Ngôi Nhà Trên Vùng Biên Giới

Lượt đọc: 185 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần I: Việc Tìm Thấy Bản Thảo

❊ ❊ ❊

Ngay ở miền tây Ireland có một ngôi làng nhỏ tên là Kraighten. Nó nằm trơ trọi dưới chân một ngọn đồi thấp. Xung quanh là một vùng đất hoang vu, tiêu điều và hoàn toàn khắc nghiệt; lâu lâu, cách một khoảng rất xa, người ta mới bắt gặp vài tàn tích của những ngôi nhà tranh đã bỏ hoang từ lâu — xơ xác và trơ trọi. Toàn bộ vùng đất này trơ trọi và không có bóng người, lớp đất mặt hầu như chẳng che nổi phần đá bên dưới — thứ vốn xuất hiện dày đặc khắp nơi, đôi khi nhô lên khỏi mặt đất thành những dải đá hình lượn sóng.

Thế nhưng, bất chấp sự hoang vắng đó, tôi và người bạn Tonnison đã chọn nơi đây để nghỉ kỳ nghỉ của mình. Cậu ấy tình cờ vớ được nơi này một cách hoàn toàn ngẫu nhiên vào năm trước, trong một chuyến đi bộ đường dài kéo dài, và phát hiện ra tiềm năng câu cá ở một con sông nhỏ không tên chảy qua vùng ngoại vi của ngôi làng nhỏ.

Tôi đã nói rằng con sông ấy không có tên; tôi xin nói thêm rằng chưa từng có tấm bản đồ nào mà tôi tra cứu từ trước đến nay hiển thị cả ngôi làng lẫn dòng suối đó. Chúng dường như hoàn toàn lọt ngoài tầm quan sát: quả thực, chúng có lẽ chẳng hề tồn tại đối với những gì mà một cuốn cẩm nang du lịch thông thường có thể cho bạn biết. Có lẽ điều này một phần có thể được giải thích bởi thực tế là nhà ga xe lửa gần nhất (Ardrahan) nằm cách đó khoảng bốn mươi dặm.

Đó là đầu một buổi tối ấm áp khi tôi và bạn tôi đến Kraighten. Chúng tôi đã đến Ardrahan vào tối hôm trước, ngủ lại đó trong những căn phòng thuê ở bưu điện làng, và lên đường từ sáng sớm hôm sau, bám víu một cách bấp bênh trên một trong những chiếc xe ngựa du lịch điển hình.

Chúng tôi đã mất cả ngày trời để vượt qua những con đường mòn gập ghềnh tưởng chừng khó có thể tưởng tượng nổi, kết quả là chúng tôi vô cùng mệt mỏi và có phần cáu kỉnh. Tuy nhiên, lều vẫn phải được dựng lên và đồ đạc của chúng tôi phải được cất gọn gàng trước khi chúng tôi có thể nghĩ đến chuyện ăn uống hay nghỉ ngơi. Và thế là chúng tôi bắt tay vào việc, với sự giúp đỡ của người đánh xe, và chẳng mấy chốc đã dựng xong chiếc lều trên một mảnh đất nhỏ ngay bên ngoài ngôi làng nhỏ, và nằm khá gần con sông.

Sau đó, khi đã cất giữ mọi tư trang, chúng tôi cho người đánh xe về, vì anh ta phải quay trở lại nhanh nhất có thể, và dặn anh ta quay lại đón chúng tôi sau đúng hai tuần. Chúng tôi đã mang theo đủ lương thực cho khoảng thời gian đó, còn nước thì chúng tôi có thể lấy từ dòng suối. Củi thì chúng tôi không cần, vì chúng tôi đã mang theo một chiếc bếp dầu nhỏ trong số hành lý của mình, và thời tiết lại đẹp trời, ấm áp.

Đó là ý tưởng của Tonnison: cắm trại ngoài trời thay vì thuê trọ trong một ngôi nhà tranh nào đó. Như anh ấy nói, chẳng có gì buồn cười khi phải ngủ trong một căn phòng cùng với một gia đình người Ireland đông đúc, khỏe mạnh ở một góc và chuồng lợn ở góc kia, trong khi ở phía trên đầu, một bầy gia cầm rách rưới đang đậu rúc ríu ban phát "ân huệ" một cách vô tư lơ đễnh, và toàn bộ căn phòng ngập ngụa khói than bùn đến mức khiến một tên phải hắt hơi tung cả óc chỉ mới thò đầu vào ngưỡng cửa.

