôi những tưởng một đứa trẻ. Bà nói giọng mũi và bởi vậy, bà cũng cười bằng mũi. Mỗi khi xấu hổ vì nụ cười, bà sẽ mím chặt môi lại. Mẹ tôi thanh mảnh vô cùng, vậy nên trông bà ngày càng héo hon sau cái chết của cha tôi; thế nhưng bà chẳng bao giờ than phiền về bệnh tật, và tôi tin rằng bà cũng chẳng bận tâm về nó bởi đã chấp nhận bệnh tật tựa hồ một hệ quả tất yếu của số mệnh đen đủi. Có thể bà cũng đang chờ đợi ngày ra đi vì đau buồn tột độ. Vậy nhưng bà vẫn phải cảm tạ Chúa trời đã giữ mình lại trần thế, dù cho bà có đớn đau vật vã đến nhường nào, vì lợi ích của hai đứa con trai.

Bà dành cho chúng tôi tình thương gần như ám ảnh, tràn đầy cảm xúc và âu lo: bà luôn muốn ở gần, tựa như sợ mất cả chúng tôi vậy, và bà thường sai kẻ hầu người hạ lùng khắp căn nhà rộng lớn mỗi khi chúng tôi rời xa bà đôi chút.

Trước đây, bà đã mù quáng phó mặc số phận mình cho người chồng; giờ thiếu ông, bà bỗng thấy lạc lõng giữa thế gian. Bà chẳng ra ngoài trừ những sáng Chủ nhật để đi Thánh Lễ ở một nhà thờ lân cận. Bà sẽ dẫn theo hai người hầu, những người mà bà đối đãi như thể họ hàng. Cũng chính trong ngôi nhà chúng tôi ở, bà chỉ sống trong ba phòng, bỏ mặc các phòng còn lại cho những người hầu mà họ chẳng mấy lưu tâm, và dĩ nhiên cho cả chúng tôi với mấy trò quỷ của mình.

Trong những căn phòng ấy, từ hết thảy những thứ đồ mang dáng vẻ cổ kính, những chiếc rèm bạc màu đều toát lên một thứ mùi xưa cũ, tựa như hơi thở từ một thời đại khác. Tôi nhớ có lần đã nhìn quanh với nỗi buồn man mác, giữa những vật dụng cũ kỹ im lìm, bất động, từ nhiều năm đã nằm đó vô dụng, và vô hồn.

Trong những người thường xuyên đến thăm mẹ tôi có bà cô bên nội, một bà gái già cáu kỉnh với đôi mắt liến láu, làn da nâu và vóc người cao lớn. Bà tên Scolastica. Khoảng thời gian mỗi lần bà tới chơi đều rất ngắn, bởi đương khi nói chuyện, bà đột nhiên tức tối, đùng đùng bỏ đi không một lời từ biệt, khiến từ tấm bé, tôi đã hãi bà biết bao. Tôi mở to mắt mà quan sát bà, nhất là những khi bà bật dậy, đằng đằng sát khí. Tôi nghe tiếng bà thét vào mặt mẹ tôi, bàn chân đầy giận dữ giậm xuống nền nhà:

– Chị không thấy mấy lỗ hổng sao? Là con chuột chũi! Con chuột chũi!

Bà ám chỉ lão Malagna, lão quản gia và cũng là kẻ đã âm thầm đào rỗng ngôi nhà của chúng tôi.

Cô Scolastica (về sau tôi mới biết) bằng mọi giá mong muốn rằng mẹ tôi sẽ đi bước nữa. Thường thường, những người chị em nhà chồng sẽ chẳng có cái ý tưởng này, cũng như sẽ chẳng đưa ra những lời khuyên kiểu vậy. Thế nhưng bà cô tôi tự cảm thấy cái bổn phận khắc nghiệt và khó chịu, rằng bà phải đòi lại công lý; chắc chắn vì lý do này hơn là vì tình yêu dành cho chúng tôi. Bà không chấp nhận việc lão ta cứ tiếp tục cướp của chúng tôi như vậy, không thể tiếp tục thế này nữa. Bấy giờ, vì sự bất lực tuyệt đối và mù quáng của mẹ, bà cô tôi thấy chẳng còn cách giải quyết nào khác ngoài việc kiếm cho bà người chồng thứ hai. Bà cô tôi thấy cái sứ mệnh ấy ở một người đàn ông tội nghiệp tên là Gerolamo Pomino.

