***

Người Vô Tội

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 15 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Chín

❊ ❊ ❊

Annette Hudson, chị của Ron Williamson, theo dõi rất kỹ diễn biến của quá trình xét xử Dennis Fritz bằng cách đọc những bài tường thuật trên báo Tin tức buổi chiều ở Ada. Số ra ngày Thứ ba 12 tháng Tư, trên trang nhất có dòng chữ lớn: “Đã xác định được thủ phạm trong vụ án mạng Debbie Carter là Dennis Fritz”.

Như mọi khi, bài tường thuật có nhắc đến tên em trai chị. “Ron Williamson, nghi can cùng bị kết tội giết người cấp độ một đối với cô Debbie Carter, theo kế hoạch, sẽ bị xét xử ngày 21 tháng Tư.” Thật thế, cả sáu bài tường thuật và bình luận xung quanh phiên tòa xét xử Dennis Fritz đều có nhắc đến việc em chị, Ron Williamson, tham gia vào tội ác.

Làm sao hy vọng được một cuộc xét xử công tâm? Chị Annette tự nhắc đi nhắc lại câu hỏi. Nếu một nghi can bị xác định là có tội, làm sao nghi can thứ hai có thể được hưởng một sự xét xử công minh, khi cả hai cùng cư trú trong một thị trấn và bị xét xử do cùng một bộ máy tư pháp với vẫn những con người ấy?

Chị mua cho Ron Williamson một bộ complê mới màu ghi, hai chiếc quần bình thường màu xanh hải quân, hai sơ mi trắng, hai cà-vạt và một đôi giày mới.

Ngày 20 tháng Tư, một ngày trước khi phiên tòa tiến hành xét xử, Ron Williamson bị giải đến tòa án để chánh án Jones gặp và nói chuyện. Ông chánh án lo bị cáo sẽ nổi cơn điên khùng và gây náo loạn trong hội trường, vì mấy lần trước, trong phiên sơ thẩm đã xảy ra tình trạng như thế. Chánh án Jones nói với Ron, lúc này đứng ngay trước chiếc ghế dài: “Tôi muốn biết ngày mai chúng ta sẽ đứng ở chỗ nào trong lúc anh ra hầu tòa. Và tôi muốn chắc chắn rằng anh sẽ không gây rối loạn trong hội trường. Anh hiểu nỗi lo của tôi chứ?”

Ron đáp: “Tôi sẽ giữ điềm tĩnh cho đến khi họ giở cái giọng vu cáo, đổ diệt cho tôi tội giết một người nào đấy”.

Chánh án Jones: “Nhưng anh biết rằng họ sẽ làm như thế, đúng không nào?”

Ron: “Tôi biết. Nhưng họ nói thế là họ sai.”

Chánh án Jones biết trước kia Ron là lực sĩ môn thể thao điền kinh, cho nên anh ta có thái độ quen thuộc của một võ sĩ. Ông nói: “Phiên tòa cũng sẽ là một thứ giống như trận đấu thể thao, hai bên đấu với nhau quyết liệt. Cả hai bên đều có cơ hội nắm được thế chủ động tấn công, nhưng anh nên nhớ rằng cái thế tấn công ấy mỗi bên đều cố tìm cách nắm lấy. Đấy chính là một phần của quá trình xét xử.”

Ron: “Đồng ý, nhưng tôi không muốn là quả bóng chỉ toàn bị người ta đá”.

***

Đối với bên công tố thì phiên tòa xét xử Dennis Fritz là một diễn tiến đẹp. Và tất cả các nhân chứng trong phiên toà ấy đều có thể sử dụng lại trong phiên tòa này, xử Ron Williamson, và có thể lần lượt đưa họ ra theo đúng như thứ tự trong phiên xét xử trước. Đã thế, trong phiên xét xử sắp đến, nhà chức trách còn có thêm hai lợi thế. Thứ nhất, sức khỏe tâm thần của bị cáo không bình thường. Anh ta rất có thể nổi cơn điên khùng, tung chân đá đổ bàn, miệng thì văng ra đủ lời tục tĩu. Đấy là thái độ khiến hầu hết cử tọa, kể cả các bồi thẩm đều rất khó chịu. Bị cáo còn có thể đe dọa, có thể đánh ai đấy.

Lợi thế thứ hai: luật sư bào chữa cho anh ta mù và không có người giúp việc. Tuy tòa đã chỉ định một người làm cố vấn giúp việc cho ông ta là Baber, nhưng anh này lại xin rút khỏi công việc trước tòa từ ngày 1 tháng Tư, đến nay chưa có ai thay. Luật sư Barney Ward nhanh nhẹn và là một tay rất giỏi về đối chất, nhưng lại không thông thạo về các chi tiết đụng đến khoa học kỹ thuật, như phân tích so sánh các dấu vân tay, các tấm ảnh chụp, các mẫu lông tóc.

Đối với bên bị, thì phiên tòa khó có thể bắt đầu được sớm. Luật sư Barney rất không vui gì bào chữa cho Ron Williamson. Đã thế, ông còn khó chịu nữa, do ông thấy vụ án này làm ông phải từ chối rất nhiều vụ khác, khiến ông thiệt mất khá nhiều tiền thù lao. Rồi ông luật sư Barney Ward lại rất sợ Ron, sợ theo nghĩa cơ bắp. Ông ta sẽ bố trí anh con trai ông ta ngồi đằng sau Ron để cứu bố, lỡ Ron nổi nóng và làm liều thì còn nhảy vào ngăn anh ta lại.

Đấy là trạng thái mối quan hệ giữa luật sư bào chữa Barney Ward và thân chủ của ông ta, Ron Williamson, trong phiên tòa này.

Trong cái hội trường chật ních ngày 21 tháng Tư ấy, ít ai hiểu cậu con trai ngồi sau Ron lại cốt để che chở cho bố. Hầu hết những người có mặt hôm nay đều rất có thể sẽ được bầu chọn là bồi thẩm tiềm tàng, những người không quan tâm đến những chuyện như thế và cũng không biết ai vào với ai. Trong hội trường còn có cả những nhà báo, những luật gia tò mò, những người hiếu kỳ muốn đến nghe để có chuyện bàn tán. Cư dân các thị trấn nhỏ rất thích kháo nhau đủ mọi chuyện, nhờ đấy mà mọi tin tức lan truyền rất nhanh. Các phiên tòa khác bao giờ cũng đông, hôm nay lại là phiên tòa xét xử một vụ án mạng!

Hai chị của bị cáo, Annette Hudson và Renee Simmons ngồi hàng ghế đầu tiên để được gần tối đa em họ. Nhiều bạn thân của chị Annette đã xin tình nguyện đến ngồi, bên cạnh chị trong suốt phiên tòa, để động viên, an ủi bạn. Nhưng Annette khước từ. Em trai chị tâm thần không bình thường và chưa biết cậu ta có thể phản ứng thế nào. Vả lại chị cũng không muốn bạn bè nhìn thấy em mình bị còng tay và xích chân. Chị và Renee đã quen chịu đựng cảnh tượng đau lòng này và đều chuẩn bị sẵn một tinh thần nhẫn nhục và cam chịu trong thời gian tòa tiến hành xét xử em họ.

Không có người bạn nào đến hỗ trợ Ron.

Các thành viên trong gia đình nạn nhân Debbie Carter lại ngồi ở hàng ghế cuối cùng. Hai bên, bên bị và bên nguyên, ngồi cách xa nhau tối đa để khỏi phải nhìn thấy mặt nhau.

Hôm ấy là một ngày Thứ năm. Kể từ hôm khai quật tử thi cô Debbie Carter và cảnh sát bắt Ron Williamson đến nay, đã suýt soát một năm trôi qua. Kỳ điều trị bệnh tâm thần cuối cùng của Ron Williamson là tại bệnh viện Trung ương, cách đây đã mười ba tháng. Theo yêu cầu của luật sư Barney Ward, Ron được bác sĩ Norma Walker ở thị trấn Ada khám một lần. Cuộc khám hôm ấy diễn ra chớp nhoáng giống như các cuộc khám bệnh tại bệnh viện địa phương của những thị trấn nhỏ. Số thuốc dành cho Ron, trong một năm qua đã bị đám nhân viên nhà tù sử dụng vô tội vạ để anh đỡ gào thét và quấy phá. Thời gian nằm một mình trong xà lim không giúp ích gì cho việc cải thiện bệnh trạng tâm thần của Ron.

Tuy nhiên bệnh trạng ấy chỉ làm những người thân trong gia đình lo lắng, chứ người ngoài chẳng hề quan tâm. Cả phía công tố, cả phía bào chữa, cả tòa án nói chung, đều không thấy ai đưa ra trước tòa vấn đề sức khỏe tâm thần của Ron.

***

Đã đến thời điểm bắt đầu cuộc xét xử.

Không khí háo hức, hiếu kỳ của buổi đầu tiên nhanh chóng lui đi nhường chỗ cho không khí căng thẳng của việc bầu chọn các bồi thẩm cho phiên tòa. Các luật gia thăm dò ý kiến mọi người. Chánh án Jones thì liên tục gạt tên người này, thêm tên người kia.

Ron Williamson, về phần mình, tỏ ra bình thản. Hôm nay trông anh bảnh bao: tóc cắt ngắn, râu ria cạo nhẵn, trông sạch sẽ tinh khôi. Ron mặc bộ quần áo mới của chị Annette mua cho. Anh lật giở trang cuốn sổ tay. Con trai luật sư Barney không lúc nào rời mắt khỏi thân chủ của bố. Còn Ron Williamson thì thấy có người cứ chằm chằm nhìn mình cũng không hiểu đấy là ai và tại sao lại nhìn mình chăm chú như vậy.

Đến cuối buổi chiều mới bầu chọn xong mười hai thành viên của bồi thẩm đoàn, trong số ấy có bảy nam, năm nữ. Tất cả đều là người da trắng. Chánh án Jones phổ biến nội quy phiên toà và quyền hạn cũng như nhiệm vụ của bồi thẩm. Sau đấy ông tuyên bố kết thúc buổi làm việc hôm nay, mọi người về nhà nghỉ ngơi.

