***

Người Vô Tội

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 15 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Năm

❊ ❊ ❊

Trong vụ án mạng cô Debbie Carter tại căn hộ của cô, thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers có trong tay không chỉ kết quả mổ xác nạn nhân, mẫu vân tay, mẫu lông tóc, mẫu máu, mẫu nước bọt của tất cả những người thuộc diện nghi vấn, mà hai ông còn tin chắc đã biết được hung thủ là ai. Hiện chưa tìm được bằng chứng kết Ron Williamson vào tội này, nhưng hai ông tin tưởng sẽ đến lúc thu thập đủ bằng chứng để đưa Ron Williamson ra tòa và bắt hắn nhận bản án xứng đáng.

Tuy nhiên, về vụ cô Denice Haraway mất tích tại cửa hàng tùy chọn McAnally thì hai ông chưa thấy được một chút dấu vết nào. Chưa tìm ra thi thể, chưa tìm thấy nhân chứng, tóm lại trong tay chưa có gì hết. Hai ông cảm thấy hoàn toàn bất lực trước vụ án này.

Tình trạng bế tắc được giải tỏa bắt nguồn từ một sự việc diễn ra vào tháng Mười năm 1984. Một người trẻ tuổi tên là Jeff Miller chủ động đến trụ sở cảnh sát thị trấn Ada, xin được gặp thanh tra Dennis Smith để cung cấp thông tin về vụ án cô Denice Haraway.

Miller là một thanh niên không có tiền án tiền sự gì, nhưng cảnh sát thị trấn Ada có biết sơ qua về anh ta. Đấy là một chàng trai trẻ nổi tiếng hay la cà các quán hàng đến đêm khuya. Đồng thời anh ta cũng thuộc loại thanh niên không làm ở đâu ổn định, chuyển hết nơi này đến nơi khác.

Jeff Miller thoải mái kéo một chiếc ghế, ngồi xuống rồi bắt đầu kể câu chuyện sau đây.

Vào đúng cái đêm cô Denice Haraway bị mất tích, có một cuộc tụ tập ăn uống tại một địa điểm gần sông Blue River, cách thị trấn Ada hai mươi nhăm dặm về phía Nam. Jeff Miller nói rằng anh ta không có mặt trong bữa ăn uống ấy, nhưng anh biết có hai phụ nữ được mời đến dự bữa tiệc ấy. Jeff Miller có nói họ tên hai phụ nữ ấy cho thanh tra Dennis Smith nghe.

Về sau, hai phụ nữ ấy kể cho Jeff Miller rằng trong bữa tiệc có mặt một người tên là Tommy Ward, và lúc tiệc diễn ra chưa lâu, người ta phát hiện là bị thiếu rượu. Tommy Ward không có ô tô nhưng xung phong đi kiếm thêm rượu và anh ta mượn xe của một phụ nữ tên là Janette Roberts. Tommy Ward đi một mạch mấy tiếng đồng hồ liền mới về. Anh ta không kiếm được bia mà lại ngồi xuống khóc hu hu. Khi được hỏi tại sao khóc, Tommy Ward trả lời là anh ta vừa làm một chuyện khủng khiếp. Chuyện gì vậy? Tất cả mọi người trong bữa tiệc đều muốn biết. Tommy Ward kể rằng trên đường về thị trấn Ada anh ta lái xe qua rất nhiều nhà hàng, nhưng không dừng lại, rồi thế nào anh ta lại thấy mình lái xe đến trước cửa hàng tùy chọn McAnally. Anh ta đỗ xe, bước vào. Lúc đầu, Tommy Ward chỉ định mua bia, nhưng sau thấy cửa hàng vắng vẻ, có mỗi một cô nhân viên, anh ta bèn túm luôn cô ta, cưỡng hiếp rồi giết, giấu thi thể cô ta đi. Bây giờ nghĩ lại anh ta thấy hoảng sợ quá.

Thú nhận một tội ác như vậy trước một cử tọa gồm toàn những bợm rượu và nghiện ma túy là điều có thể chấp nhận vì cũng có lôgich của nó.

Jeff Miller không nói nguyên nhân tại sao hai phụ nữ kia không kể câu chuyện trên cho cảnh sát, mà lại kể cho anh ta nghe. Jeff Miller cũng không nêu lên nguyên nhân tại sao anh ta đợi đến bây giờ mới báo cho cảnh sát biết câu chuyện trên.

Câu chuyện nghe rất vô lý nhưng thanh tra Dennis Smith vẫn tiến hành điều tra theo hướng ấy. Ông ta dò tìm hai người phụ nữ kia, nhưng từ lâu họ không còn ở thị trấn Ada. Mãi về sau, cách đấy một tháng, thanh tra Dennis Smith mới lần ra được hai người phụ nữ ấy, thì họ trả lời là đêm hôm ấy họ không dự bữa tiệc nào, cũng không gặp Tommy Ward ở đâu. Họ cũng nói là không hề nghe câu chuyện nào về một cô gái trẻ làm việc trong cửa hàng bị bắt cóc, cưỡng dâm rồi giết. Thậm chí hai phụ nữ kia khai là không biết tí gì về tất cả những thứ Jeff Miller kể ra.