Ông ta góa vợ và có một đứa con sống tới tận bây giờ, cũng tên Gerolamo giống cha, đồng thời là người bạn vô cùng thân thiết của tôi. Thậm chí còn hơn cả một người bạn, như tôi sẽ kể sau này. Từ ngày bé hắn hay cùng cha tới nhà chúng tôi, và hắn chính là cái gai trong mắt tôi và anh Berto.

Hồi còn trẻ, ông bố đã trường kỳ gian khổ để chinh phục cô Scolastica, thế nhưng bà chẳng mảy may đoái hoài tới, cũng như đối với những kẻ khác. Lý do chẳng phải vì bà cảm thấy mình không sẵn sàng yêu thương ai đó, mà chỉ bởi mối nghi ngờ dù cho có mơ hồ đến thế nào đi chăng nữa, rằng một người đàn ông bà yêu thương có thể phản bội lại bà ngay cả khi chỉ trong tâm tưởng. Mối nghi ngờ ấy – bà bảo – có thể khiến bà phạm phải tội ác. Đối với bà, đàn ông tuyền là những tên phản bội vô lại. Ngay cả ông Pomino hay sao? Không, riêng ông Pomino thì không. Thế nhưng tới lúc bà nhận ra thì đã quá trễ. Trong tất cả những kẻ đã cầu hôn bà mà về sau thành gia lập thất, bà phát hiện và hể hả chiêm ngưỡng đôi lần phản bội của bọn họ. Chỉ có ông Pomino, chẳng vấn đề gì cả; hay nói trắng ra thì ông Pomino đã tận tụy hy sinh vì vợ mình.

Vậy thì tại sao bây giờ, chính bà không chịu lấy ông ta? Trời ạ, chỉ vì ông ấy góa vợ. Ông ấy đã từng thuộc về một người đàn bà khác, và biết đâu, sẽ có những lần ông nhớ nhung người đàn bà kia. Vậy thì tại sao… Quá đủ rồi! Đứng xa cả trăm dặm cũng nhận ra, bất chấp cái vẻ ngại ngùng của ông: ông ta đang yêu, đang yêu… ai đó rõ rành rành, ông Pomino tội nghiệp!

Hiển nhiên là mẹ tôi sẽ không bao giờ chấp thuận. Đối với bà, hôn sự này thể như một sự bôi nhọ thanh danh. Mà tội nghiệp thay, mẹ tôi cũng chẳng tin rằng cô Scolastica đang nói nghiêm túc. Bà bật cười theo cách riêng của mình trước những cơn thịnh nộ của cô em chồng, trước sự ngỡ ngàng của ông Pomino tội nghiệp, lúc ấy cũng có mặt, trước tất cả những lời ngợi ca bay bổng nhất mà cô tôi ném về phía ông.

Tôi tưởng ra không biết đến bao lần ông ta giãy giụa trên ghế hệt như bị tra tấn mà thốt lên rằng:

– Hỡi ôi! Nhân danh Chúa lòng lành!

Ông là một người thấp bé, gọn gàng, đôi mắt hẹp màu thiên thanh trầm lặng. Và tôi tin là ông ta có trang điểm, thậm chí có sở thích điệu đà là đánh chút son, chỉ chút chút, và thoa một lớp phấn lên đôi má. Chắc hẳn ông ta rất đỗi tự hào vì vẫn lưu giữ được mái tóc vào tuổi xế chiều, được chải chuốt và liên tục dùng tay chỉnh trang lại.

Tôi chẳng biết câu chuyện của chúng tôi sẽ ra sao, nếu như mẹ tôi, chắc chắn chẳng phải vì bản thân bà mà vì tương lai của hai cậu con trai, nghe lời cô Scolastica và cưới ông Pomino. Hiển nhiên rằng mọi thứ không thể tệ hơn so với lúc này, khi gia đình tôi đang phải phó mặc cho lão Malagna (con chuột chũi!).

Khi anh Berto và tôi trưởng thành, đúng thực là phần lớn gia sản của chúng tôi đã tan thành mây khói. Thế nhưng chí ít thì chúng tôi cũng vớt vát lại được từ móng vuốt của lão trộm ấy một vài thứ, tuy chẳng nhiều nhặn nhưng chắc chắn cũng đủ đáp ứng cho chúng tôi một cuộc sống mà chẳng phải thiếu thốn thứ gì. Chúng tôi thực là hai thằng lông bông. Chúng tôi chẳng quan tâm tới bất kì điều gì, bởi hồi nhỏ thế nào, lớn lên chúng tôi vẫn tiếp tục sống như vậy, cũng như người mẹ của chúng tôi.