Hai chị em Annette và Renee thấy lóe lên một chút hy vọng: trong số bồi thẩm được bầu chọn hôm nay có một người là con nuôi bà hàng xóm, nhà ở bên kia đường, đối diện với nhà của Annette. Một bồi thẩm nữa là tín đồ của giáo khu Pentecostal, và biết rất rõ mẹ của họ, bà Juanita, là người nổi tiếng sùng tín. Một bồi thẩm nữa là một người anh em họ xa.

Trông hầu hết các bồi thẩm đều có vẻ như quen quen. Annette và Renee cảm thấy đã từng gặp họ ngoài phố. Thị trấn Ada nhỏ xíu ấy mà. Dân số không đông gì mấy. Vả lại hai chị em sinh ra ở đây, lớn lên tại đây, đi lại nhiều tất đã từng gặp vô số người trong thị trấn.

Chín giờ sáng hôm sau, các bồi thẩm đã đến đông đủ. Nữ trợ lý tư pháp Nancy Shew thay mặt viện công tố đọc lời khai mạc phiên tòa. Luật sư Barney Ward đợi cho bà ta đọc hết lời khai mạc mới đưa ra một số đề nghị.

Nhân chứng đầu tiên của bên buộc tội lại là Glen Gore, nhưng sự việc đã không diễn ra như người ta tính toán. Xưng họ tên xong, Glen Gore từ chối không đưa ra lời chứng. Y lấy cớ ông luật sư Barney Ward nhìn y bằng cặp mắt khinh bỉ. Sao lại như thế được? Y cũng đã phục vụ bốn mươi năm trời. Ừ thì y có phạm sai lầm nên mới phải một thời gian ngồi tù, giữa đám lưu manh tội phạm lúc nhúc.

Sau một lát ngỡ ngàng, chánh án Jones quyết định sử dụng lời chứng của Glen Gore đã đưa ra trong phiên sơ thẩm trước, từ tháng Bảy năm ngoái. Bây giờ chỉ cần tuyên đọc lại lời chứng ấy cho hội đồng xét xử nghe. Việc này được thực hiện ngay. Sau đấy chánh án và các bồi thẩm nghe Glen Gore kể lại câu chuyện y đã bịa ra. Y đã nhìn thấy bị cáo Ron Williamson tại câu lạc bộ Coachlight đúng cái đêm xảy ra vụ án mạng cô Debbie Carter.

Luật sư Barney bị trượt mất dịp vạch mặt Glen Gore, kẻ chuyên lừa đảo, chuyên gây gổ và rất vũ phu. Bên bào chữa cũng không kịp chất vấn nhân chứng xem đêm hôm ấy y, Glen Gore, ở đâu và làm những gì.

Do Glen Gore làm mình làm mẩy khiến trình tự công việc bị đảo lộn đôi chút, nhưng sau khi y rời khỏi bục nhân chứng thì mọi thứ trở về nền nếp. Tiếp sau Glen Gore, đến một loạt nhân chứng khác của bên công tố. Nhưng cả Tommy Glover, Gina Vietta lẫn ông Charlie Carter, thân sinh của nạn nhân, đều chỉ lặp lại những gì họ đã nói trong phiên xét xử Dennis Fritz trước đây.

Gary Allen cũng lại kể câu chuyện kỳ quái, chuyện anh ta nghe thấy hai người đàn ông phun vòi nước vào nhau lúc 3h30 sáng, trong một ngày tháng Mười hai năm 1982. Nhưng lần này Gary Allen thay đổi một chút để tỏ ra không phải anh ta lặp lại hoàn toàn. Lần này Gary Allen nói rằng anh ta chỉ nghi đấy là Ron Williamson. Còn người đàn ông thứ hai thì rất có thể là Dennis Fritz.

Sự thật là Gary Allen không thể nhận ra hai người ấy là ai và cũng không có khái niệm về chuyện gì đã xảy ra. Anh ta nghiện ma túy, cảnh sát biết anh ta rất rõ. Anh ta quen biết thanh tra Dennis Smith vì là bạn học thuở nhỏ, ở trường trung học.

Vụ án mạng cô Debbie Carter xảy ra không lâu thì thanh tra Dennis Smith chủ động đến gặp Gary Allen hỏi xem anh này có nghe thấy gì khả nghi vào lúc tờ mờ sáng ngày 8 tháng Mười hai không. Gary Allen kể rằng vào khoảng giờ ấy, tức là hơn 3 giờ sáng, anh ta nhìn thấy hai người đàn ông phun vòi nước vào nhau ở sau ngôi nhà bên kia đường, đối diện với nhà anh ta. Gary Allen không nhớ hôm ấy là ngày bao nhiêu. Nhưng thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers nghe được tin ấy thì nhảy cẫng lên mừng rỡ. Đúng hai người đàn ông ấy là Ron Williamson và Dennis Fritz rồi. Làm xong việc cưỡng hiếp và giết chết cô Debbie Carter, hai thằng khốn kiếp ra đây rửa ráy, giội nước cho trôi mọi dấu vết dơ bẩn. Thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers bèn thúc Gary Allen cố nhớ thêm vài chi tiết nữa. Thậm chí họ chìa ra cho anh ta xem một tấm ảnh chụp quang cảnh hiện trường vụ án. Hai ông gợi cho Gary Allen thấy hai người đàn ông ấy rất có thể là Ron Williamson và Dennis Fritz. Nhưng anh ta nói anh ta không nhận ra đấy là ai.

Một thời gian ngắn trước khi tiến hành cuộc thẩm vấn, thám tử Gary Rogers đến nhà Gary Allen và lại gợi cho anh này cố nhớ thêm, thậm chí mớm cho Gary Allen những chi tiết khiến anh ta không nhìn thấy nhưng tưởng là có nhìn thấy. Thí dụ đấy có đúng là Ron Williamson và Dennis Fritz không? Phải chăng Gary Allen nhìn thấy hai tên ấy ở ngoài đường lúc sáng tinh mơ, còn thời điểm thì rất có thể chính là cái ngày 8 tháng Mười hai ấy chăng?

Không, Gary Allen không dám chắc. Thám tử Gary Rogers bèn kéo một bên vạt áo lên để Gary Allen nhìn thấy khẩu súng ngắn của cảnh sát. Ông ta nói rằng nếu Gary Allen không cố nhớ thêm thì sẽ gặp nguy hiểm đấy.

Nhân chứng tiếp theo là thanh tra Dennis Smith. Ông này dùng ngôn từ dẫn các bồi thẩm thăm thú căn hộ của cô Debbie Carter, sau khi cô bị hành hung, cưỡng hiếp rồi giết chết. Tiếp đấy, thanh tra Dennis Smith điểm lại các công việc điều tra của cảnh sát như chụp ảnh, lấy dấu vân tay, vân vân. Các tấm ảnh được các bồi thẩm truyền tay nhau xem và phản ứng của họ rất giống nhau, tất cả đều tỏ ra ghê tởm và kinh hoàng, nhất là khi họ nhìn thấy thi thể lõa lồ đầy thương tích của cô Debbie Carter. Nhân viên nhiếp ảnh của cảnh sát đã dùng thang cứu hỏa leo lên cao chụp một số kiểu từ trên nhìn xuống trong căn hộ của nạn nhân.

Ủy viên công tố Bill Peterson sử dụng một trong những tấm ảnh ấy và đề nghị thanh tra Dennis Smith nói cho các vị bồi thẩm biết căn hộ của cô Debbie Carter nằm ở chỗ nào. Thì ra chỉ cách hội trường xử án có vài lô nhà.

Luật sư Barney nói: “Đưa tôi xem những cái ảnh ấy nào.” Người ta bèn đưa ảnh cho ông. Tuân theo một cái lệ bất thành văn ở thị trấn Ada, ông luật sư mù cầm lấy tập ảnh rồi bước ra ngoài cùng với người trợ lý, cô Linda. Cô tả tỉ mỉ nội dung từng bức ảnh cho ông nghe.

Quan sát trực tiếp là một chuyện thực tế, nhưng ông luật sư già này đang nghĩ đến cách tạo sự phản tác dụng của những bức ảnh. Ông vẫn luôn nghĩ rằng thật là lạ khi hai tên hung thủ có thể cùng tiến hành một cuộc cưỡng hiếp tàn bạo rồi lại giết một cách dã man cô gái kia mà không để lại một dấu vân tay nào thì thậm vô lý. Sao có thể như thế được? Ông yêu cầu thanh tra Dennis Smith giải thích, phải chăng căn hộ ấy không có chỗ nào phẳng và nhẵn để có thể rắc bột lên lấy dấu vân tay? Nhưng thiếu gì chỗ có mặt phẳng nhẵn nhụi, thí dụ mặt ngoài đồ thủy tinh, mặt kính, phẳng gương, mặt những đồ dùng bằng chất nhựa cứng, mặt đồ gỗ sơn, vân vân. Rồi ông luật sư mù dắt dẫn viên thanh tra Dennis Smith hết từ chỗ này đến chỗ kia trong khắp căn hộ, rồi buộc người thanh tra cảnh sát phải thừa nhận đã sơ ý bỏ qua rất nhiều chỗ có khả năng lưu lại dấu vân tay, thí dụ các dụng cụ nhà bếp, những chiếc cốc, tấm kính trên cửa sổ phòng ngủ vẫn để mở, các trang bị trong phòng tắm, mặt cánh cửa, gương soi. Danh sách những chỗ có thể lưu lại dấu vân tay cứ kéo dài thêm mãi, và người ta thấy rõ là thanh tra Dennis Smith đã lơ là việc thu thập những dấu vân tay còn để lại tại hiện trường vụ án.

Có sẵn bằng chứng trong tay, luật sư già Barney Ward quay viên thanh tra đến mức ông này mặt mũi xanh xám, ú ớ, không còn cãi được câu nào. Khi thấy ông luật sư già này đã đưa việc chất vấn lên tầm mạnh mẽ, thì cả ủy viên công tố Bill Peterson lẫn nữ trợ lý tư pháp Nancy Shew đều hoảng hốt và lên tiếng phản đối. Và bao giờ những lời phản đối ấy cũng nhận được từ ông luật sư một câu nói móc rất đau.