Tonnison lúc này đã châm bếp và đang bận rộn thái từng lát thịt xông khói vào chảo rán; thế là tôi cầm ấm nước và đi ra bờ sông lấy nước. Trên đường đi, tôi phải đi sát qua một nhóm dân làng nhỏ, họ nhìn tôi tò mò, nhưng không hề có chút ác cảm nào, mặc dù không ai trong số họ thốt lên lời nào.

Khi tôi quay trở lại với chiếc ấm đầy nước, tôi bước đến chỗ họ và, sau một cái gật đầu thân thiện, và họ cũng đáp lại tương tự, tôi bâng quơ hỏi thăm về việc câu cá; nhưng thay vì trả lời, họ chỉ lặng lẽ lắc đầu và trân trân nhìn tôi. Tôi lặp lại câu hỏi, hướng về phía một gã to lớn, gầy giơ xương đang đứng cạnh mình; nhưng một lần nữa tôi vẫn chẳng nhận được câu trả lời nào. Sau đó, người đàn ông quay sang nói gì đó rất nhanh với một người đồng hành bằng một ngôn ngữ mà tôi không hiểu; và ngay lập tức, tất cả đám đông ấy bắt đầu luyên thuyên huyên náo bằng thứ tiếng mà chỉ một lát sau, tôi đoán là tiếng Ireland thuần túy. Đồng thời, họ liếc nhìn về phía tôi rất nhiều lần. Họ cứ nói chuyện với nhau như thế có lẽ khoảng một phút; rồi người đàn ông mà tôi vừa hỏi quay phắt lại phía tôi và nói điều gì đó. Qua biểu cảm trên khuôn mặt anh ta, tôi đoán rằng anh ta đang hỏi ngược lại tôi; nhưng lúc này tôi buộc phải lắc đầu, ra hiệu rằng tôi không hiểu họ muốn biết điều gì; và cứ thế, chúng tôi đứng nhìn nhau, cho đến khi tôi nghe thấy Tonnison gọi tôi mang ấm nước mau lên. Thế rồi, với một nụ cười và một cái gật đầu, tôi rời khỏi họ, và tất cả mọi người trong đám đông nhỏ bé ấy đều mỉm cười và gật đầu đáp lại, dù trên nét mặt họ vẫn phảng phét vẻ bối rối.

Rõ ràng, tôi tự nhủ khi bước về phía lều, cư dân của vài mái tranh nơi hoang mốc này không biết lấy một chữ tiếng Anh nào; và khi tôi kể lại cho Tonnison nghe, anh ấy nhận xét rằng anh ấy đã biết điều đó từ trước, hơn thế nữa, điều này không có gì là lạ ở vùng đất đó, nơi người ta thường sống và chết trong những ngôi làng hẻo lánh của mình mà chẳng bao giờ tiếp xúc với thế giới bên ngoài.

"Tôi ước gì chúng ta nhờ người đánh xe phiên dịch giúp trước khi anh ta đi," tôi nhận xét khi chúng tôi ngồi xuống ăn bữa ăn của mình. "Thật kỳ lạ khi người ở đây thậm chí còn chẳng biết chúng ta đến để làm gì."

Tonnison lầm bầm đồng tình, rồi im lặng một lúc lâu.

Lát sau, khi đã phần nào thỏa mãn cơn đói, chúng tôi bắt đầu trò chuyện, lên kế hoạch cho ngày mai; rồi sau khi hút một điếu thuốc, chúng tôi kéo tấm bạt lều lại và chuẩn bị đi ngủ.

„Tôi đoán chắc là không có chuyện mấy gã bên ngoài kia táy máy lấy trộm gì đâu nhỉ?“ tôi hỏi khi chúng tôi cuộn mình vào những chiếc chăn.