Mẹ thậm chí còn chẳng thèm cho chúng tôi đến trường. Một lão tên Pinzone tới làm gia sư cho hai bọn tôi. Tên thật của lão là Francesco, hay Giovanni, Del Cinque gì đó; thế nhưng mọi người đều gọi lão là Pinzone, đến mức bản thân lão cũng quá quen và bắt đầu ngộ nhận ấy là tên mình.

Lão gầy đến phát sợ, cao lêu đêu, và Chúa ơi, hẳn sẽ còn cao nữa, nếu như cái nửa thân trên của lão chẳng quá mỏi mệt khi phải ngất ngưởng ở phía trên mà gục xuống, tạo thành một cục bướu nho nhỏ. cổ lão khó nhọc vươn ra, thảm hại hệt một con gà trụi lông, với cái yết hầu trố lồi to bự cứ vươn lên hạ xuống. Pinzone thường cố hết sức giữ lấy hàm răng của mình sau đôi môi, như để cắn lấy chúng, để trừng phạt và che giấu một nụ cười sắc lạnh, nụ cười đặc trưng của lão. Vậy nhưng lão cố thế nào cũng vô ích, bởi chẳng an phận bị cầm tù sau đôi môi, nụ cười này cứ thoát ra từ đôi mắt tinh đời và chua cay của lão.

Bằng đôi mắt ấy hẳn lão đã nhìn thấy biết bao đồ đạc trong nhà chúng tôi, những thứ mà ngay cả mẹ lẫn chúng tôi đều chẳng thấy. Thế nhưng lão chẳng hé răng nửa lời về những thứ ấy. Có chăng lão cho rằng đó chẳng phải phận sự của mình, hoặc giả -theo tôi nghĩ thì khả năng này có lý hơn – lão đang âm thầm khoái trá một cách độc địa.

Chúng tôi muốn làm gì lão thì làm; lão cứ mặc kệ chúng tôi. Nhưng rồi có lẽ bởi muốn giữ cho lương tâm mình thanh thản, lão sẽ chơi lại một vố ngay khi chúng tôi ít ngờ tới nhất.

Ví như ngày nọ, mẹ sai lão tháp tùng chúng tôi đến nhà thờ. Lễ Phục sinh đang tới gần, và chúng tôi phải xưng tội. Sau buổi xưng tội là một chuyến thăm chóng vánh tới người vợ bệnh tật của lão Malagna, xong xuôi lập tức trở về nhà. Thực vui sướng hết chỗ nói! Ngay khi vừa ra ngoài, hai chúng tôi bắt đầu gạ lão Pinzone để trốn đi: chúng tôi sẽ trả lão hẳn một lít rượu vang nếu thay vì đến nhà thờ và nhà lão Malagna, lão sẽ để cho chúng tôi đến Lồng gà chơi. Pinzone vô cùng sung sướng mà thuận lời. Lão xoa xoa hai bàn tay, đôi mắt loé sáng. Lão uống; rồi chúng tôi bộ hành đến trang trại. Lão làm đủ trò điên loạn với chúng tôi khoảng ba tiếng đồng hồ, đỡ chúng tôi trèo lên cây, và cả lão cũng trèo lên. Nhưng buổi tối, lúc trở về nhà, ngay khi mẹ hỏi lão rằng chúng tôi đã xưng tội và tới thăm nhà lão Malagna hay chưa thì lão đáp, vẻ mặt nghiêm trọng nhất trần đời:

– Đây, tôi sẽ kể cho bà nghe… – Thế rồi lão thuật lại cho mẹ nghe từng chi tiết tất cả mọi việc mà chúng tôi đã làm.