Sau thanh tra Dennis Smith, đến thám tử Gary Rogers lên bục nhân chứng. Ông này tiếp tục trình bày tỉ mỉ quá trình điều tra. Nhưng bằng chứng quan trọng nhất mà Gary Rogers đóng góp vào cho bên công tố chính là kể lại cho bồi thẩm đoàn nghe lời thú tội dưới hình thái giấc mộng của Ron Williamson, diễn ra đúng một ngày sau khi anh ta bị bắt giam. Nội dung giấc mộng nghe có vẻ giống như thật, nhưng luật sư già Barney lại có ngay một số câu chất vấn để vặn lại.

Ông luật sư già rất tò mò muốn biết tại sao cuộc thẩm vấn ấy lại không được ghi, bằng máy ghi hình hay ít nhất cũng ghi âm? Thám tử Gary Rogers thừa nhận cơ quan cảnh sát có cả máy ghi âm lẫn ghi hình và cũng thường sử dụng chúng. Còn trong trường hợp này, cảnh sát không dùng máy ghi lại vì chưa biết trong cuộc thẩm vấn, nhân chứng có nói ra được điều gì mới không.

Mà tại sao lại liều lĩnh ghi lại những điều có thể tai hại cho bên công tố và có lợi cho bên tội phạm?

Thám tử Gary Rogers thừa nhận cảnh sát có một cái máy ghi âm và ông có biết cách sử dụng nó. Ông không dùng nó trong cuộc thẩm vấn Ron Williamson vì cuộc thẩm vấn này không nằm trong qui trình thông thường của cảnh sát. Điều này ông luật sư già Barney không tán thành.

Thám tử Gary Rogers cũng thừa nhận trong cơ quan cảnh sát có rất nhiều bút và giấy, nhưng ông ta lúng túng khi phải giải thích tại sao ông ta và thám tử Featherstone không bảo Ron Williamson viết ra giấy. Điều này ông luật sư già Barney cũng lại không tán thành. Ông tỏ vẻ nghi ngờ.

Trong khi ông luật sư Barney vạch ra những cách làm việc không bình thường của hai thám tử trong việc điều tra vụ án này thì thám tử Gary Rogers lại phạm một dại dột quá lớn. Ông ta nhắc đến cuộc thẩm vấn Ron Williamson năm 1983, trước máy thu hình. Chính trong lần thẩm vấn ấy, Ron đã nói là anh không liên quan đến cái chết của cô Debbie Carter.

Luật sư Barney lộ vẻ không tin. Tại sao chuyện ấy bây giờ ông thám tử mới nói ra? Rồi tại sao đến bây giờ ông mới cho chúng tôi biết là hôm ấy có ghi hình? Vậy cái băng hình ấy hiện ở đâu? Việc nghiên cứu vụ án trước khi xét xử sơ thẩm nghi can đòi hỏi cơ quan điều tra phải đưa ra tất cả những tư liệu, ghi chép, băng ghi âm và ghi hình, các tấm ảnh và vật chứng thu thập được để bên công tố và những người có trách nhiệm nghiên cứu. Luật sư Barney đã thu thập tư liệu xếp thành hồ sơ cho riêng mình từ nhiều tháng trước. Tháng Chín vừa rồi, tòa đã ra lệnh bên công tố phải cung cấp cho luật sư tư vấn và luật sư bào chữa của bị cáo tất cả các tư liệu đội điều tra của cảnh sát đã thu thập được cho đến ngày hôm ấy.

Tại sao cảnh sát và ủy viên công tố có thể ngồi yên cùng với chiếc băng ghi hình ấy, suốt bốn năm qua mà cứ im thin thít? Sao họ có thể giấu bên bào chữa những tư liệu và băng hình ấy?

Luật sư bào chữa Barney có rất ít nhân chứng của mình. Bởi vụ xét xử Ron Williamson về cơ bản là vụ án do nhà nước thụ lý. Trong những trường hợp ấy, nhà chức trách triệu tập các nhân chứng để chứng minh Ron Williamson có tội, nhằm mục đích làm cho anh ta, trong một lúc nào đấy, bằng một cách nào đấy, thú nhận mình chính là thủ phạm vụ án mạng. Cách duy nhất để bác bỏ sự lên án ấy là từ chối nó. Và người duy nhất có thể từ chối chỉ có thể là bản thân bị cáo. Ông luật sư già Barney đã tính sẽ đưa Ron Williamson lên ghế nhân chứng để anh ta tự bào chữa cho mình. Khốn nỗi, Ron lại sợ.

Bản ghi hình năm 1983 có thể là một bằng chứng hùng hồn để bên bào chữa đưa ra trước tòa. Bốn năm rưỡi về trước, nghĩa là cách phiên tòa này khá xa, việc phân bổ các nhân chứng còn gặp khó khăn. Và từ lâu, trước khi người ta có một bản luận tội dài kèm theo rất nhiều lời khai của các nhân chứng đưa ra cho Ron để anh trả lời thì anh đã từng ngồi trước máy ghi hình và nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng mình vô tội.

Trong một nghị quyết nổi tiếng năm 1963, Brady V. Maryland, tòa án tối cao Hoa Kỳ quy định: “Việc bên công tố hủy bỏ những chứng cứ có lợi cho bị cáo là sự vi phạm thô bạo quá trình tố tụng, vì chứng cứ là thứ để buộc tội, bất kể động cơ của bên công tố thế nào”.

Những người điều tra có đủ mọi nguồn. Nhiều khi họ thấy được nhân chứng hoặc bằng chứng có lợi cho nghi can. Họ có thể giấu biệt, hoặc giữ im lặng, làm như trong suốt hàng chục năm không hề biết đến những bằng chứng có thể gỡ tội, hoặc ít nhất thì cũng giảm tội cho bị cáo. Bằng thủ đoạn ấy, họ vẫn có thể cố tình kết án người ta bất chấp lẽ công bằng của công lý.

Bây giờ luật sư Barney đang đứng trước chánh án Jones, thám tử Gary Rogers ngồi trên ghế nhân chứng gần đấy, còn ủy viên công tố Bill Peterson thì đang cúi gằm mặt, nhìn đăm đăm đôi giày của ông ta. Và chính trong lúc này đây, tại tòa án này đang diễn ra một sự vi phạm trắng trợn điều quy định của tòa án tối cao Hoa Kỳ.

Ông luật sư già Barney yêu cầu tòa công nhận cuộc xét xử này là sai, nhưng bị chánh án Jones không chấp thuận. Ông chánh án hứa sau khi phiên tòa kết thúc, sẽ tiến hành một cuộc đối chất xung quanh vấn đề này.

Hôm nay là Thứ sáu và lúc này chiều đã muộn. Ai nấy đều mệt. Chánh án Jones tuyên bố nghỉ để 8 giờ 30 sáng Thứ hai tiếp tục làm việc. Ron lại bị còng tay, các quan chức vây quanh anh, cảnh sát lôi anh ra khỏi hội trường. Anh đã tỏ thái độ kiên quyết trước tòa và điều ấy mọi người đều thấy.

Trang nhất báo Tin tức buổi chiều ở Ada đăng dòng tít: “Ngày thứ nhất của phiền tòa: Ron Williamson giành được quyền kiểm soát.”

***

Nhân chứng thứ nhất của ngày Thứ hai là bác sĩ Fred Jordan. Đây là lần thứ ba và cũng tại vị trí này, bác sĩ Fred Jordan xác nhận chi tiết cuộc mổ xác và nguyên nhân cái chết. Và cũng là lần thứ ba bà Peggy, mẹ của nạn nhân, đau đớn thêm một lần nữa. Nỗi đau lần này không kém những lần trước chút nào. May mà bà không được xem những tấm ảnh vừa rồi được các bồi thẩm truyền tay nhau. Nhưng bà thấy được phản ứng của họ và đối với bà thế là đủ.

Sau bác sĩ Fred Jordan đến Tony Vick lên bục nhân chứng. Anh là hàng xóm của Dennis Fritz. Tiếp đến Donna Walker, nhân viên chạy bàn ở cửa hàng tùy chọn. Rồi cuối cùng là Letha Caldwell, một người quen sau này. Cả mấy nhân chứng này đều không có tác dụng gì vì họ đã làm chứng trong phiên tòa xét xử bị cáo Dennis Fritz hôm trước.

Không khí bắt đầu sôi động khi người ta gọi đến nhân chứng tiếp theo, đấy là một phụ nữ, chị ta tên là Terri Holland. Trong phiên sơ thẩm xét xử Dennis Fritz, chị ta đã bịa ra chuyện này chuyện nọ một cách táo tợn mà không sợ ai vạch mặt, vì hôm ấy Ron không có mặt. Nhưng đến phiên tòa xét xử lần này, Ron có mặt. Anh biết rõ sự thật là thế nào. Terri Holland thấy Ron nhìn chị chằm chằm, khiến chị ta không thể giữ thái độ thoải mái và tự tin như lần trước.

Terri Holland bắt đầu tuôn ra toàn những câu chuyện do chị ta sáng chế. Chị ta nhắc lại những câu nói của Ron mà chị bảo chính tai chị nghe thấy. Theo chị ta thì trong nhà tù, Ron đã nói về cô Debbie Carter. Tất nhiên nghe thấy Terri Holland bịa đặt ra như thế, Ron rất ức, chỉ chực quát lên. Anh gục gặc đầu, nghiến chặt hai hàm răng, nhìn thẳng vào mắt chị ta như muốn ăn sống nuốt tươi chị ta ngay tức thì.

Cuối cùng Terri Holland khai: “Bị cáo bảo nếu cô Debbie chịu đi theo y, cùng về với y, thì y đã không phải giết cô ấy.”

Bị cáo Ron nói rất to: “Láo!”

Nữ trợ lý tư pháp Nancy Shew hỏi nhân chứng: “Có lần nào bà nghe thấy bị cáo nói điện thoại về chuyện gì liên quan đến cô Debbie Carter không?”

Nhân chứng Terri Holland: “Hôm ấy tôi làm ở chỗ giặt là. Tôi là người được các quản giáo giao việc phục vụ sinh hoạt mà. Tôi thấy bị cáo Ron nhấc máy điện thoại, quay số gọi cho mẹ anh ta. Bị cáo bảo bà là cố tìm cách vào thăm y, mang cho y thuốc lá và những thứ gì khác nữa. Tôi không nhớ là những thứ gì, nhưng bị cáo vòi vĩnh bà cụ rất nhiều. Bị cáo còn bảo mẹ y rằng, nếu mẹ không làm như tôi yêu cầu thì tôi sẽ giết bà như đã giết con bé Debbie Carter.”