Tonnison bảo rằng anh ấy không nghĩ vậy, ít nhất là khi chúng tôi còn ở quanh đây; và như anh ấy giải thích tiếp, chúng tôi có thể khóa mọi thứ lại, ngoại trừ cái lều, vào chiếc rương lớn mà chúng tôi đã mang theo để đựng thực phẩm. Tôi đồng ý với điều này, và chẳng mấy chốc cả hai chúng tôi đều chìm vào giấc ngủ.

Sáng hôm sau, từ sáng sớm, chúng tôi thức dậy và ra sông bơi lội; sau đó chúng tôi thay đồ và ăn sáng. Tiếp theo, chúng tôi lôi đồ câu ra kiểm tra lại, đến lúc đó thì bữa sáng cũng đã phần nào tiêu hóa, chúng tôi cất giữ mọi thứ an toàn bên trong lều rồi sải bước về hướng mà bạn tôi đã thám hiểm trong chuyến đi trước.

Suốt ngày hôm đó chúng tôi câu cá vui vẻ, cứ thế ngược dòng nước tiến lên, và đến chiều tối, chúng tôi đã có một trong những sọt cá đẹp nhất mà tôi từng thấy trong suốt một thời gian dài. Trở về làng, chúng tôi đã có một bữa no nê từ chiến lợi phẩm trong ngày, sau đó, giữ lại một ít con cá ngon nhất cho bữa sáng hôm sau, số còn lại chúng tôi đem tặng nhóm dân làng đã tập trung ở một khoảng cách lịch sự để theo dõi công việc của chúng tôi. Họ tỏ ra vô cùng biết ơn, và chất những "ngọn núi" lời chúc phúc bằng tiếng Ireland lên đầu chúng tôi.

Cứ thế, chúng tôi đã trải qua mấy ngày liền với những buổi thể thao tuyệt vời, cùng chiếc bụng đói cồn cào sẵn sàng thưởng thức chiến lợi phẩm của mình. Chúng tôi rất vui mừng khi thấy dân làng tỏ ra thân thiện biết bao, và không hề có dấu hiệu nào cho thấy họ đã bén mảng đến đồ đạc của chúng tôi trong những lúc chúng tôi vắng mặt.

Đó là vào một ngày Thứ Ba khi chúng tôi đến Kraighten, và vào Chủ Nhật tuần tiếp theo thì chúng tôi đã có một phát hiện lớn. Từ trước đến nay chúng tôi vẫn luôn đi ngược dòng nước; tuy nhiên, vào ngày hôm đó, chúng tôi gác lại những chiếc cần câu, và mang theo ít lương thực, lên đường đi dạo dài ngày theo hướng ngược lại. Trời ấm áp, và chúng tôi cứ thế thong thả lê bước, dừng lại vào khoảng giữa trưa để ăn trưa trên một tảng đá dẹt lớn gần bờ sông. Sau đó chúng tôi ngồi hút thuốc một lúc, và chỉ tiếp tục cuộc đi bộ khi đã chán ngấy việc ngồi ỳ một chỗ.

Thêm khoảng một tiếng đồng hồ nữa chúng tôi cứ thế lang thang tiến bước, vừa trò chuyện điềm đạm, thoải mái về chuyện nọ chuyện kia, vừa đôi ba lần dừng lại khi người bạn đồng hành của tôi — vốn có khiếu hội họa — phác thảo nhanh những nét phong cảnh hoang dã đầy ấn tượng.

Và rồi, hoàn toàn không có bất kỳ một lời cảnh báo nào, con sông mà chúng tôi vẫn đinh ninh đi theo bỗng chấm dứt đột ngột — biến mất vào lòng đất.

„Lạy Chúa! “ tôi thốt lên, „ai mà ngờ được cơ chứ?“

Và tôi trân trân nhìn trong ngỡ ngàng; rồi quay sang nhìn Tonnison. Cậu ấy đang mang gương mặt ngẩn ngơ, nhìn chằm chằm vào nơi con sông biến mất.

Chỉ một thoáng sau, cậu ấy cất lời.