Mấy ngón trả thù của chúng tôi thật chẳng xứng với sự phản bội của lão. Thế nhưng đó cũng chẳng phải là mấy trò đùa vô hại. Thể như một tối nọ, biết rằng lão vẫn thường gà gật trên một chiếc ghế dài đặt ngay tiền sảnh trong lúc chờ bữa tối, tôi và anh Berto nhẹ nhàng chuồn ra khỏi giường. Trước đó, hai bọn tôi đã bị phạt phải đi ngủ sớm hơn thường lệ. Chúng tôi kiếm được một chiếc ống dài khoảng hai bàn tay dùng để thụt hậu môn, rồi đổ vào trong đó đủ thứ nước xà phòng lấy từ chậu giặt. Trang bị sẵn sàng, hai chúng tôi thận trọng áp sát, dí chiếc ống vào hai lỗ mũi lão – hắt xì! - lão nhảy cẫng lên đến trần nhà.

Chúng tôi có thể học được gì từ một lão gia sư như vậy, thực chẳng khó để tưởng tượng ra. Thế nhưng lỗi không hoàn toàn ở Pinzone. Khi dạy chúng tôi học, lão chẳng động đến bất kỳ phương thức hay kỷ luật gì cả, và lão giành lấy sự tập trung của chúng tôi bằng hàng ngàn mưu mẹo. Lão thường thành công với tôi, bởi bản chất tôi vốn nhạy cảm. Ấy thế nhưng lão cũng có một vốn kiến thức khá đặc biệt, độc đáo và kì lạ. Ví dụ như, lão đặc biệt am hiểu về hiện tượng điệp âm: lão thuộc thơ của Camillo Scroffa, Teofilo Folengo, Burchiello, Ludovico Lepòreo2 và thường trích ra hiện tượng điệp âm điệp vần, các trích đoạn tương quan, tương thích hay những bài thơ cổ hủ của bất kỳ tay nhà thơ rỗi hơi nào, và cũng không ít lần chính lão tự ngâm những vần thơ cổ quái.

Tôi nhớ có ngày, ở khu San Rocchino, lão bắt chúng tôi nhìn ra ngọn đồi phía trước mặt mà lặp lại không biết bao lần bài Tiếng Vọng của lão:

Trong trái tim người phụ nữ, tình yêu kéo dài được bao lâu?

– (Vài giờ)

Và nàng chẳng bao giờ yêu ta nhiều như ta yêu nàng hay sao?

– (Không bao giờ)

Ngươi là ai, hỡi kẻ đang than thở cùng ta?

– (Tiếng vọng)3

Và rồi lão bắt chúng tôi kể lại hết những Câu đố theo thể thơ Tám câu4 của Giulio Cesare Croce5, những bài thơ theo thể Mười bốn câu6 của Moneti7 và những bài thơ khác cùng thể loại của một kẻ biếng nhác đã cả gan núp dưới cái tên Cato Trẻ8. Lão dùng mực thuốc chép lại những bài ấy vào một tập giấy ngả vàng.

– Hãy nghe đây, hãy nghe đây. Đây là một câu đố khác của Stigliani9. Thực tuyệt vời! Câu trả lời sẽ là gì đây? Hãy nghe xem:

Cùng một lúc ta là một, và hai thứ,

Hai thứ mà trước kia là một.

Một thứ mà con người dùng năm ngón tay,

Cắt xén bất kể thứ gì họ muốn.

Toàn thể ta là một cái miệng được nắm trong những ngón tay họ,

Và ta cắn được mà chẳng cần răng.

Ta có hai lỗ rốn ở hai phía trái ngược

Đôi mắt ta có chân, và thường ngón tay người đặt trên mắt ta.10

Tôi tưởng như vẫn còn thấy hình bóng lão đang ngâm thơ với khuôn mặt bừng lên niềm vui sướng, đôi mắt khép hờ, ngón tay vẽ lên những cử chỉ vô hình.

Mẹ tôi tin rằng mọi điều Pinzone chỉ bảo là tất cả những gì chúng tôi cần; thậm chí mỗi khi nghe chúng tôi ngâm lại những vần thơ của Croce hay Stigliani, bà những tưởng trình độ chúng tôi phải cao siêu lắm. Thế nhưng cô Scolastica lại chẳng ngây thơ như vậy. Thất bại trong việc tác thành cho mẹ tôi và ông Pomino khả ái, bà bắt đầu chuyển qua đàn áp anh Berto và tôi. Thế nhưng được sự bao bọc của mẹ, hai chúng tôi chẳng thèm quan tâm đến những gì bà nói. Và thế là máu nóng bà nổi lên cuồn cuộn, tới nỗi nếu có thể làm cách nào để không bị người khác nhìn hay nghe thấy, bà sẽ đánh chúng tôi đến trầy da tróc vảy. Tôi vẫn nhớ có lần, đương bỏ đi giữa những cơn giận dữ thường nhật, bà bắt gặp tôi tại một trong những căn phòng bỏ hoang. Bà nắm lấy cằm tôi và thít những ngón tay thật chặt rồi nói: – Đáng yêu làm sao! Đáng yêu! Đáng yêu! - Bà vừa áp sát tôi, vừa chầm chậm nói, mặt thêm đối mặt, mắt đối mắt, cho tới khi bà khịt một tiếng và thả tôi ra, miệng thét lên:

– Đồ mặt chó!