Đến đây thì Ron không nhịn nổi nữa. Anh quát lên: “Nói láo!”

Nữ trợ lý tư pháp Nancy Shew lại hỏi nhân chứng: “Thưa bà Holland, bà có nghe thấy bị cáo miêu tả hay kể về một chi tiết nào trong cái chết của nạn nhân Debbie Carter không?”

Nhân chứng Terri Holland: “Hôm ấy, trong gian dành cho các tù nhân mới đến ở tạm chờ bố trí chỗ giam, tôi nghe thấy bị cáo kể với đám tù nhân mới đến ấy là y đã quật chai Coca Cola vào mông cô Debbie rồi lấy quần lót của cô ta nhét vào họng cô ta.

Ron Williamson chồm lên, trỏ vào mặt Terri Holland, quát: “Bịa! Tôi chưa bao giờ nói câu nào đại loại như thế, kể cả từ bé đến giờ! Tôi không giết cô ấy. Chị là đồ ăn không nói có!”

Luật sư Barney nói: “Bình tĩnh đã, Ron.”

Ron Williamson: “Tôi không biết chị là ai, nhưng tôi cam đoan chị sẽ phải trả giá đắt cho cái tội bịa đặt ra mọi thứ, dựng đứng lên toàn chuyện không có."

Mọi người nín thở, bây giờ mới thở phào. Luật sư Barney từ từ đứng lên. Ông biết sẽ xảy ra chuyện gì nên ông chặn trước. Nhân chứng của bên công tố đã nói lên hai sự kiện cốt lõi, đấy là chai Coca Cola và chiếc quần lót của cô Debbie Carter. Và điều ấy thật nguy hiểm cho bên buộc tội.

Thấy không khí trong phòng xử án đột nhiên trở nên quá căng thẳng: một nhân chứng dối trá đang huyên thuyên và một luật sư đang chuẩn bị đối phó, nữ trợ lý tư pháp Nancy Shew cố xoa dịu mọi thứ.

Nữ trợ lý tư pháp Nancy Shew hỏi: “Thưa bà Holland, cho tôi được hỏi bà về những chi tiết bà vừa đưa ra. Vậy bà có nhớ chắc chắn những đồ vật bị cáo đã sử dụng trong lúc gây án không? Thí dụ bà vừa nói là bị cáo dùng chai Coca Cola?”

Luật sư Barney: “Xin phép tòa, tôi nghe thấy hết những gì bà Terri Holland nói, nhưng tôi nghĩ một quan chức đại diện ngành tư pháp không nên gợi ý cho nhân chứng thay đổi lời khai. Và tôi phản đối việc làm vừa rồi của bà đại diện.”

Nhân chứng Terri Holland: “Bị cáo nói chai Coca Cola hay chai tương cà chua hay chai...”

Luật sư Barney: “Xin chú ý lời tôi đã phát biểu, thưa tòa.”

Nhân chứng Terri Holland: “Chuyện xảy ra đã rất lâu. Bốn năm rồi còn gì.”

Bị cáo Ron Williamson: “Bịa! Chị là đồ...”

Luật sư Barney: “Bình tĩnh, Ron!”

Nữ trợ lý Nancy Shew: “Thưa bà Holland, bà còn nghe thấy bị cáo nói thêm chi tiết nào nữa không?”

Luật sư Barney: “Nếu tòa cho phép...”

Nữ trợ lý Nancy Shew: “Ông có thể nghĩ về...”

Luật sư Barney: “Tôi phản đối cách hỏi của bà đại diện tư pháp quận nhằm gợi ý và định hướng khai cho nhân chứng.”

Tòa: “Đề nghị bà đại diện tư pháp quận hãy đưa ra câu hỏi nào không có hàm ý.”

Nữ trợ lý Nancy Shew: “Thưa bà Terri Holland, bà có nói bị cáo kể là y đã giết nạn nhân. Nhưng bị cáo có nói nguyên nhân tại sao y giết cô ấy không?”

Nhân chứng Terri Holland: “Vì bị cáo đòi làm tình với cô ấy.”

Bị cáo Ron Williamson: “Nói láo! Chị nói láo! Không có mảy may nào sự thật trong tất cả những chuyện chị đưa ra. Tất cả đều do chị bịa đặt một cách thô bỉ và trắng trợn!”

Luật sư Barney: “Im đã!”

Bị cáo Ron Williamson (đứng phắt dậy): “Chị ta là đứa nói dối. Tôi sẽ không ngồi lại để nghe những lời bịa đặt bậy bạ và trắng trợn kia. Cô Debbie Carter chết không phải do tôi giết. Chị đừng bịa đặt ra như thế để vu cho người vô tội!”

Luật sư Barney: “Xin hiểu cho đấy không phải là những lời bình luận ngoài lề.”

Tòa: “Khoan một lát.”

Luật sư Barney: “Tôi nói với thân chủ của tôi.”

Tòa: “Khoan một phút. Ông Ron Williamson, tòa thông báo ông biết là tòa không cho phép ông phát biểu tại chỗ và chưa xin phép như vậy.”

Nữ trợ lý Nancy Shew: “Thưa bà Holland, bà nhớ bị cáo còn nói những gì nữa? Đến chi tiết nào nữa trong vụ án hay không?”

Nhân chứng Terri Holland: “Bị cáo đã giết cô Debbie Carter vì cô ấy không chịu ngủ với y.”

Ron Williamson: “Chị bịa, đồ chó đẻ! Chị hãy nói sự thật đi. Chưa bao giờ tôi giết ai cả.”

Luật sư Barney: “Thưa ngài chánh án, tôi xin được phép hỏi, ngài có thể cho nghỉ tại chỗ vài phút không?”

Tòa: “Được. Xin hãy nhớ những điều tòa nhắc nhở. Bồi thẩm đoàn có thể ra ngoài.”

Ron Williamson: “Xin cho tôi nói với nhân chứng. Cho tôi hỏi chị ta. Chị vừa nói những thứ quái đản gì vậy? Chị lấy đâu ra những thứ không làm gì có ấy?”

***

Mấy phút nghỉ tại chỗ khiến cho không khí trong hội trường dịu xuống. Khi bồi thẩm đoàn đã ra khỏi hội trường, chánh án Jones nhẹ nhàng phân giải với Ron, và anh hứa sẽ giữ thái độ đúng đắn.

Lúc đoàn bồi thẩm quay vào, chánh án Jones giải thích rằng vụ án chỉ có thể giải quyết trên cơ sở những chứng cứ, chứ không theo ý muốn của ai hết. Không có bình luận gì từ phía công tố và tất nhiên cả từ phía bị cáo.

Nhưng câu đe của Ron: “Chị sẽ phải trả giá đắt cho cái tội bịa đặt này”, đã được các bồi thẩm nghe thấy. Họ cũng đâm giật mình và thấy sợ anh.

Trong lúc hội trường hỗn loạn, nữ trợ lý tư pháp quận Nancy Shew không thể làm cho nhân chứng sống lại hoàn toàn. Dùng những câu hỏi gợi ý và định hướng, bà ta đã chữa cho nhân chứng từ chỗ chai Coca Cola thành chai nước tương cà chua, nhưng còn chiếc quần lót nhét vào miệng nạn nhân thì vẫn chưa ổn. Nhân chứng Terri Holland không hề nhắc đến chiếc khăn ăn.

Nhà nghệ sĩ tài ba tiếp theo của bên công tố để “giúp” tòa tìm ra sự thật là cô gái Cindy Mclntosh, nhưng cô này hồi hộp đến nỗi không còn nhớ câu chuyện gì cô cần phải kể ra. Cô lắp bắp một lúc rồi im bặt và rời khỏi bục nhận chứng mà vẫn chưa làm tròn được nhiệm vụ ủy viên công tố Bill Peterson giao cho.

Hai nhân chứng Mike Tenney và John Christian kể về câu chuyện họ trao đổi với Ron trong tù, lúc đêm khuya, trong ấy có một số điều Ron buột miệng nói ra khiến họ lấy làm lạ. Khốn nỗi cả hai đều không nhắc gì đến lời nói của Ron, nhắc đi nhắc lại nhiều lần, cả trong nhà tù lẫn bên ngoài nhà tù, là anh vô tội. Anh không liên quan gì đến vụ án và anh sẵn sàng gào lên hàng tiếng đồng hồ rằng anh vô tội.

Sau giờ nghỉ ngắn ngủi để ăn trưa, ủy viên công tố Bill Peterson chuẩn bị cho các nhân chứng tiếp theo. Họ đều là chuyên gia Phòng thí nghiệm của Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma. Họ được sắp xếp theo thứ tự giống như trong phiên xét xử Dennis Fritz hôm trước.

Nhân chứng đầu tiên chiều nay là chuyên gia Jerry Peters. Ông ta kể về việc khai quật tử thi nạn nhân và in lại dấu vân lòng bàn tay của cô. Nguyên nhân phải khai quật và in lại dấu vân lòng bàn tay vì cơ quan điều tra chưa chắc chắn dấu vân lòng bàn tay trên vết máu ở miếng gỗ chân tường trong căn hộ cô Debbie Carter mà cảnh sát đã cắt ra đem về nghiên cứu là của ai. Có phải của nạn nhân không hay của một người mà nhà chức trách chưa nghĩ đến.

Luật sư Barney đã định quật cho ông chuyên gia Jerry Peters này một đòn bằng cách hỏi vặn, tại sao việc này không tiến hành ngay lúc mổ tử thi mà lại phải đợi đến bốn năm rưỡi sau mới làm? Phải chăng trong suốt bốn năm rưỡi vừa qua cảnh sát vẫn hồ nghi kết quả thu được về dấu vân lòng bàn tay cũng như kết quả phân tích so sánh nó? Hoặc cũng có thể do ủy viên công tố Bill Peterson đã gọi điện đến vào một ngày đầu năm 1987 và gợi ý gì đấy? Chuyên gia Jerry Peters lúng túng, chỉ trả lời qua quít và mơ hồ.