Thanh tra Dennis Smith bèn dò tìm về người phụ nữ có tên là Janette Roberts là chủ chiếc xe ô tô mà theo Jeff Miller kể thì Tommy Ward đã mượn xe của chị ta. Janette Roberts hiện sống với chồng, tên là Mike Roberts, ở thành phố Norman, cách thị trấn Ada bảy mươi dặm.

Ngày 12 tháng Mười, thanh tra Dennis Smith kéo theo đồng nghiệp là thám tử Mike Baskin, lái xe đến thành phố Norman, gặp Janette Roberts một cách bất ngờ, không báo trước. Hai ông đề nghị chị ta theo họ đến phòng cảnh sát để họ hỏi thêm. Janette Roberts miễn cưỡng phải đồng ý.

Trong buổi thẩm vấn, Janette Roberts thừa nhân chị ta và Mike, chồng chị, cùng với Tommy Ward, Karl Fontenot và nhiều người khác nữa, thường xuyên tổ chức tiệc tùng, ăn uống trên bờ sông Blue River, nhưng chị khẳng định là vào cái đêm Chủ nhật ấy, cái đêm cô Denice Haraway mất tích, chị không hề tham dự một tiệc tùng nào. Quả là chị có mấy lần cho Tommy Ward mượn xe ô tô, nhưng chưa lần nào anh này lại bỏ bữa tiệc trên bờ sông để đi đâu. Mà chị cũng chưa bao giờ nhìn thấy Tommy Ward khóc, chứ chưa nói lại nghe thấy anh ta kể về chuyện anh ta cưỡng dâm một cô gái rồi giết cô ta.

“Không, thưa ông, làm gì có chuyện ấy.”

Janette Roberts hoàn toàn tin chắc như vậy.

Thanh tra Dennis Smith ngạc nhiên một cách thú vị khi nghe thấy nói Tommy Ward hiện đang sống với hai vợ phồng Janette và Mike Roberts. Anh ta cùng làm việc một chỗ với Mike Roberts. Hai người đàn ông này được thuê làm nhà thầu phụ và họ làm việc rất nhiều thời gian, chủ yếu từ lúc nửa đêm đến sáng hôm sau, khi mặt trời mọc mới nghỉ. Thanh tra Dennis Smith và thám tử Mike Baskin quyết định nán lại ở thành phố Norman đợi Tommy Ward đi làm về, rồi thẩm vấn anh ta vài điều.

Trên đường về nhà, Tommy Ward và Mike Roberts dừng xe lại dọc đường để uống bia. Việc uống bia chính là cái cớ để khỏi tiếp chuyện hai viên sĩ quan cảnh sát. Điều quan trọng hơn là Tommy Ward rất không ưa cảnh sát. Anh rất ghét phải có việc dính đến sở cảnh sát ở thành phố Norman này. Cách đây vài tháng cảnh sát thị trấn Ada đã dò hỏi Tommy Ward về một vụ án mạng và anh tưởng thế là xong. Nguyên nhân khiến anh rời khỏi thị trấn Ada là có quá nhiều người bảo cảnh sát Ada đang nghi anh ta dính vào vụ án mạng kia, và điều ấy làm anh rất ngán. Và anh cũng không ưa dân chúng thị trấn Ada, hầu hết họ chỉ lo lập công với cảnh sát.

Bản thân Tommy Ward, trong nhiều năm đã lẩn tránh cánh sát, và bây giờ anh hết sức không muốn gặp và tiếp chuyện thanh tra Dennis Smith và thám tử Mike Baskin.

Tommy Ward không có gì dính dáng đến cô gái bị giết Denice Haraway cho nên anh không sợ, nhưng anh không tin cảnh sát. Sau khi cân nhắc đi cân nhắc lại, cuối cùng Tommy Ward đành đề nghị Mike Roberts lái xe đưa anh đến sở cảnh sát thành phố Norman.

Thanh tra Dennis Smith và thám tử Mike Baskin dẫn Tommy Ward vào một phòng có bố trí máy ghi hình và nói rằng họ cần có bản ghi hình cuộc thẩm vấn này. Tommy Ward rất khó chịu, nhưng không có cách nào từ chối. Máy ghi hình bắt đầu chạy.

Hai ông tỏ ra rất lịch sự. Họ nói đây chỉ là cuộc thẩm vấn theo thông lệ chứ không có gì đặc biệt. Họ hỏi Tommy Ward có nhớ lần được thẩm vấn cuối cùng, cách đây năm tháng không? Tất nhiên anh nhớ. Hôm ấy anh có khai thật không? Tất nhiên là khai thật. Và bây giờ anh có khai thật không? Có chứ, tất nhiên rồi.