„Chúng ta hãy đi tiếp một đoạn nữa xem sao; biết đâu nó lại ngoi lên — đằng nào thì cũng đáng để tìm hiểu đấy chứ.“

Tôi đồng ý, và chúng tôi lại tiếp tục tiến bước, dẫu có phần vẩn vơ không mục đích; bởi vì chúng tôi hoàn toàn không chắc chắn nên tiếp tục cuộc tìm kiếm theo hướng nào. Đi tiếp được chừng một dặm; thì Tonnison, người nãy giờ vẫn tò mò đảo mắt nhìn xung quanh, bỗng khựng lại và đưa tay che mắt nhìn ra xa.

„Nhìn kìa!“ anh ấy nói sau một lúc, „chẳng phải kia là sương mù hay thứ gì đó sao, ở đằng kia bên phía tay phải ấy — nằm thẳng hàng với khối đá lớn kia kìa?“ Và anh ấy dùng tay ra hiệu.

Tôi nheo mắt nhìn, và sau một phút, hình như tôi cũng thấy thứ gì đó, nhưng không thể chắc chắn, và tôi đã nói vậy.

„Dù sao đi nữa,“ bạn tôi đáp, „chúng ta cứ đi qua đó nghía thử một cái xem sao.“ Và anh ấy bắt đầu rảo bước theo hướng mình vừa gợi ý, tôi lủi thủi theo sau. Chẳng mấy chốc, chúng tôi đi vào giữa những bụi cây, rồi một lúc sau, ra tới đỉnh của một bờ đất cao ngổn ngang những tảng đá lớn, từ đó chúng tôi nhìn xuống một vùng hoang vu ngập tràn bụi rậm và cây cối.

„Trông cứ như thể chúng ta vừa bắt gặp một ốc đảo giữa sa mạc đá này vậy,“ Tonnison lầm bầm, ánh mắt đầy vẻ hứng khởi. Rồi cậu ấy im lặng, mắt dán chặt vào một điểm; và tôi cũng nhìn theo; bởi vì từ một nơi nào đó quanh trung tâm vùng đất thấp rợp bóng cây, một cột hơi nước mờ ảo lớn bốc ngược lên bầu trời tĩnh lặng, được ánh mặt trời chiếu rọi tạo nên vô số cầu vồng.

„Đẹp làm sao!“ tôi thốt lên.

„Ừ,“ Tonnison trầm ngâm đáp. „Chắc là có thác nước, hay thứ gì đó ở đằng kia rồi. Biết đâu lại là con sông của chúng ta trồi lên ánh sáng lần nữa thì sao. Lại đó xem đi.“

Chúng tôi mò mẫm đi xuống sườn dốc và bước vào giữa những tán cây và bụi rậm. Những bụi cây mọc chằng chịt, những tán cây che khuất cả đỉnh đầu, khiến nơi đây u ám một cách khó chịu; dẫu chưa đến nỗi tối tăm để che giấu khỏi mắt tôi thực tế là rất nhiều cây ở đây là cây ăn quả, và thoảng đâu đó, người ta vẫn có thể lờ mờ nhận ra dấu vết của một nền canh tác đã lùi vào dĩ vãng từ lâu. Cứ thế, tôi chợt nhận ra rằng chúng tôi đang bước đi giữa khung cảnh hoang tàn của một khu vườn rộng lớn và cổ xưa. Tôi nói điều đó với Tonnison, và anh ấy cũng đồng ý rằng quả thực có những cơ sở hợp lý cho niềm tin của tôi.

Quả là một nơi hoang dã, thật ảm đạm và u ám làm sao! Không hiểu sao, khi chúng tôi tiến sâu hơn, cảm giác về sự cô độc tĩnh mịch và sự hoang phế của khu vườn cũ cứ dâng lên trong tôi, khiến tôi thấy lạnh sống lưng. Người ta có thể mường tượng ra đủ thứ đang ẩn nấp giữa những bụi cây rối rắm; trong khi ngay cả bầu không khí nơi đây dường như cũng mang một vẻ kỳ quái nào đó. Tôi nghĩ Tonnison cũng cảm nhận được điều này, dẫu anh ấy chẳng nói gì.