Chuyên gia Larry Mullins đưa ra nhận định giống như nhận định của Jerry Peters: dấu vân lòng bàn tay thu được tại hiện trường cách đây bốn năm rưỡi chính là của nạn nhân, cô Debbie Caiter, chứ không phải của một sát thủ bí mật nào như lúc đầu đã có người nhận định.

Nữ chuyên gia Mary Long nghiên cứu riêng về các chất dịch trong cơ thể con người. Bà giải thích cho tòa hiểu rằng khoảng hai mươi phần trăm số dân trên thế giới, tính chất của mẫu máu không thể hiện trong các dịch khác, tỉ như nước tiểu, mồ hôi, tinh dịch, số người này được gọi bằng một thuật ngữ khoa học là “vô tiết nhân” (non secretors). Dựa trên việc nghiên cứu mẫu máu và mẫu nước bọt của Ron Williamson và Dennis Fritz thì thấy rằng hai người này là hai “vô tiết nhân”.

Người để lại tinh dịch tại hiện trường cũng rất có thể là một “vô tiết nhân”. Tuy nhiên, bà Mary Long không dám quả quyết vì chưa đủ bằng chứng.

Do đấy, tám mươi phần trăm dân số cần phải được loại ra ngoài diện tình nghi. Hoặc nói cho chính xác thì khoảng tám mươi phần trăm. Tuy nhiên mẫu tinh dịch của Ron Williamson và của Dennis Fritz lại phù hợp với loại “vô tiết nhân”.

Chỉ cần cố gắng một chút, luật sư Barney cũng phá được lập luận của bà nghiên cứu viên Mary Long, bằng cách hỏi bà ta đã làm “tét” bao nhiêu người để đi đến kết luận là tất cả có hai mươi, trong đó có nạn nhân? Còn về số liệu của vụ án, thì bà nói 20% dân số nói chung, nhưng sao lại là 60% số người nộp mẫu tinh dịch?

Sau nữ chuyên gia Mary Long là nhân chứng Susan Land. Bà này trình bày ngắn gọn, vì bà vừa mới nhận được các mẫu lông tóc trong vụ án Debbie Carter, chưa kịp làm gì thì đã phải chuyển công việc ấy sang cho ông Melvin Hett.

Khi luật sư Barney hỏi nguyên nhân tại sao phải chuyển, bà nhân chứng đáp: “Vào thời điểm ấy tôi bận vào rất nhiều vụ án mạng, do đấy tôi bị stress nặng, không thể nhận thêm việc này nữa. Nếu cứ giữ lấy để làm, tôi e sẽ phạm sơ suất.”

Bục nhân chứng chuyển cho nhân vật tiếp theo, cũng là chuyên gia kỹ thuật. Tên ông là Melvin Hett, Sau khi tuyên thệ chỉ nói sự thật, ông chuyên gia bắt đầu trình bày. Vẫn lại cái bài giảng như cho sinh viên mà ông đã giảng trong phiên tòa xét xử Dennis Fritz hôm trước. Melvin Hett đã tiến hành công việc tỉ mỉ, cẩn thận và ông tin tưởng phương pháp phân tích lông tóc là một phương pháp đáng tin cậy. Mà trên thực tế, các vụ án mạng, người ta đều sử dụng phương pháp phân tích này.

Nhân chứng Melvin Hett cho biết ông đã tiến hành công việc này cho hàng ngàn vụ án và thấy lông tóc của những người ở độ tuổi giữa hai mươi nhăm và ba mươi hầu như tuyệt đối đúng. Vì có những đặc điểm rất rõ.

Khi ông bắt đầu đụng đến các mẫu lông tóc của Ron Williamson, ông khẳng định rằng lông bộ phận sinh dục lấy được trên giường nạn nhân giống hệt mẫu lông tóc của bị cáo - Ron Williamson. Còn hai sợi tóc tìm thấy trên tấm khăn ăn nhét vào miệng nạn nhân cũng có nguồn gốc như trên, nghĩa là cũng của bị cáo, Ron Williamson.

Bốn sợi lông tóc còn lại, thấy rõ không phải của Ron Williamson, nhưng chuyên gia Melvin Hett lờ đi, không nhắc gì đến chúng.

Nói xong ông ta rời khỏi bục nhân chứng, về việc phân tích hai mẫu tóc, ông chuyên gia nói: “Đấy rõ ràng là của bị cáo, Ron Williamson. Rất giống nhau về kết cấu.”

Mấy từ “giống nhau về kết cấu” không phải từ chuyên môn của các nhà phân tích mẫu lông tóc. Những bồi thẩm nào chỉ có học vấn vừa phải, thì nghe xong, rất thán phục cách làm việc khoa học của các nhà phân tích lông tóc. Họ không biết rằng dùng phương pháp này để xác định nhân thân người có mẫu lông tóc ấy là điều không có thể, tối đại đa số trường hợp là sai.

Sau khi thấy nhân chứng Melvin Hett dùng cụm từ “giống nhau về kết cấu” lần thứ hai, luật sư Barney liền ngỏ ý phản đối. Chánh án bác bỏ lời phản đối ấy, nói ông luật sư có thể tiến hành tranh luận vấn đề này trong lúc đối chất sau này.

Thông thường, để tòa đánh giá được chứng cứ, hầu hết các nhà phân tích mẫu lông tóc xưa nay đều đem đến tòa bản chụp phóng rất to sợi lông hay tóc gây tranh cãi. Hai tấm ảnh được đặt cạnh nhau để mọi người dễ so sánh. Một bên là mẫu lông tóc của một người đã biết, một bên là của người chưa biết. Chuyên gia dựa trên hai tấm ảnh ấy mà trình bày, giảng giải những chỗ giống nhau hoặc khác nhau. Nhưng ở đây, chuyên gia Melvin Hett lại không làm như thế!

Sau khi loay hoay năm năm trời, tiêu hao hàng ngàn giờ cặm cụi trước ống kính hiển vi, ông đã làm ba bản báo cáo, nhưng không lần nào ông đưa ra những bức ảnh phóng to mẫu lông tóc. Không một mẫu lông tóc nào của Ron Williamson được đem ra so sánh với một mẫu lông tóc tìm thấy ở hiện trường vụ án.

Dường như tòa quá tin chuyên gia Melvin Hett, không băn khoăn gì, mà chấp nhận ngay kết luận của ông ta.

Điều thuận tiện trong chứng cứ Melvin Hett đưa ra là ở chỗ có bốn sợi lông tóc tìm thấy trong căn hộ cô Debbie Carter “dường như”, hoặc “kết cấu hao hao giống” sợi lông tóc của Ron Williamson. Chính đấy mới là nguyên nhân duy nhất khiến Melvin Hett được ủy viên công tố Bill Peterson mời lên bục nhân chứng trong phiên tòa.

Sự có mặt của chuyên gia Melvin Hett cũng như bằng chứng ông ta đưa ra đã làm nổi bật tính không trung thực và phá hủy niềm hy vọng của một bị cáo nghèo, mong được hưởng một sự xét xử công bằng.

Cách đây nhiều tháng, luật sư Barney đã đề xuất là phải cho phép nghi can tiếp xúc trực tiếp với một chuyên gia thành thạo về phân tích lông tóc. Nhưng chánh án Jones đã không đồng ý.

Lẽ ra chánh án Jones nên biết nhiều hơn xung quanh vấn đề này. Cách đây ba năm, một vụ trọng án đã được tòa án tối cao Hoa Kỳ xử phúc thẩm và kết quả là đã bác bỏ bản án sơ thẩm. Sự việc này đã rung động giới tư pháp và cả nhiều người dân, vậy mà chánh án Jones không hề biết. Trong văn bản Ake v. Oklahoma, tòa án tối cao bang Oklahoma chỉ ra: “Khi nhà chức trách truy tố và đưa ra xét xử một bị can nghèo thì họ phải đảm bảo bị can ấy được hưởng mọi bước đi trong quá trình điều tra cũng như xét xử... Công lý phải được công bằng, tạo mọi điều kiện cho bị can, dù người ấy giầu hay nghèo...”

Đáng tiếc là chánh án Jones cũng lại không biết cả điều này!

***

Chứng cứ pháp lý là yếu tố quan trọng nhất trong xét xử. Các nhân chứng Jerry Peters, Larry Mullins, Mary Long, Susan Land và Melvin Hett là những chuyên gia có kinh nghiệm lâu năm và họ đã khẳng định tội của Ron. Bênh vực anh chỉ còn luật sư Barney, tuy là luật sư lão luyện trong nghề bào chữa, nhưng đáng tiếc là ông đơn độc nên không thể làm gì được.

Nhà chức trách đứng về phía chuyên gia Melvin Hett. Ngay từ đầu phiên tòa, luật sư Barney đã từ chối không đọc diễn văn khai mạc, mà ông dành bài diễn văn ấy cho lúc mở đầu phần bào chữa. Đấy là một xử lý nhiều rủi ro. Hầu hết các luật sư bào chữa đều nóng lòng muốn nói với các bồi thẩm càng sớm càng tốt niềm hồ nghi của mình đối với những chứng cứ nhà chức trách đưa ra nhằm buộc tội bị cáo. Bài phát biểu mở màn và bài kết luận cuối cùng là hai bước quan trọng bậc nhất trong một phiên tòa, vì trong hai lần phát biểu này, luật sư có thể nói trực tiếp với chánh án và hội đồng xét xử, và tranh thủ họ về phía mình càng nhiều càng tốt.

Luật sư Barney thì làm cử tọa sửng sốt khi ông khước từ không đọc bài diễn văn khai mạc. Ông không nêu lý do, nhưng rõ ràng cách xử trí như thế rất không bình thường.

Luật sư bào chữa Barney mời lên bục nhân chứng bảy quản giáo và nhân viên nhà tù. Tất cả đều xác nhận không nghe thấy bị cáo Ron Williamson nói câu nào có thể suy ra là anh ta có liên quan đến vụ án mạng cô Debbie Carter.

Wayne Joplin là viên chức tòa án quận Pontotoc. Luật sư Barney mời ông này lên ghế nhân chứng để ông ta thuật lại bản thành tích tội phạm của Terri Holland. Chị ta bị bắt tại New Mexico tháng Mười năm 1984, rồi được di lý về giam ở nhà tù thị trấn Ada, tại đây chị ta đã lập tức giúp cơ quan cảnh sát điều tra về hai vụ án mạng đầy tai tiếng.