Trong khoảng thời gian chừng vài chục phút, thanh tra Dennis Smith và thám tử Mike Baskin quần Tommy Ward làm anh bối rối, lẫn lộn lung tung. Rồi hai ông quay lại cái tuần lễ trong tháng Tư ấy. Cô Dennis Haraway bị mất tích chính trong tuần lễ ấy. Tommy Ward khai hôm ấy anh làm công việc hàn ở nhà mẹ anh, rồi đi tắm và đến dự bữa tiệc tại nhà hai vợ chồng Mike và Janette Roberts lúc ấy còn đang ở thị trấn Ada. Tommy Ward ra khỏi nhà hai vợ chồng Mike và Janette Roberts lúc bốn giờ sáng và đi thẳng về nhà mình. Năm tháng trước đây, anh đã kể với hai viên thám tử này đầy đủ như thế, tất cả những việc anh làm trước lúc cô Denice Haraway mất tích.

“Chuyện đã quá lâu rồi nên tôi đâm lẫn lộn ngày tháng,” anh nói, nhưng hai thảm tử có vẻ không tin.

Họ trả lời, “Đến lúc nào thì anh phát hiện ra là anh đã không khai sự thật với chúng tôi?” và “Bây giờ thì anh đã khai thật chưa?” và “Nếu cứ che giấu thế này thì anh sẽ còn bị rắc rối thêm nhiều đấy, chưa thể yên được đâu.”

Giọng thanh tra Dennis Smith và thám tử Mike Roberts mỗi lúc một gay gắt và mang tính buộc tội hơn. Họ bịa ra là họ có trong tay nhiều nhân chứng khẳng định đã nhìn thấy Tommy Ward trong bữa tiệc bên bờ sông Blue River tối hôm Thứ bảy ấy, và thấy anh đã mượn xe của một người khác lái đi.

“Họ lầm đấy,” Tommy Ward nói. “Tôi không hề nói sai.”

Mà đúng thế. Thật ra anh đi câu cá vào Thứ sáu, rồi ăn tối ở nhà hai vợ chồng Roberts Thứ bảy và đến dự bữa tiệc trên bờ sông Blue River vào tối Chủ nhật.

“Hai lão cảnh sát này bịa ra những chuyện ấy để làm gì nhỉ?” Tommy Ward thầm nghĩ và tự hỏi. Anh biết sự thật là thế nào chứ, đâu phải như hai lão cảnh sát này bịp anh, cố tình bịa ra những điều không hề có. Họ bịa ra để làm gì không biết.

Hai viên sĩ quan cảnh sát vẫn tiếp tục bịa đặt. “Có phải anh đã đến cửa hàng McAnally ăn trộm không? Chúng tôi có trong tay những nhân chứng sẵn sàng khẳng định nhìn thấy anh đến cửa hàng McAnally tối hôm ấy".

Tommy Ward lắc đầu, một mực giữ vững lời khai của mình. Nhưng trong đáy lòng, anh lo lắng. Nếu cảnh sát đã dám bịa chuyện, dám dối trá như vậy thì còn chuyện gì họ không dám làm nữa?

Cuối cùng thanh tra Dennis Smith lấy trong cặp ra một tấm ảnh chụp hình cô Denice Haraway, phóng rất to, gí đến sát mắt Tommy. “Anh quen cô gái này không?”

“Tôi không quen, nhưng tôi biết cô ấy.”

“Anh có giết cô ấy không?”

“Không. Chưa bao giờ tôi giết ai.”

“Vậy ai giết cô ấy?”

“Tôi không biết.”

Thanh tra Dennis Smith tiếp tục giữ cao tấm ảnh cô Denice như thể đấy là một cô gái đẹp và ông ta muốn giơ lên để nhìn cho kỹ. “Gia đình muốn được mai táng cô ấy hẳn hoi. Họ cần biết thi thể cô ấy hiện ở đâu để họ có thể đem về mai táng.”

“Làm sao tôi biết được thi thể cô ấy hiện ở đâu,” Tommy nói, và nhìn tấm ảnh, thấy rằng mình đang bị cố tình khép vào một cái tội mà mấy sĩ quan cảnh sát kia cũng biết là mình không phạm. Đến thế này thì không còn hiểu ra làm sao nữa.

“Anh có thể chỉ cho chúng tôi biết xác cô ấy hiện ở đâu để gia đình đem về mai táng không?”

“Tôi có biết đâu mà chỉ.”

“Anh thử phát huy óc tưởng tượng của anh xem nào”, thanh tra Dennis Smith nói. “Chẳng hạn có hai người nhấc cô ấy lên, đưa vào xe, rồi chở đi. Anh có biết hai người ấy chở cô ấy đi đâu không?”

“Không. Tôi không biết.”