Bất chợt, chúng tôi khựng lại. Xuyên qua những tán cây, một thứ âm thanh từ xa vẳng đến tai chúng tôi. Tonnison rướn người lắng nghe. Bây giờ thì tôi nghe rõ hơn rồi; đó là một thứ âm thanh liên tục và chói tai — giống như tiếng gầm rú vo ve, tựa hồ phát ra từ một nơi rất xa. Tôi chợt dâng lên một cảm giác hồi hộp kỳ lạ, không sao tả xiết. Đây là cái quái gì mà chúng tôi lại lạc vào thế giới này chứ? Tôi nhìn bạn mình để xem anh ấy nghĩ gì về chuyện này; và nhận ra trên khuôn mặt anh ấy chỉ toàn vẻ bối rối; rồi khi tôi dõi theo từng đường nét trên khuôn mặt ấy, một biểu cảm bỗng vỡ lẽ dần hiện lên, và anh ấy gật đầu.

„Đó là tiếng thác nước,“ anh ấy thốt lên đầy vẻ quả quyết. „Giờ thì tôi nhận ra âm thanh này rồi.“ Và anh ấy bắt đầu quả quyết băng mình qua những bụi cây, tiến thẳng về hướng phát ra tiếng ồn.

Khi chúng tôi tiến lên, âm thanh ngày càng rõ hơn, cho thấy chúng tôi đang đi thẳng về hướng đó. Tiếng gầm rú cứ thế lớn dần lên và đến gần hơn, cho đến khi — như tôi đã nhận xét với Tonnison — nó có cảm giác như phát ra ngay từ dưới chân chúng tôi vậy — thế mà xung quanh chúng tôi vẫn toàn là cây cối và bụi rậm.

„Cẩn thận đấy!“ Tonnison gọi tôi. „Nhìn kỹ đường đi vào.“ Và rồi, đột ngột, chúng tôi bước ra khỏi những lùm cây, tiến vào một khoảng đất trống rộng lớn, nơi cách chỗ chúng tôi đứng chưa đầy sáu bước chân là miệng của một vực thẳm khổng lồ, từ dưới đáy sâu thẳm ấy, tiếng động dường như bốc lên cuồn cuộn, cùng với làn sương mù phun trào liên tục mà chúng tôi đã chứng kiến từ đỉnh ngọn đồi phía xa.

Suốt một phút rưỡi, chúng tôi đứng lặng người, trân trân nhìn cảnh tượng đầy kinh ngạc ấy; rồi bạn tôi thận trọng tiến đến mép vực thẳm. Tôi bước theo sau, và cùng nhau, chúng tôi nhìn xuống qua làn sương mù sục sôi ấy vào một ngọn thác khổng lồ gồm những dòng nước sủi bọt trắng xóa đang cuồn cuộn phun trào từ vách vực thẳm, cách mặt đất phía dưới gần một trăm thước.

„Lạy Chúa!“ Tonnison thốt lên.

Tôi im lặng, có phần kính sợ. Cảnh tượng thật vĩ đại và kỳ bí đến mức không ngờ; dẫu cho cái vẻ kỳ bí sau này mới càng ngấm sâu vào tôi hơn.

Lát sau, tôi ngước nhìn lên và hướng mắt sang phía bên kia vực thẳm. Ở đó, tôi nhìn thấy něhư thứ gì đó đang sừng sững nhô lên giữa làn sương mù: trông nó giống như một mảnh vỡ của một tòa lâu đài đổ nát lớn, và tôi khẽ chạm vào vai Tonnison. Cậu ấy giật mình quay lại, và tôi chỉ tay về phía vật thể ấy. Ánh mắt cậu ấy dõi theo ngón tay tôi, và đôi mắt bỗng bừng lên một tia phấn khích đột ngột khi vật thể ấy lọt vào tầm nhìn.

„Lại đây nào,“ cậu ấy hét lên át cả tiếng ồn ào. „Chúng ta đến đó ngó thử xem. Có điều gì đó kỳ lạ ở nơi này; tôi cảm thấy điều đó trong tận xương tủy.“ Và cậu ấy bắt đầu rảo bước đi vòng quanh mép vực thẳm trông giống như một miệng núi lửa. Khi chúng tôi đến gần vật thể mới này, tôi thấy rằng ấn tượng ban đầu của mình không hề sai. Đó đích thị là một phần của một tòa nhà đổ nát nào đó; nhưng lúc này tôi mới nhận ra rằng nó không được xây trên chính mép vực thẳm như tôi tưởng ban đầu; mà nằm chênh vênh ở tận mút cùng của một mỏm đá khổng lồ nhô ra chừng năm mươi hay sáu mươi thước trên vực thẳm. Thực chất, khối tàn tích lởm chởm ấy đang lơ lửng một cách đúng nghĩa giữa không trung.