Tuy nhiên, Terri Holland đã phải chờ tới hai năm mới báo cho cảnh sát biết về lời Ron thú tội với chị ta, Terri Holland bị tù về tội làm ngân phiếu giả, đã thanh toán với tòa khoản lệ phí 70 đô la, rồi khoản bồi thường thiệt hại cho người bị hại 527,09 đô la, 225 đô la tiền thù lao trả dần cho luật sư, mỗi tháng 50 đô la, 10 đô la cho Cục quản lý trại giam, và 50 đô la mỗi tháng cho Quỹ đền bù nạn nhân các vụ án mạng. Nhưng chị ta chỉ trả một lần duy nhất, khoản 50 đô la, sau đấy chị ta lờ thẳng, không trả khoản nào cho ai nữa.

Luật sư Barney mời đến nhân chứng cuối cùng của ông, chính là bị cáo. Để Ron nói với tư cách nhân chứng là điều nguy hiểm. Đầu óc anh mông lung, mới sáng nay anh đã quát tháo nhân chứng Terri Holland khiến hội đồng xét xử cũng khiếp anh. Ron lại đã có tiền sử ngồi tù, luật sư muốn dùng cái đó để kiềm chế anh, cho anh thấy rõ không dễ mà người ta tin những điều anh nói. Không ai biết đích xác anh đã dùng bao nhiêu thuốc an thần và thuốc thần kinh. Ron nóng nảy và bột phát. Và điều tệ hại nhất là anh chưa được ông luật sư Barney, người bào chữa cho anh, chuẩn bị chu đáo.

Luật sư Barney yêu cầu tiến hành một cuộc hội ý không chính thức. Ông nói với chánh án Jones: “Bây giờ thì ta tha hồ mà cười. Tôi rất muốn đề nghị cho nghỉ giải lao để tôi có thể thuyết phục thân chủ của tôi bớt thói nóng nảy và có thái độ ôn hòa hơn. Anh ta cứ như con ngựa, nhảy chồm chồm. Dù sao tôi cũng đề nghị tòa tạm nghỉ một lúc.”

“Ông chỉ có duy nhất một nhân chứng này thôi à?” Chánh án Jones hỏi.

“Vâng, đúng thế, chỉ có một. Và tôi cũng đề nghị ngài cho thời gian kha khá.”

Khi tòa tuyên bố nghỉ trưa, Ron bị giải về nhà tù. Lúc xuống thang gác, anh nhìn thấy cha của nạn nhân, ông Charlie Carter. Anh nói to: “Chào ông Carter! Tôi không giết con gái ông đâu!” Thế là mấy nhân viên nhà tù bèn đẩy anh đi nhanh hơn.

Mười giờ tối, Ron Williamson tuyên thệ. Sau vài câu hỏi theo lệ, anh khẳng định là không hề nói chuyện với chị Terri Holland bao giờ và cũng khẳng định là anh chưa hề gặp cô Debbie Carter.

“Đến lúc nào Ron mới biết tin về cái chết của cô Debbie Carter?” Luật sư Barney hỏi.

“Ngày 8 tháng Mười hai, chị tôi là Annette Hudson, gọi điện về nhà. Mẹ tôi nhấc máy trả lời. Và tôi nghe thấy mẹ tôi nói: “Mẹ biết em Ron không làm chuyện ấy, bởi nó ở nhà cả đêm qua.” Tôi hỏi mẹ tôi là có chuyện gì đấy? Mẹ tôi đáp chị Annette gọi điện về, nói rằng có một cô gái bị giết ở khu vực gần nhà ta.”

Sau đấy ít phút, tình trạng không được chuẩn bị trước càng lộ rõ, khi luật sư Barney hỏi nhân chứng (tức là Ron) về lần đầu tiên anh gặp thám tử Gary Rogers.

Ron đáp: “Sau khi tôi đến cơ quan cảnh sát để trả lời thẩm vấn trước máy phát hiện nói dối không lâu.”

Luật sư Barney khó chịu: “Ron, sao anh lại nói như thế?”

Trước tòa, cấm không được nhắc đến máy phát hiện nói dối. Cho dù nhà chức trách có sử dụng máy này, nhưng không vì thế mà loại bỏ được những vụ xử án oan sai. Không có ai báo cho Ron biết điều cấm kỵ ấy. Vài giây sau, Ron lại mất bình tĩnh khi anh thuật lại mối quan hệ giữa anh và Dennis Fritz.

“Tôi gặp Dennis Fritz và hai chúng tôi cùng đi bộ trên hè phố. Tôi có kể anh ta nghe rằng thanh tra Dennis Smith đã gọi điện trả lời tôi và kể kết quả của cuộc thử nói dối. Kết luận của nó không rõ ràng”.

Luật sư Barney thay đổi đề tài để gỡ rối cho thân chủ. Ông hỏi Ron ở đâu cái đêm xảy ra vụ án mạng, rồi cuối cùng ông hỏi khẽ, coi chỉ như ngẫu nhiên và như đấy không phải câu hỏi quan trọng: “Cậu giết cô Debbie Carter phải không?”

“Thưa ông, không. Tôi không giết cô ấy.”

“Tôi cũng tin là như thế.”

Trong mong muốn đưa thân chủ của mình lên ghế nhân chứng rồi ra khỏi ghế càng nhanh càng tốt, luật sư Barney đã bỏ lỡ nhiều cơ hội bác bỏ các bằng chứng bên công tố đưa ra để kết tội Ron. Thí dụ lẽ ra ông luật sư Barney đưa ra câu hỏi nào đấy để Ron có điều kiện thanh minh về lời “thú tội bằng giấc mộng” anh đã kể cho hai thám tử Gary Rogers và Featherstone nghe cái đêm ngay sau khi anh bị bắt giam. Hoặc ông luật sư Barney có thể đưa ra câu hỏi để tạo điều kiện cho Ron giải thích về những cuộc trao đổi giữa anh với John Christian và Mike Tenney. Ron cũng có thể vẽ ra bản sơ đồ nhà tù và giảng giải cho tòa biết là không thể có chuyện chị nhân chứng Terri Holland kia nghe thấy câu chuyện điện thoại của anh. Thậm chí anh có thể bác bỏ những lời chứng của Glen Gore, Gary Allen, Tony Vik, Donna Walker và Letha Caldwell.

Giống như mọi ủy viên công tố khác, ủy viên công tố Bill Peterson cũng mai phục một đòn quyết định, đánh vào bị cáo trong lúc đối chất. Chỉ có điều ông ta không ngờ bị cáo lại là người gan góc, ai đe dọa thế nào cũng không sợ. Vị ủy viên công tố nêu lên khá đậm mối quan hệ tình bạn giữa bị cáo và Dennis Fritz, mà Dennis Fritz thì hiện đã lĩnh án tù chung thân về tội cưỡng hiếp và giết cô Debbie Carter.

“Có phải sự thật là ông và ông Dennis Fritz gần như là bạn thân nhất của nhau?”

“Đúng. Có thể nói là như thế.” Ron thản nhiên đáp. “Các ông chơi cậu ta và bây giờ các ông định chơi cả tôi luôn.”

Câu trả lời của Ron làm hội đồng xét xử nhăn mặt và ủy viên công tố Bill Peterson thấy rõ điều ấy.

Để thay đổi đề tài, ông ta hỏi Ron nhớ có gặp cô Debbie Carter hôm ấy không. Đây là câu hỏi lần nào nghe thấy Ron cũng trả lời khẳng định là không. Lần này ủy viên công tố Bill Peterson lại đưa câu hỏi ấy ra nữa, khiến Ron nổi nóng: “Peterson! Tao sẽ trả lời nốt một lần này cho mày rõ để lần sau mày đừng hỏi nữa.”

Chánh án Jones can thiệp và yêu cầu nhân chứng giữ thái độ lịch sự và trả lời vào đúng câu hỏi. Lần này, Ron cũng nhắc lại là không gặp cô Debbie Carter.

Ủy viên công tố Bill Peterson đi đi lại lại cố trấn tĩnh, rồi ông ta đứng lại, nhắc lại cái điều bịa đặt của ông ta xưa nay: “Ông có biết sau mười giờ tối ngày 7 tháng Mười hai ông ở đâu không?”

Ron đáp: “Ở nhà.”

Ủy viên công tố Bill Peterson: “Ông làm gì ở nhà?”

Ron: “Cách đây năm năm, cứ sau mười giờ tối là tôi xem ti vi hoặc ngủ.”

Bill Peterson: “Hôm ấy, ông đã ra khỏi nhà sau mười giờ tối, đúng thế không? Ra chỗ cái lối đi sau nhà ông ấy?”

Ron: “Không. Tôi không đi đâu ra khỏi nhà cả.”

Bill Peterson: “Ra cái lối đi sau nhà ông, cái hẻm ấy?”

Ron: “Không.”

Bill Peterson. “Ra cái lối đi hẹp ấy...”

Ron: “Không.”

Bill Peterson: “Ông và Dennis Fritz?”

Ron. “Không. Không có.”

Bill Peterson: “Rồi hai người theo cái lối đi nhỏ ấy đến căn hộ kia.”

Ron. “Không có chuyện ấy.”

Bill Peterson: “Ông có biết đêm hôm ấy Dennis Fritz ở đâu không?”

Ron: “Tôi chỉ biết anh ta không đến nhà cô Debbie Carter. Và điều này tôi đã khẳng định, và tôi còn mãi mãi khẳng định như thế.”

Bill Peterson: “Tại sao ông biết ông Dennis Fritz không có ở nhà cô Debbie Carter?”

Ron: “Tôi dám đánh cuộc bằng tính mệnh của tôi để bảo đảm rằng Dennis Fritz không đến nhà cô Debbie Carter đêm hôm ấy.”

Bill Peterson: “Ông hãy kể chúng tôi nghe, tại sao ông biết?”

Ron: “Tôi chỉ biết như thế. Đừng có hỏi vặn tôi nữa. Tôi sẽ không trả lời và tôi sẽ ra khỏi đây. Còn ông cứ việc ở lại và đưa điều ấy báo cáo với tòa. Tôi nói ông biết, ông đã vu tội để bỏ tù Dennis Fritz, bây giờ ông lại định vu tội và bỏ tù tôi.”