“Anh hãy vận dụng trí tưởng tượng của anh đi.”

“Có thể cô ấy hiện vẫn còn sống, như các ông biết, như mọi người đều biết.”

Thanh tra Dennis Smith tiếp tục giơ cao tấm ảnh, đồng thời hỏi vặn Tommy Ward. Mỗi câu trả lời của anh đều bị hai thám tử gạt đi ngay từ trong óc. Và họ dùng chiến thuật là cứ lặp đi lặp lại mỗi một câu hỏi, nhằm làm đối phương rối trí. Họ hy vọng đối phương sẽ nói ra câu nào hớ, mà họ có thể chụp lấy để vận dụng theo mục tiêu họ nhắm tới. Mục tiêu ấy là khép tội giết cô gái cho Tommy Ward.

Hai bên, một bên là cảnh sát, một bên là dân thường cứ quần nhau như thế một lúc lâu. Bất chấp các mưu mẹo của hai viên sĩ quan cảnh sát, Tommy Ward vẫn bình tĩnh trả lời đúng như sự thật. Tuy trong đáy lòng thấy hoảng sợ, nhưng anh tin rằng mình vô tội, sẽ không ai làm gì được mình hết. Vì thế anh vẫn giữ được tỉnh táo.

Cuối cùng thám tử Mike Baskin nhử một mồi khác. Ông ta nói: “Gia đình đang muốn được chôn cất cô ấy tử tế. Chẳng lẽ anh không thông cảm và thương họ hay sao?”

“Tôi thông cảm với ý muốn tốt đẹp ấy, nhưng tôi không biết hiện giờ cô ấy ở đâu. Thậm chí không biết cô ấy còn sống hay đã chết.”

Cuộn băng ghi hình cuối cùng đã chạy hết. Cuộc thẩm vấn kéo dài một tiếng bốn mươi lăm phút. Và không lúc nào Tommy Ward bị lung lạc mà mắc mưu hai viên sĩ quan cảnh sát. Anh chỉ nói toàn sự thật. Ngoài ra anh không “hoa lá” gì thêm. Thái độ sắt đá của Tommy Ward đã làm hai viên sĩ quan cảnh sát chán ngán. Họ yêu cầu sau đây vài ngày, Tommy Ward đến để thử trước máy phát hiện nói dối. Tommy Ward đồng ý.

Ngồi trên xe để về thị trấn Ada, thanh tra Dennis Smith và thám tử Mike Baskin mừng rỡ, tin chắc rằng họ đã tìm ra đúng thủ phạm vụ cô Denice Haraway bị mất tích.

Thoạt đầu, Tommy Ward thở phào nhẹ nhõm như thể anh vừa trải qua một kỳ sát hạch gay go. Anh tin rằng rồi sự thật sẽ sáng tỏ. Dù xét nghiệm, dù thử trước máy móc nào đi nữa thì chỉ càng làm rõ thêm sự thật mà thôi. Mà sự thật là anh không liên quan gì đến việc cô Denice Haraway kia bị mất tích.

Nhưng rồi ban đêm Tommy Ward bắt đầu nằm mơ thấy những ác mộng. Anh thấy hung thủ trong hình vẽ phác của họa sĩ cơ quan cảnh sát lại như hao hao giống anh. Rồi anh mơ thấy gặp cô Denice Haraway kia, với khuôn mặt xinh đẹp...

Cảnh sát tin rằng mình là thủ phạm. Họ muốn buộc tội cho anh? Để làm gì nhỉ? Tại sao họ bịa ra là người này khai thế này người kia khai thế kia để cố tình đưa mình vào bẫy, để có cớ buộc tội mình. Để làm gì? Tommy Ward càng nghĩ càng không hiểu nổi. Anh tự hỏi, mình có nên tìm một luật sư không?

Tommy Ward gọi điện về cho mẹ, kể hết cho bà nghe. Rồi anh nói rằng anh rất sợ cảnh sát. Anh nói với mẹ: “Con sợ nhất là cảnh sát làm cho con rối trí và lỡ con thốt lên lời nào đấy không có lợi.”

Mẹ anh an ủi con: “Không có chuyện gì đâu. Rồi mọi thứ sẽ yên ổn. Con không có tội thì con không sợ gì hết.”

Sáng Thứ năm, 18 tháng Mười, bạn Tommy Ward là Mike Roberts lái xe chở Tommy Ward đến Cục Điều tra Hình sự tại thành phố thủ phủ bang Oklahoma, cách đấy hai mươi phút. Đến nơi, để bạn vào, Mike Roberts đỗ xe chờ ở ngoài. Công việc kiểm tra chiếm mất khoảng một tiếng đồng hồ. Bao giờ xong việc, Tommy Ward ra, hai người sẽ cùng về để đi làm. Sếp cho họ được nghỉ hai tiếng đồng hồ.