Khi đến đối diện với nó, chúng tôi bước ra mỏm đá nhô ra ấy, và tôi phải thú nhận rằng mình đã cảm thấy một nỗi kinh hoàng không thể chịu nổi khi nhìn xuống từ cái vị trí chóng mặt ấy vào những vực sâu vô định bên dưới — vào cái đáy sâu nơi phát ra tiếng gầm thét không ngớt của dòng nước đổ và lớp màn sương mù đang bốc lên cuồn cuộn.

Đến được chỗ tàn tích, chúng tôi thận trọng trèo vòng qua nó, và ở phía bên kia, bắt gặp một đống đá đổ nát và gạch vụn. Bản thân tàn tích, khi tôi bắt đầu quan sát kỹ lưỡng lúc bấy giờ, có vẻ là một phần của bức tường bên ngoài của một công trình đồ sộ nào đó, nó quá dày và được xây dựng một cách vô cùng kiên cố; thế nhưng nó lại đang làm gì ở một vị trí như thế này thì tôi hoàn toàn không thể đoán ra được. Phần còn lại của ngôi nhà, hay lâu đài, hay bất cứ thứ gì từng ở đó đã đi đâu mất rồi?

Tôi quay lại phía bên ngoài của bức tường, rồi từ đó tiến ra mép vực thẳm, để lại Tonnison đang hì hục lục lọi một cách có hệ thống giữa đống đá và rác rưởi ở phía ngoài. Sau đó, tôi bắt đầu kiểm tra bề mặt đất gần mép vực, xem thử liệu còn sót lại tàn tích nào khác của tòa nhà mà mảnh vỡ tàn tích kia rõ ràng thuộc về hay không. Nhưng dù tôi có săm soi mặt đất cẩn thận đến đâu đi chăng nữa, tôi cũng chẳng thể thấy dấu hiệu nào cho thấy từng có một công trình nào được xây dựng tại nơi này, và tôi càng lúc càng thêm bối rối.

Rồi, tôi nghe thấy tiếng hét của Tonnison; cậu ấy đang gọi tên tôi đầy phấn khích, và không chần chừ, tôi vội vã rảo bước dọc theo mỏm đá nhô ra để đến chỗ tàn tích. Tôi tự hỏi liệu cậu ấy có bị thương không, và rồi ý nghĩ chợt lóe lên rằng có lẽ cậu ấy đã tìm thấy thứ gì đó.

Tôi đến được bức tường đổ nát và trèo vòng qua. Ở đó, tôi thấy Tonnison đang đứng trong một cái hố nhỏ mà cậu ấy vừa đào bới giữa đống đổ nát: cậu ấy đang phủi sạch bụi bẩn bám trên một vật trông giống như một cuốn sách, đã nhàu nát và rách rưới tơi tả; và cứ cách một hai giây, cậu ấy lại há miệng hô to tên tôi. Ngay khi thấy tôi đến, cậu ấy liền trao chiến lợi phẩm cho tôi, dặn tôi bỏ nó vào túi xách để bảo vệ khỏi ẩm ướt, trong khi cậu ấy tiếp tục công cuộc khám phá của mình. Tôi làm theo, nhưng trước tiên, tôi dùng ngón tay lật qua các trang sách và nhận thấy chúng được viết kín bằng những nét chữ đều đặn, theo lối cổ xưa, đọc khá dễ dàng, ngoại trừ một phần mà rất nhiều trang gần như đã bị hủy hoại hoàn toàn, bị bám bùn và nhàu nát, cứ như thể cuốn sách đã bị gập đôi lại ở đoạn đó. Điều này, tôi được Tonnison cho biết, chính là nguyên trạng khi cậu ấy tìm thấy nó, và hư hại đó có lẽ là do những khối gạch đá rơi xuống đè lên phần mở ra. Thật kỳ lạ là cuốn sách tương đối khô ráo, mà tôi cho là nhờ nó được vùi lấp quá kỹ càng giữa đám tàn tích.