Luật sư Barney: “Ron!”

Ron: “Mẹ tôi biết đêm hôm ấy tôi chỉ toàn ở nhà. Ông đã căn vặn, hành hạ tôi suốt năm năm qua. Bây giờ thì ông muốn làm gì tôi ông cứ làm. Tôi không quan tâm nữa.”

Peterson rời khỏi bục nhân chứng rồi ngồi xuống.

***

Trong cuộc tranh luận kín, luật sư Barney vạch ra rất nhiều lỗi lầm của cảnh sát: điều tra quá lâu, để mất mẫu lông tóc của Glen Gore, nhắm mắt trước những sự kiện khả nghi của Glen Gore, thám tử bỏ qua nhiều dấu vân tay tại hiện trường vụ án, phải lấy đi lấy lại nhiều lần các mẫu sinh học của Ron, thủ đoạn phi lý lấy lời thú tội qua giấc mộng, bỏ qua lời khai đầu tiên của Ron, các nhận định thay đổi xoành xoạch...

Giống như các luật sư chân chính, ông Barney Ward lập luận rằng trong việc thu thập chứng cứ và điều tra vụ án này có rất nhiều điều đáng nghi ngờ và ông kêu gọi các thành viên hội đồng xét xử hãy dùng lương tri của mình để suy xét.

Ủy viên công tố Bill Peterson cãi rằng trong các chứng cứ này không có chứng cứ nào đáng nghi ngờ hết. Các nhân viên cảnh sát đều là những người vừa có trình độ nghiệp vụ cao, vừa có ý thức bảo vệ chân lý, đã tiến hành một cuộc điều tra rất hiệu quả. Rõ ràng Peterson và đội ngũ của ông ta đã cung cấp cho tòa những chứng cứ rõ ràng về tội ác của bị cáo.

Hiểu được sơ qua lý lẽ “khoa học” của chuyên gia lông tóc Melvin Hett, ủy viên công tố Bill Peterson liền khai thác thoải mái và lập luận bằng những từ khoa học về phân tích lông tóc. Ông ta nói: “Vậy là sau một thời gian dài cẩn thận phân tích và so sánh, hết phân tích lại so sánh, so sánh cái này với cái kia rồi lại so sánh cái kia với cái nọ, cuối cùng ông chuyên gia Melvin Hett đã đi đến những kết luận thực sự chính xác. Như thế có nghĩa năm 1985 người ta đã phát hiện có sự tương tự.”

Luật sư Barney đã chuẩn bị từ trước. Nghe đến đây ông lập tức phản bác: “Xin phép tòa, trong ngôn ngữ chính quy của ngành tư pháp không có từ tương tự. Một là đúng như nhau, hai là khác nhau. Làm gì có thứ từ thể hiện sự mập mờ như vậy. Tôi phản đối cách sử dụng từ này.”

Lời phản đối được tòa chấp nhận.

Ủy viên công tố Bill Peterson vẫn cố thuyết phục. Ông ta nhắc lại lần lượt lời chứng của các nhân chứng bên công tố. Khi ông ta nhắc đến lời chứng của Terri Holland, Ron bật lên.

Ủy viên công tố Bill Peterson: “Bà Terri Holland đã kể các vị nghe là bà ấy nhớ lại chuyện đã xảy ra trong nhà tù cách đây hai năm. Nội dung lời chứng của bà Holland là bà đã nghe thấy bị cáo nói điện thoại với mẹ y là nếu mẹ y không đem mấy thứ gì đấy cho y thì y sẽ giết bà như đã giết Debbie Carter.”

Ron không chịu nổi, đứng phắt lên, quát: “Câm! Mụ ta nói láo!”

Ủy viên công tố Bill Peterson: “Bà Terri Holland nghe thấy bị cáo nói với mẹ y, nếu mẹ không đem những thứ ấy cho tôi thì tôi sẽ giết bà như đã giết con bé Debbie năm trước!”

Ron: “Câm miệng, gã kia! Tao không bao giờ nói như thế.”

Luật sư Barney: “Ngồi xuống, Ron. Cố giữ bình tĩnh!”

Tòa: “Ông Williamson!”

Ron: “Tôi không hề nói như thế với mẹ tôi.”

Luật sư Barney: “Ron!”

Tòa: “Ông hãy nghe ông ủy viên công tố nói.”

Ron ngồi xuống, dịu lại. Ủy viên công tố Bill Peterson vẫn lải nhải, cố chứng minh là bị cáo đã thú nhận là thủ phạm vụ cưỡng bức, hành hung và giết nạn nhân, cô Debbie Carter, đêm hôm 7 sáng ngày 8 tháng Mười hai năm 1982. Bài luận tội của Peterson quá nhiều điểm suy luận vô căn cứ nên luật sư bào chữa Barney liên tiếp phải đứng lên phản bác và đề nghị chánh án Jones yêu cầu ủy viên công tố Bill Peterson chỉ được bó hẹp trong những gì thật sự xảy ra, có bằng chứng cụ thể.

Đến 10 giờ 15 sáng thì hội đồng xét xử tạm rút vào phòng trong để trao đổi kín. Hôm ấy là Thứ tư, hai chị của Ron, Annette và Renee ngồi lại trong hội trường một lúc rồi rủ nhau ra ngoài kiếm chỗ ăn trưa. Cả hai chị em đều nuốt không trôi.

Sau khi nghe những chứng cứ buộc tội, hai chị em càng thấy rõ là em họ vô tội. Nhưng đây là tòa án do ủy viên công tố Bill Peterson khống chế. Mọi quyết định của tòa đều theo hướng do lão đưa ra. Lão ta đã tập hợp những nhân chứng, đủ kiểu để có một mớ hỗn độn những chứng cứ thật giả, cốt để đánh lừa các bồi thẩm, những người ít có kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp lý.

Hôm trước, trong phiên tòa xử Dennis Fritz, Peterson cũng đã tập hợp đúng những người y hệt hôm nay làm nhân chứng và đã đạt được mục đích của lão là úp lên đầu Dennis Fritz cái án tù chung thân.

Hai chị em khinh bỉ con người ấy. Lão Peterson độc ác đã to miệng lấn át mọi người khác. Hai chị em khinh ghét lão vì những gì lão bịa đặt để gán cho em trai họ.

Thời gian trôi nhanh. Đến 4 giờ 30 chiều thì có người nói, bản án đã được nhất trí trong hội đồng xét xử. Hội trường lại đông kín. Mọi người vội vã kiếm chỗ ngồi nghe. Chánh án Jones ngồi vào vị trí, rồi kêu gọi mọi người hãy bĩnh tĩnh khi nghe tòa tuyên án, ông đề nghị đừng ai làm chuyện gì nóng nảy. Hai chị em Annette và Renee nắm chặt tay nhau, lầm rầm cầu nguyện.

Phía bên kia hội trường, những thân nhân của nạn nhân vụ án, cô Debbie Carter, cũng đang nắm chặt tay nhau và cũng lầm rầm cầu nguyện.

4 giờ 40 chiều, đại diện hội đồng xét xử trao cho thư ký tòa bản án. Ông này liếc nhìn vào tờ giấy rồi truyền cho chánh án Jones. Ông chánh án tuyên đọc, bị cáo có tội về mọi phương diện. Thân nhân gia đình nạn nhân, cô Debbie Carter, lặng lẽ giơ tay lên tỏ ra đã chiến thắng. Trong khi ấy, hai chị em Annette và Renee ôm mặt khóc tấm tức. Còn một người nữa cũng khóc tấm tức là mẹ của nạn nhân, bà Peggy Stillwell.

Ron cúi đầu, anh bị sốc nhưng cũng không ngạc nhiên. Sau mười một tháng ngồi tù trong nhà tù quận Pontotoc, anh cảm thấy mình đã nằm trong cả một cái hệ thống pháp lý thối nát. Bạn anh, Dennis Fritz vô tội, nhưng vẫn cứ bị kết án tù chung thân đấy thôi. Dennis Fritz bị kết án cũng bởi những gã cảnh sát ấy và lão ủy viên công tố Bill Peterson ấy.

Chánh án Jones muốn kết thúc phiên tòa cho nhanh. Không nghỉ giải lao, ông yêu cầu nhà chức trách tiến hành ngay bước kết án. Đại diện nhà chức trách quận, nữ trợ lý tư pháp Nancy Shew phát biểu trước tòa. Bà ta nói rằng trong vụ án này đã có đủ chứng cứ để thấy bị cáo là kẻ độc ác, tàn bạo cho nên đã bị bắt tạm giam, và tuy không còn điều kiện để gây những vụ án mạng khác nhưng y vẫn là mối đe dọa đối với xã hội. Cho nên phải xử y tội chết.

Để chứng minh điều này, bên công tố mời thêm bốn nhân chứng lên phát biểu và làm chứng. Bốn phụ nữ này trước đây đã gặp Ron, mà cả bốn đều khai nhận tội ác của y. Người phụ nữ đầu tiên là Beverly Setliff. Bà ta chứng rằng ngày 14 tháng Sáu năm 1981, bảy năm trước, bà ta đã gặp Ron Williamson bên ngoài nhà bà ta, lúc ấy đã rất khuya, khi bà ta đang sửa soạn giường nệm để đi ngủ. Ron Williamson gọi: “Ê!” Rồi nói luôn: “Tôi biết chị đang có ở nhà nên tôi đến đây để gặp.” Đấy là lần đầu tiên bà nhìn thấy Ron Williamson, trước đấy bà chưa gặp bị cáo bao giờ. Nghe thấy bị cáo nói thế, bà ta bèn khóa trái cửa lại, thế là Ron Williamson bỏ đi mất.

Hôm ấy Beverly Setliff không báo cảnh sát, thậm chí cũng không để ý đến chuyện ấy nữa, cũng không coi chuyện ấy đáng để kêu. Mãi đến gần đây, khi bà ta nhìn thấy một nhân viên cảnh sát tại một cửa hàng tùy chọn và kể ông ta nghe về câu chuyện đã xảy ra với bà và Ron Williamson trước kia. Không biết sau đấy nhân viên cảnh sát kia có lập biên bản không, bà ta không biết vì không nhìn thấy biên bản ấy.