***

Lúc nhìn theo bóng Tommy Ward đi vào tòa nhà của Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma, Mike Roberts không thể tưởng tượng được rằng người bạn thân thiết của mình đang bước những bước chân cuối cùng ngoài thế giới tự do. Và phần đời còn lại của anh ấy sẽ là sau chấn song sắt nhà tù.

Thanh tra Dennis Smith đón Tommy Ward bằng một nụ cười toác miệng và một cái bắt tay thân ái. Sau đấy ông ta dẫn anh vào một căn phòng, để anh ở một mình trong đấy khoảng nửa giờ. Đấy là thủ pháp cảnh sát thường sử dụng nhằm làm cho nghi can thêm căng thẳng thần kinh và mất bình tĩnh. Đến mười giờ rưỡi, một nhân viên cảnh sát đưa Tommy Ward sang một căn phòng khác, tại đây đã có một thám tử, tên là Rusty Featherstone, đang chờ để anh thử trước máy phát hiện nói dối.

Thanh tra Dennis Smith đi đâu mất tăm. Thám tử Rusty Featherstone giải thích cách hoạt động của máy rồi kẹp các điện cực vào một số chỗ trên thân thể Tommy Ward. Khi Rusty Featherstone bất đầu lần lượt đưa ra các câu hỏi, Tommy đã thấy lưng mình ướt đẫm mồ hôi. Những câu hỏi đầu tiên đơn giản, chỉ xoay quanh hoàn cảnh gia đình, trình độ học vấn, công ăn việc làm của anh. “Toàn những điều ai cũng biết, vậy thì hỏi và kiểm tra nói dối làm cái gì?” Tommy Ward thầm nghĩ.

Đến 11 giờ 5 phút, thám tử Rusty Featherstone đọc cho Tommy Ward nghe về quyền của người chịu thử máy này rồi hỏi anh có biết gì về vụ cô Denice Haraway mất tích không. Trong suốt nửa giờ quần thảo Tommy Ward, thám tử Rusty Featherstone không đạt được kết quả nào theo ý ông ta muốn. Tommy Ward vững vàng khẳng định anh không biết tí gì về vụ ấy. Thám tử Rusty Featherstone vẫn không chịu buông, và cuộc quần thảo kéo dài một mạch, không nghỉ giải lao, đến một giờ rưỡi. Mãi đến lúc này, thám tử Rusty Featherstone mới tháo các kẹp, rồi bỏ ra ngoài, để Tommy Ward ngồi lại trong phòng một mình. Anh thở phào nhẹ nhõm. Mà không chỉ nhẹ nhõm, anh thấy vô cùng sung sướng vì cuộc hỏi cung căng thẳng thần kinh đã kết thúc. Mà sao có cuộc thẩm vấn đánh vào cân não người ta đến thế. Người hỏi cứ cố tình ghép anh là kẻ có tội. Tommy Ward thầm nghĩ, mình chịu chấp nhận cuộc thử này và việc thử đã xong, có nghĩa họ sẽ phải loại mình ra ngoài vòng nghi ngờ.

Năm phút sau, thám tử Rusty Featherstone quay vào, chăm chú xem lại kết quả trên những tờ giấy máy ghi được. Anh ta hỏi Tommy Ward nghĩ gì về chuyện này. Tommy Ward đáp rằng anh biết anh sẽ vượt qua cuộc thử thách này một cách mỹ mãn vì sự thật là thế, và anh chỉ nói ra toàn sự thật. Sau đấy anh xin về để đi làm.

“Chưa xong đâu,” thám tử Rusty Featherstone nói, “Anh đã nói dối.”

Tommy Ward không tin, nhưng thám tử Rusty Featherstone bảo anh đã nói dối. Máy ghi rành rành ra đây. Và anh chính là thủ phạm đã bắt cóc cô Denice Haraway đêm hôm ấy. Viên thám tử hỏi Tommy có muốn khai gì thêm về vụ ấy không.

“Khai cái gì mới được chứ? Tôi đã nói hết cả rồi.”

Rusty Featherstone nói tiếp: “Máy đã chỉ ra rõ ràng là anh đã nói dối. Và sự thật là anh có dính vào vụ cô Denice Haraway mất tích,” thám tử Rusty Featherstone nhắc lại. “Tốt nhất là anh khai hết ra sự thật, khai thật chi tiết.” Viên thám tử còn nói: “Tôi là cảnh sát nhưng tính tôi hay thương người, nên rất muốn giúp anh. Còn nếu như anh cứ cố tình không nhận sự giúp đỡ của tôi thì sẽ có những sĩ quan cảnh sát khác, họ cứ đúng nguyên tắc họ làm, khi ấy sẽ không có một sự thông cảm hay giảm nhẹ nào đâu. Thôi, bây giờ thì anh kể sự thật đi. Kể từ đầu.”