Sau khi cất kỹ cuốn sách, tôi quay lại phụ Tonnison một tay vào công việc đào bới do chính cậu ấy tự ôm đồm; thế nhưng, dù chúng tôi đã bỏ ra hơn một giờ đồng hồ lao động cật lực, lật tung tất cả những hòn đá và đống rác rưởi chất đống lên, chúng tôi chẳng tìm thấy gì hơn ngoài vài mảnh gỗ vụn — thứ có thể từng là các bộ phận của một cái bàn viết hoặc cái bàn bình thường; và thế là chúng tôi từ bỏ việc tìm kiếm, quay trở lại dọc theo mỏm đá để tìm về vùng đất an toàn một lần nữa.

Việc tiếp theo chúng tôi làm là đi một vòng trọn vẹn quanh vực thẳm khổng lồ, mà chúng tôi có thể nhận thấy là có hình dạng gần như một vòng tròn hoàn hảo, ngoại trừ chỗ mỏm đá đội vương miện tàn tích nhô ra làm hỏng sự đối xứng của nó.

Vực thẳm đó, như cách Tonnison ví von, chẳng khác nào một cái giếng hay cái hố khổng lồ đâm thẳng xuống tận tâm can của trái đất.

Thêm một lúc nữa chúng tôi tiếp tục ngước nhìn xung quanh, rồi nhận thấy có một khoảng đất trống nằm về phía bắc của vực thẳm, chúng tôi bèn rảo bước về hướng đó.

Tại đây, cách miệng cái hố vĩ đại chừng vài trăm thước, chúng tôi bắt gặp một hồ nước tĩnh lặng lớn — tĩnh lặng, nghĩa là ngoại trừ một chỗ có những bong bóng sủi tăm và tiếng kêu ọc ọc liên hồi.

Bây giờ, khi đã rời xa tiếng ồn ào của ngọn thác phun trào, chúng tôi đã có thể trò chuyện với nhau mà không cần phải gào thét hết cỡ, và tôi hỏi Tonnison nghĩ thế nào về nơi này — tôi bảo rằng tôi không thích nó chút nào, và chúng tôi càng rời khỏi đây sớm bao nhiêu thì tôi càng vui mừng bấy nhiêu.

Cậu ấy gật đầu đáp lời, rồi liếc nhanh ra phía những khu rừng phía sau một cách lén lút. Tôi hỏi cậu ấy có nhìn thấy hay nghe thấy gì không. Cậu ấy không trả lời; mà đứng lặng thinh như đang lắng nghe điều gì, và tôi cũng giữ im lặng theo.

Bất ngờ, cậu ấy cất lời.

"Nghe kìa!" cậu ấy nói trống không đầy sắc bén. Tôi nhìn cậu ấy, rồi hướng ánh mắt ra xa giữa những tán cây và bụi rậm, vô thức nín thở. Một phút trôi qua trong sự im lặng căng thẳng; thế nhưng tôi chẳng nghe thấy gì cả, và tôi quay sang Tonnison định nói lên điều đó; và rồi, ngay khi tôi vừa hé môi định nói, một thứ âm thanh hú hét kỳ lạ bỗng vút lên từ khu rừng bên trái chúng tôi... Nó tựa hồ lơ lửng xuyên qua những tán cây, kèm theo tiếng lá xào xạc lay động, rồi chìm vào tĩnh lặng.

Đột ngột, Tonnison cất lời và đặt tay lên vai tôi. "Chúng ta mau rời khỏi đây thôi," cậu ấy nói, rồi bắt đầu chậm rãi di chuyển về hướng mà những tán cây và bụi rậm xung quanh có vẻ thưa thớt nhất. Khi tôi bước theo cậu ấy, một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu tôi rằng mặt trời đã hạ thấp, và có một cảm giác lạnh buốt thấu xương đang vương vấn trong bầu không khí.