Ba tuần lễ sau, Beverly Setliff lại gặp Ron Williamson và khi một người bạn nói tên anh ta bà mới biết người đến nhà bà mấy năm trước chính là Ron Williamson. Sáu năm sau, khi Ron Williamson bị bắt vì là nghi can trong vụ án giết cô Debbie Carter, bà Beverly Setliff mới gọi điện báo cảnh sát biết chuyện ngày xưa.

Nhân chứng tiếp theo là Lavita Brewer, người phụ nữ đã làm chứng trong phiên tòa xét xử Dennis Fritz trước đây. Chị ta nhắc lại câu chuyện đã kể tại phiên tòa trước: Hôm ấy, Lavita Brewer gặp Ron Williamson và Dennis Fritz tại một quán rượu tại thành phố Norman, rồi cùng lên xe với hai tên ấy. Ngồi trong xe chị ta thấy sợ. Hoảng quá, chị ta nhảy ra ngoài, gọi điện báo cảnh sát. Theo như lời chứng của Lavita Brewer thì Ron Williamson không hề đụng vào người chị, cũng không đe dọa chị. Chị ta hoảng hốt lúc ngồi ghế sau xe ô tô của Dennis Fritz, vì y không chịu dừng xe cho chị ta ra, và hành động tồi tệ nhất của Ron Williamson lúc trong xe là y quát chị: “Câm mồm!”

Nhảy ra khỏi xe xong, Lavita Brewer bỏ chạy, gọi điện cho cảnh sát nhưng hôm ấy chị ta không kiện Ron Williamson.

Tiếp theo lại là Letha Caldwell lên chứng lần nữa. Chị ta biết Ron Williamson từ khi cùng học trường trung học Byng và kết thân với y. Vào thời gian đầu thập niên 1980, y và Dennis Fritz rất hay đến nhà chị ta và ngồi đến khuya, lần nào đến cả hai cũng say mèm. Một hôm, Letha Caldwell đang chăm sóc luống hoa thì Ron Williamson xuất hiện. Hai người nói chuyện với nhau vài câu, chị vừa làm vừa nói khiến Ron tức giận. Đến một lúc, y túm cổ tay chị. Chị giằng ra, đi vào nhà, nhưng chợt nhớ mấy đứa con chị đang ở gian trong, chị dừng lại ở gian ngoài. Ron Williamson đi theo Letha Caldwell, nhưng không đụng vào người chị ta nữa mà lát sau bỏ đi. Sự việc này chị chưa báo cảnh sát.

Nhân chứng cuối cùng là nhân chứng nguy hiểm nhất. Một phụ nữ đã li hôn tên là Andrea Hardcastle. Chị ta kể về một câu chuyện đau lòng, và kể kéo dài suốt bốn tiếng đồng hồ. Câu chuyện thế này. Năm 1981, Ron Williamson cùng một người bạn của y đến nhà chị, năn nỉ rồi ép chị phải cùng đi với chúng. Chúng định lái xe đến câu lạc bộ Coachlight. Andrea Hardcastle đang chăm ba đứa con của mình và hai đứa con người khác nên không thể đi được. Hai tên đi ra, nhưng lát sau Ron quay lại, để lấy một bao thuốc lá. Y không hỏi gì mà cứ thế xông thẳng vào nhà chị ta, rồi gạ gẫm chị ta. Lúc ấy là sau mười giờ tối, trẻ con đã đi ngủ và Andrea Hardcastle rất sợ. Chị hoàn toàn không có hào hứng làm tình. Ron nổi khùng, đánh tát liên tiếp vào mặt và lên đầu chị, rồi đòi chị phải cho y phóng tinh vào miệng. Andrea Hardcastle không chịu. Và chị thấy nếu gợi chuyện để y nói thì y sẽ dịu đi, không đánh đập chị nữa.

Thế là chị chuyển sang nói chuyện với y. Ron Williamson kể về thành tích của y trên sân bóng chầy, về cuộc hôn nhân tan vỡ và về thú chơi ghi-ta của y, về Chúa và đạo, về mẹ của y. Ron Williamson đã từng theo học trung học với chồng cũ của chị, anh từng làm chân bảo vệ tính theo giờ ở câu lạc bộ Coachlight. Chị quay lại câu chuyện với Ron Williamson, nói rằng Ron đôi lúc lành hiền nhưng cũng nhiều lúc nóng nảy, thô bạo. Trong lúc nghe y nói, chị nghĩ cách làm thế nào để đuổi y đi, vì chị rất lo cho an toàn của năm đứa trẻ. Chị vừa ngỏ ý thì Ron đã nổi khùng, lại đánh đập chị và lột hết quần áo trên người chị. Nhưng y say quá nên dương vật không cương lên được.

Đến một độ nào đấy, Ron nói bóng gió là y phải giết chị mới được. Sợ quá, Andrea Hardcastle cầu nguyện và tìm cách trì hoãn. Chị ta mời y chiều hôm sau hãy đến, lúc ấy bọn trẻ đi học cả, hai người tha hồ tự do, nếu Ron muốn làm tình thì chị sẵn sàng. Lời mời ấy khiến Ron hài lòng, thế là y chịu ra về.

Andrea Hardcastle báo cho chồng cũ và cha. Hai người đến, sục sạo xung quanh để tìm Ron Williamson. Cả hai đều có vũ khí và sẵn sàng đánh nhau trên đường phố.

Mặt Andrea Hardcastle đầy thương tích, có những vết đâm chém, những vết tím bầm, hai mắt sưng vù. Ron có một chiếc nhẫn chạm hình đầu ngựa, và cái nhẫn ấy có thể gây thương tích nặng. Hôm sau Andrea Hardcastle gọi điện báo cảnh sát nhưng không kiện cáo gì y. Nhà Ron Williamson ở ngay gần nhà chị ta nên chị ta rất sợ gây chuyện với y.

Luật sư Barney chưa chuẩn bị cho việc đối phó với lời chứng của Andrea Hardcastle cho nên rất lúng túng trong lúc đối chất.

Tòa im lặng lúc Andrea Hardcastle bước ra khỏi bục nhân chứng. Các thành viên hội đồng xét xử nhìn sang bị cáo. Đấy là thời gian họ cân nhắc.

Một điều không hiểu nổi là tại sao luật sư bào chữa Barney không mời một nhân chứng nào để chống lại bên công tố và cứu Ron Williamson thoát khỏi án tử hình. Hai chị Annette và Renee ngồi trong hội trường, sẵn sàng lên làm chứng. Trong suốt cả phiên tòa, không ai nhắc một lời nào đến bệnh trạng tâm thần của Ron Williamson.

Lời chứng vừa rồi của Andrea Hardcastle chính là lời chứng cuối cùng mà hội đồng xét xử được nghe.

***

Trong bản báo cáo cuối cùng, ủy viên công tố Bill Peterson đề nghị án tử hình. Và ông ta đưa ra thêm một số bằng chứng mới toanh, một vài sự kiện chưa được chứng minh trong quá trình xét xử. Thí dụ trước đây chưa ai đưa chuyện Ron có chiếc nhẫn đầu ngựa, phải đến lúc Andrea Hardcastle lên chứng, chi tiết kia mời được biết đến. Ủy viên công tố Bill Peterson đã tận dụng số kết luận ít ỏi để mở rộng và đề cao các chứng cứ nhằm chứng minh bị cáo đã sử dụng chiếc nhẫn ấy trong lúc đánh đập cô Debbie Carter, do đấy các thương tích trên mặt cô rất giống những thương tích trên mặt Andrea Hardcastle từ tháng Giêng năm 1981. Đấy quả là một nhận định quái đản. Rõ ràng là không có bằng chứng nào hết, nhưng ở đây người ta cần gì bằng chứng.

Ủy viên công tố Bill Peterson lấy giọng đau xót nói với tòa: “Bị cáo đã để lại vết tích của y trên khuôn mặt bà Andrea Hardcastle, rồi y lại in thêm những vết tích ấy lần nữa trên mặt nạn nhân vụ án này, cô Debbie Carter.” Ông ta kết thúc bài phát biểu như sau: “Thưa các quý bà, quý ông. Bây giờ các vị đã quay lại hội trường này, tôi xin các vị hãy nói vào mặt bị cáo như sau: Hỡi Ron Williamson, anh đáng tội chết vì những gì anh đã làm với cô Debbie Carter.”

Đây chính là lúc hợp thời nhất để Ron nói một câu quan trọng nhất: “Tôi không giết cô Debbie Carter!”

Hội đồng xét xử rút vào họp kín, và rất nhanh sau đấy, chưa đến hai tiếng đồng hồ trao đổi và thống nhất ý kiến, các thành viên bước ra hội trường với bản tuyên án: Tử hình!

***

Đây là một vụ án có vẻ không bình thường nên chánh án Jones triệu tập một cuộc họp vào ngày hôm sau để nghe những ý kiến xung quanh lệnh của tòa án tối cao bang Oklahoma về việc vi phạm luật Brady. Tuy đã gần như kiệt sức đồng thời cũng ngán đến tận cổ phiên tòa xét xử này, nhưng luật sư Barney vẫn rất phẫn nộ trước việc cảnh sát và ủy viên công tố Bill Peterson cố tình giấu biệt bản ghi hình cuộc hỏi cung Ron Williamson năm 1983.

Nhưng việc gì mà phẫn nộ? Phiên tòa đã kết thúc. Bản ghi hình ấy còn có tác dụng gì nữa đâu.

Không ai lấy làm lạ khi thấy chánh án Jones xác nhận việc đánh mất bản ghi hình cuộc thẩm vấn Ron Williamson năm 1983 không phải là sự vi phạm luật Brady. Vì ở đây không có biểu hiện của sự cố tình mà chỉ là không may thất lạc.

Ron Williamson sắp được giải đến nhà tù, nhà tù lớn nhất và cũng nổi tiếng nhất trong hệ thống giam giữ các phạm nhân tử tội của bang Oklahoma.

Giống như mọi chàng trai trẻ khác ở thị trấn Ada, Ron cũng sưu tầm hàng ngàn tấm ảnh, các tờ rơi, quảng cáo có hình các cầu thủ bóng chầy nổi tiếng và các tên tuổi khác trong làng bóng chầy như Mickey Mantle, Whitey Ford, Yogi Berra, Roger
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.