Tommy Ward vẫn một mực: “Tôi biết gì đâu mà kể?” Anh bảo rằng anh không tin máy đã kết luận là anh nói dối. Vả lại khoa học đã xác nhận loại máy này chỉ có thể để tham khảo chứ không thể để dựa vào. Tommy Ward nói hết lời, nhưng thám tử Rusty Featherstone nhất định không tin, cứ một mực “Chính anh là thủ phạm. Tốt nhất là khai ra toàn bộ sự thật, như thế sẽ tốt cho anh hơn rất nhiều. Còn nếu anh cố tình không khai thật thì cơ quan pháp luật vẫn sẽ có đủ chứng cứ để buộc tội anh, bắt anh chịu hình phạt xứng đáng với tội ác của anh.”

Tommy Ward công nhận với viên thám tử là hôm nay anh có hồi hộp và do đấy máy đã phát hiện ra sự hồi hộp ấy. Nhưng anh hồi hộp không phải vì anh nói dối mà bởi vì cách đây hai tuần, anh cũng đã được thử như thế này với thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers. Chính từ sau cái lần ấy trí óc anh bị ám ảnh và anh không còn bình tĩnh được nữa. Thậm chí lần ấy, sau buổi thẩm vấn của hai thám tử kia, đêm về anh nằm ngủ và mơ thấy một giấc mộng quái đản.

Featherstone hỏi giấc mộng thể nào.

Tommy kể lại giấc mộng. Anh thấy mình ngồi trong một bữa tiệc nhỏ, rồi anh lại thấy mình ngồi trong một xe ô tô nhỏ cùng với hai người và một cô gái. Xe chạy bên cạnh một công trường khai thác dầu lửa ở ngoại vi thị trấn Ada, nơi anh đã sống thuở nhỏ. Thế rồi một nam giới trong xe cố ôm hôn cô gái, cô gái đẩy anh ta ra. Thấy vậy Tommy bèn bảo anh này là hãy để cô gái yên. Sau đấy anh bảo là anh muốn về nhà. Một trong hai người đàn ông đáp “Thì cậu đã đang ở nhà cậu đấy thôi.” Tommy nhìn ra cửa sổ xe thì thấy quả thật anh đang ở nhà. Đúng lúc anh sắp thức dậy thì anh thấy mình đứng trước một chậu nước, cố cọ cho sạch vết bẩn màu đen dây vào hai bàn tay. Tommy không nhận ra cô gái là ai và cũng không nhận ra hai người đàn ông kia là ai.

Thám tử Rusty Featherstone nói, giấc mộng ấy không có nghĩa gì hết.

Tommy Ward công nhận, “Hầu hết các giấc mộng đều vô nghĩa.”

Rusty Featherstone vẫn giữ thái độ bình thản và tiếp tục hối thúc Tommy Ward khai ra sự thật, kể chi tiết về vụ bắt cóc, nhất là nói cụ thể hiện nay cô gái Denice Haraway ấy còn sống hay đã chết và nếu chết thì xác nằm ở đâu. Cuối cùng y dọa nếu Tommy Ward không chịu khai hết thì sẽ phải làm việc với hai sĩ quan kia, mà hai sĩ quan ấy thì không có chút nhân nhượng nào hết. Rusty Featherstone còn nói hai sĩ quan kia hiện đang chờ Tommy trong phòng bên cạnh.

Tommy Ward hết sức hoang mang, bối rối. Khi thấy anh kiên quyết không chịu nhận có liên quan đến vụ án, thám tử Rusty Featherstone bèn dẫn anh sang gặp thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers. Hai người này tỏ ra giận dữ, đến mức như muốn đánh vào mặt anh. Rusty Featherstone cũng ngồi lại trong phòng, theo dõi.

Khi cửa vừa đóng, thanh tra Dennis Smith đã quát vào mặt Tommy Ward: “Anh với Karl Fontenot và Odell Titsworth bắt cóc cô gái ấy rồi đem ra chỗ công trường khai thác dầu, cưỡng hiếp, cuối cùng giết cô ấy. Đúng thế không?”

Tommy Ward đáp: “Không.”

Anh cố ghìm nỗi hoảng sợ, cố giữ cho mình bình tĩnh và tỉnh táo.

Thanh tra Dennis Smith gầm lên: “Khai thật ra, đồ khốn kiếp! Đồ dối trá! Anh tưởng chúng tôi không biết đấy hẳn? Chúng tôi biết rất rõ, chính anh và hai tên côn đồ kia đã giết cô Haraway.”

Tommy cố nghĩ xem Odell Titsworth là ai. Anh có nghe thấy cái tên này nhưng không biết mặt anh ta chứ chưa nói là quen. Hình như Odell Titsworth cũng sống ở thị trấn Ada. Tuy nhiên đầu óc Tommy Ward lúc này rối bời vì thái độ hung dữ của thanh tra Dennis Smith làm anh rối trí.