Tonnison không nói thêm gì nữa, mà cứ thế rảo bước đều đặn. Lúc này chúng tôi đã lọt vào giữa những lùm cây, và tôi lo âu liếc quanh; nhưng chẳng thấy gì ngoài những cành cây, thân cây tĩnh mịch và những bụi cây rậm rạp. Chúng tôi tiếp tục tiến bước, và không một âm thanh nào phá vỡ sự tĩnh lặng, ngoại trừ tiếng cành khô thỉnh thoảng gãy rắc dưới chân khi chúng tôi dịch chuyển. Thế nhưng, bất chấp sự tĩnh mịch đó, tôi vẫn có một cảm giác khủng khiếp rằng chúng tôi không hề đơn độc; và tôi cứ bám sát Tonnison đến mức có tới hai lần tôi vô tình đá vào gót giày cậu ấy, dẫu cậu ấy chẳng nói gì. Một phút, rồi lại một phút nữa, chúng tôi đã đến ranh giới của khu rừng, cuối cùng bước ra vùng đất đá hoang vu của miền quê. Chỉ đến lúc ấy tôi mới rũ bỏ được nỗi kinh hoàng ám ảnh đã đeo bám mình suốt dọc đường lẩn khuất giữa những tán cây.

Có lúc, khi chúng tôi rời đi, dường như lại vẳng đến một âm thanh hú hét từ xa, và tôi tự nhủ rằng đó chỉ là tiếng gió — thế nhưng buổi tối nay lại chẳng hề có một ngọn gió nào.

Chẳng mấy chốc, Tonnison bắt đầu lên tiếng.

"Nghe này," cậu ấy nói đầy quả quyết, "tôi thà chẳng bao giờ đặt chân qua đêm ở cái xó xỉnh đó dẫu có đổi lấy toàn bộ tài sản trên thế giới này đi chăng nữa. Có cái gì đó bất kính — ma quái — ẩn chứa trong đó. Nó chợt lóe lên trong đầu tôi ngay khoảnh khắc sau khi anh vừa nói. Tôi có cảm giác như khu rừng ấy ngập tràn những thứ ghê tởm — anh hiểu mà!"

"Ừ," tôi đáp lời, và ngoái lại nhìn về phía chốn ấy; nhưng nó đã bị che khuất bởi một gò đất nhô lên.

"Vẫn còn cuốn sách đây mà," tôi nói, rồi thò tay vào túi xách.

"Anh vẫn giữ nó an toàn chứ?" cậu ấy gặng hỏi với một vẻ lo lắng bỗng bùng phát.

"Ừ," tôi đáp.

"Biết đâu đấy," cậu ấy tiếp lời, "chúng ta sẽ tìm hiểu được điều gì đó từ nó khi về đến lều. Chúng ta cũng nên mau chân lên thôi; vẫn còn cách khá xa đấy, và thú thực lúc này tôi chẳng thiết tha gì chuyện bị túc trực ngoài này khi trời tối sập xuống đâu."

Hai tiếng đồng hồ sau, chúng tôi mới về đến lều; và không một chút chần chừ, chúng tôi bắt tay vào việc chuẩn bị bữa ăn; bởi vì chúng tôi đã chẳng húp háp gì kể từ bữa trưa hồi giữa trưa.

Dùng xong bữa tối, chúng tôi dọn dẹp đồ đạc sang một bên và châm tẩu thuốc. Sau đó, Tonnison bảo tôi lấy bản thảo ra khỏi túi xách. Tôi làm theo, rồi vì cả hai chúng tôi không thể cùng lúc đọc chung một cuốn, cậu ấy đề nghị tôi đọc lớn nội dung ấy lên. "Và nhớ đấy," cậu ấy cẩn trọng nhắc nhở, thừa hiểu cái tính hay nản của tôi, "đừng có mà giở trò đọc bỏ qua nửa cuốn sách đấy nhé."

Thế nhưng, giả như cậu ấy biết rõ những gì ẩn chứa bên trong đó, hẳn cậu ấy đã nhận ra lời dặn dò ấy thừa thãi đến nhường nào cho dẫu chỉ là một lần. Và rồi, ngồi ngay ở cửa chiếc lều nhỏ, tôi bắt đầu câu chuyện kỳ lạ mang tên Ngôi nhà trên biên giới (đó chính là tựa đề của bản thảo); và câu chuyện ấy được kể lại qua những trang giấy sau đây.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.