Bà đặc biệt căm ghét tôi mà chẳng quan tâm gì đến Berto, cũng bởi tôi hay chú tâm vào những lời dạy quái đản của lão Pinzone. Nhưng ắt hẳn nguyên nhân là do gương mặt bình thản và khó chịu của tôi, cộng thêm cặp kính tròn vĩ đại dùng để giữ một con mắt vốn phải nhìn thẳng phía trước. Thế nhưng, chẳng hiểu lý do vì sao mà con mắt ấy cứ tự thân mà nhìn đi chỗ khác.

Đối với tôi mà nói, cặp kính ấy thực là một sự tra tấn. Bất kì lúc nào có thể, tôi đều vứt cặp kính sang một bên, cho con mắt thỏa lòng nhìn bất cứ chỗ nào nó muốn. Dù có nhìn được thẳng, con mắt ấy cũng chẳng thể làm tôi đẹp lên. Thế nhưng con người tôi tràn đầy sức sống, và với tôi vậy là đủ.

Năm mười tám tuổi, mặt tôi bị xâm chiếm bởi một bộ râu hung hung đỏ và xoăn tít, báo hại cái mũi nho nhỏ của tôi, nó lọt thỏm giữa bộ râu và vầng trán vĩ đại.

Có thể, nếu con người ta được quyền lựa chọn một chiếc mũi phù hợp cho khuôn mặt mình, hoặc giả khi nhìn thấy kẻ nào đó có chiếc mũi phát tướng trên một gương mặt xương xẩu, ta có thể bảo hắn: “Cái mũi này hợp với ta, ta sẽ lấy nó”; nếu có thể như vậy thì tôi sẵn sàng đổi cho hắn cái mũi của mình, hay con mắt, hay vô vàn các bộ phận khác trên cơ thể. Thế nhưng hiển nhiên điều đó là không thể, vậy nên tôi đành an phận với những đường nét của riêng mình, và hầu như chẳng bận tâm nhiều đến chúng nữa.

Berto thì ngược lại, với khuôn mặt và thân hình khả ái (ít nhất là so với tôi), lúc nào anh cũng kè kè lấy cái gương mà ngắm nghía, chải chuốt. Anh phung phí không biết bao tiền cho những chiếc cà vạt mới cứng, những lọ nước hoa tinh tế bậc nhất, cho những bộ đồ lót và đủ loại phục trang. Có hôm, để chọc Berto, tôi thó ở tủ quần áo của anh một chiếc áo đuôi tôm mới toanh, một chiếc ghi lê lịch lãm làm bằng nhung đen và một chiếc mũ xếp rồi cứ thế mà đi săn.

Trong lúc ấy, lão Batta Malagna11 sẽ đến khóc than với mẹ chúng tôi về những năm tháng còm cõi khổ cực, khiến lão phải đi vay những khoản nợ lớn vô cùng để dùng vào việc trang trải cho chi phí sinh hoạt quá độ của hai đứa tôi và việc tu bổ những căn nhà khác ở vùng quê.

– Chúng ta lại có một vấn đề khác nữa rồi! – Mỗi lần đi vào lão thường nói.

Sương mù ngăn cản việc trồng ô liu ở khu Đôi bờ; hay lũ rệp rễ nho đã phá hủy vườn nho ở khu Cựa sắt, phải trồng loại nho Mỹ có sức kháng bệnh. Vậy là nợ chồng thêm nợ. Lão khuyên chúng tôi bán ngôi nhà ở khu Cựa sắt để giải phóng bản thân khỏi mấy tay chủ nợ đang nhăm nhe khu đất ấy. Và thế là Cựa sắt bị bán đầu tiên, rồi Đôi bờSan Rocchino. Chỉ còn lại mấy căn nhà với cái trang trại và cối xay ở Lồng gà. Mẹ tôi sợ rằng một ngày nào đó lão sẽ đến báo tin cả mạch nước ở đó cũng đã khô cạn.