Viên thanh tra nhắc lại điều ông ta đã nói, về việc ba người bắt cóc cô Denice Haraway đem đi, cưỡng hiếp rồi giết cô. Tommy Ward vẫn cố giữ cho mình thật bình tĩnh. Anh trả lời: “Không. Tôi không làm việc ấy! Thậm chí tôi không biết Odell Titsworth là ai.”

“Nói dối! Anh quen hắn! Anh đừng hòng nói dối chúng tôi. Tốt nhất cho anh là anh đừng có nói dối.”

Việc Karl Fontenot dính líu đến vụ này, theo nhận định của thanh tra Dennis Smith, có thể có lý phần nào, bởi anh ta, Karl Fontenot, và Tommy Ward chơi với nhau đã nhiều năm. Nhưng Tommy Ward lại thấy điều phỏng đoán của thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers hết sức phi lý. Anh biết rõ con người Karl Fontenot và anh không tin Karl Fontenot có thể dính vào một vụ như thế.

Hai sĩ quan cảnh sát vẫn tiếp tục nạt nộ, đe dọa. Mỗi lúc họ lại quát tháo lớn hơn và giọng điệu cũng thô lỗ hơn, chen vào nhiều câu chửi thề và văng tục.

Lưng áo Tommy Ward đã ướt đẫm mồ hôi. Anh kiên trì khẳng định không biết gì, và không dính dáng gì đến vụ án. Anh phải huy động toàn bộ nghị lực để giữ cho mình khỏi rối trí. “Không. Tôi không làm việc ấy. Không, tôi không làm việc ấy.”

Cửa đã khóa. Trong phòng chỉ có Tommy Ward, thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers thẩm vấn. Còn sĩ quan cảnh sát Rusty Featherstone chỉ ngồi tham dự. Cuộc thẩm vấn, nói đúng hơn là cuộc ép cung xem chừng chưa thể kết thúc nhanh.

Sau ba tiếng đồng hồ bị Rusty Featherstone quần rồi một tiếng đồng hồ bị thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers tiếp tục nạt nộ, Tommy Ward chống đỡ đã kiệt sức. Anh rất cần được nghỉ một lát và hút một điếu thuốc. Và anh còn rất cần được nói chuyện với một người nào đấy, để chia sẻ đôi chút tâm trạng hoang mang của mình.

Tommy Ward hỏi: “Cho tôi nghỉ giải lao một chút, được không?”

“Sắp xong rồi. Vài phút nữa thôi.” Họ trả lời anh.

Tommy nhìn thấy máy quay video đặt trên chiếc bàn gần đấy không cắm phích điện, anh thầm nghĩ, đây có thể là cuộc thẩm vấn không chính thức.

Thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers vẫn lải nhải nhắc đi nhắc lại câu chuyện họ phỏng đoán nhưng họ tin là sự thật để ép Tommy Ward nhận tội. “Nhận đi. Anh không thể chối được nữa đâu. Chúng tôi đã có đủ bằng chứng. Anh chối cũng vô ích. Hãy khai thật và dẫn chúng tôi đến chỗ các anh giấu xác chết của cô Denice Haraway. Nếu anh biết điều và khai thật ra, chúng tôi sẽ dùng uy tín của chúng tôi để xin với tòa giảm nhẹ tội cho anh.”

Tommy vẫn kiên quyết: “Tôi không làm việc ấy.”

Đúng lúc ấy, Rusty Featherstone kể với hai sĩ quan cảnh sát kia rằng Tommy Ward có lần đã mơ thấy một giấc mộng.

Hai viên này bèn yêu cầu Tommy kể lại giấc mộng ấy.

Tommy nhắc lại nội dung giấc mộng và lại một lần nữa gặp phải thái độ không tin. Ba viên chức cảnh sát kia thống nhất nhận định rằng giấc mộng kia không có ý nghĩa gì hết. Nghe họ nói thế, Tommy tỏ ý tán thành, “Đúng thế. Hầu hết các mộng mị đều không có nghĩa gì hết.”

Nhưng giấc mộng của Tommy Ward lại cung cấp cho ba sĩ quan cảnh sát kia chất liệu để họ suy đoán thêm. Họ cho rằng hai người đàn ông trong xe kia chính là Odell Titsworth và Karl Fontenot.

“Hai người trên xe trong giấc mộng là Titsworth và Fontenot chứ gì? Đúng thế không nào?”

“Không, không phải,” Tommy đáp. “Hai người đàn ông trong xe ấy tôi không nhận ra là ai. Họ vô danh.”

“Láo toét! Còn cô gái kia chính là Denice Haraway chứ còn gì nữa?”

“Không,” Tommy đáp. “Cô gái ấy cũng vô danh, không rõ là ai.”

“Nói láo!”

Thế là lại trong một tiếng đồng hồ nữa, ba viên chức cảnh sát phát huy óc tưởng tượng, thêm thắt chi tiết cho giấc mộng gần với dự đoán của họ về vụ án mạng. Rồi họ đưa ra các chi tiết họ tưởng tượng thêm ấy vào để hỏi. Nhưng Tommy vẫn một mực nói trong giấc mộng kia không có những chi tiết ấy.