Quả thực, chúng tôi là hai kẻ phá gia chi tử, tiêu xài vô độ. Thế nhưng cũng đúng thực rằng sẽ chẳng thể xuất hiện một tên trộm ranh ma hơn lão Batta Malagna trên cõi đời này nữa. Đó là những từ nhẹ nhất mà tôi có thể nói về lão, khi xét đến cái quan hệ mà rốt cục tôi buộc phải thiết lập với lão.

Lão có cái nghệ thuật khiến cho chúng tôi chẳng bao giờ phải thiếu thốn bất cứ thứ gì chừng nào mẹ tôi còn sống. Thế nhưng lão để chúng tôi hưởng thụ sự sung túc, sự tự do đến bại hoại ấy chỉ để che giấu cái vực sâu thăm thẳm mà một khi mẹ tôi mất, nó sẽ nuốt chửng chỉ mình tôi; bởi được số phận ưu ái, anh trai tôi đã may mắn chèo kéo được một cuộc hôn nhân có lợi.

Còn cuộc hôn nhân của tôi, thay vào đó…

– Tôi có nhất thiết phải nói về cuộc hôn nhân của mình không, hả don Eligio?

Đương ngất ngưởng đằng kia, trên chiếc thang dùng để thắp đèn, don Eligio Pelligrinotto đáp:

– Sao lại không chứ? Chắc chắn rồi. Một cách trung thực đấy…

– Trung thực gì kia chứ! Ông biết rõ là…

Don Eligio cười vang. Nhà thờ nhỏ bé hoàn tục như cũng cùng ông cười vậy. Thế rồi ông khuyên tôi:

– Nếu tôi là ông, Pascal ạ, trước tiên tôi sẽ nghiền ngẫm một vài truyện ngắn của Boccaccio12 hay Bandello13 đã. Để có được âm điệu, có được âm điệu…

Don Eligio thực có niềm đam mê với cái âm điệu. Ôi! Tôi sẽ viết y những gì đã xảy ra.

Vậy thì, can đảm lên nào; tiến lên!

1. Thuyền trabaccolo: một loại thuyền dùng để đánh cá hoặc chở hàng, đặc trưng của vùng Trung và Thượng biển Adriatic.

2. Camillo Scroffa, Teofilo Folengo, Burchiello, Ludovico Lepòreo: một số nhà thơ tiêu biểu của Italia thế kỷ XV đến thế kỷ XVII.

3. Từ cuối của câu đầu tiên là “amore” (tình yêu) và lập tức tiếng vọng phát ra là “ore” (vài giờ), có hiện tượng lặp âm “ore”. Tương tự, trong câu thứ hai từ cuối cùng là ‘Tamai” (ta yêu nàng) và tiếng vọng là “mai” (không bao giờ), lặp âm “mai” và trong câu thư ba “meco” (cùng ta) và “eco” (tiếng vọng), lặp âm “eco”.

4. Thể thơ Tám câu (Ottava rima): một thể thơ có nguồn gốc từ Italia, thường được sử dụng cho các bài thơ có chủ nghĩa anh hùng.

5. Giulio Cesare Croce (1550 – 1609): nhà văn Italia.

6. Thể Mười bốn câu (Sonnetto): thể thơ bao gồm mười bốn câu trong một bài, tương truyền do Giacomo da Lentini sáng tạo.

7. F. Moneti (1635 – 1712): nhà thơ Italia.

8. Cato Trẻ (95 TCN-46 TCN): chính trị gia của Cộng hòa La Mã.

9. Tommaso Stigliani (1573 – 1661): nhà thơ, nhà văn Italia.

10. Câu đố của Stigliani, câu trả lời là “cây kéo”.

11. Batta Malagna: tên gọi tắt của nhân vật Giambattista Malagna.

12. Giovanni Boccaccio (1313 – 1357): nhà văn, nhà thơ người Italia, tác giả cuốn Mười Ngày (Decamerone). Boccaccio cùng với Dante Alighieri và Francesco Petrarca là một trong ba cột trụ của nền văn học Italia.

13. Matteo Bandello (1480 – 1562): nhà văn, chiến binh, tu sĩ người Italia.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Luigi Pirandello

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.