“Đấy chỉ là một giấc mộng.”

“Nói láo!” Ba sĩ quan cảnh sát vẫn một mực không tin.

***

Sau hai tiếng đồng hồ bị dồn ép liên tục, cuối cùng Tommy đã gục. Nguyên nhân là do nỗi sợ. Thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers quát tháo và lúc nào cũng chỉ chực như sắp đánh anh. Do đấy một phần nhưng còn một phần khác là do anh sợ sẽ bị hành hạ đến mức nào từ nay đến khi nhận cái chết. Thêm nữa Tommy Ward thấy mấy tên viên chức cảnh sát khốn kiếp và tàn bạo này chưa thể buông cho mình đi nếu chúng chưa được một chút thú nhận nào. Vả lại sau năm tiếng đồng hồ bị tra khảo trong căn phòng ngột ngạt này, Tommy Ward đã kiệt sức. Trí óc anh đâm mụ mẫm. Anh không còn nghĩ được gì nữa. Và nỗi sợ đã làm cả người anh tê liệt.

Thế là Tommy Ward đã phạm một sai lầm, sai lầm đưa anh vào phòng giam tử tù, và cuối cùng tước mất của anh quyền được sống ngoài vòng tự do.

Cái sai lầm tai hại ấy là ở chỗ, đến một lúc, bỗng nhiên trí óc mụ mẫm của anh mách bảo: cái này giống như một trò chơi mình đã từng chơi hồi nhỏ. Người đầu tiên đưa ra một sự kiện, sau đấy mỗi người thêm thắt một chi tiết vào cho câu chuyện ngày càng dài thêm và phong phú thêm. Một trò chơi lý thú Tommy Ward đã nhiều lần chơi với đám trẻ con hàng xóm. Thế là anh quyết định “chơi cái trò này luôn”. Rõ ràng mình không có tội, và Tommy Ward tin rằng cả Karl Fontenot lẫn Odell Titsworth cũng không có tội. Vậy thì thôi đành, mấy thằng cha cảnh sát độc ác này đã muốn gì, ta cho nó cái thứ nó muốn có. Mình, sẽ làm bộ như mình chấp nhận câu chuyện tưởng tượng của chúng. Rồi cuối cùng sự thật vẫn cứ bộc lộ kia mà. Có gì đáng ngại đâu? Chỉ cốt ngày mai, hoặc một ngày nào sắp đến, đám cảnh sát coi câu chuyện tưởng tượng này là có thật và thôi không hành hạ mình nữa. Chúng sẽ tóm Odell Titsworth và anh ấy sẽ cười vào mặt chúng.

Các người đã muốn chơi thì ta chơi. Rồi sự thật vẫn cứ là sự thật kia mà. Cuối cùng những cảnh sát đích thực vẫn phân biệt được đâu là thật, đâu là giả. Hẳn là phải có những cảnh sát đích thực chứ! Đời nào họ tin vào một câu chuyện bịa ra dựa trên giấc mộng, một câu chuyện dớ dẫn, râu ông nọ cắm cằm bà kia như thế này.

Thanh tra Dennis Smith dường như đoán được nỗi sợ của Tommy Ward. Ông ta hỏi: “Phải chăng người đầu tiên vào cửa hàng tùy chọn kia là Odell Titsworth?”

“Tất nhiên rồi,” Tommy đáp. Anh thầm tự nhắc lại, đây chỉ là giấc mộng thôi mà, chỉ là “trò chơi” thôi mà.

Mấy nhân viên cảnh sát mừng rỡ: nghĩa là “hắn ta” đã phải thú nhận. Ra bọn mình làm rất đúng, rất khôn ngoan, cuối cùng đã bẻ gẫy được sự chống cự của kẻ tội phạm.

“Lúc đầu các anh chỉ định vào ăn trộm thôi chứ gì?”

“Đúng thế”. Đây chỉ là giấc một thôi mà, muốn chơi thì ta chơi chứ sao, Tommy vẫn thầm nghĩ.

Thế là suốt buổi chiều hôm ấy, thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers thi nhau phát huy trí tưởng tượng, bịa thêm những chi tiết mỗi lúc một cụ thể và phong phú hơn. Còn Tommy thì phụ họa theo.

Bởi anh nghĩ. Đây chỉ là giấc mộng thôi mà. Và là một trò chơi.

***

Tuy đã thu được “lời thú nhận” nhưng cảnh sát vẫn thấy còn rất nhiều chỗ vô lý và những chỗ chưa rõ, cần phải đi tìm để có một sự thật đầy đủ và có sức thuyết phục.

Thám tử Mike Baskin vẫn phải trực ở phòng cảnh sát thị trấn Ada, và rất thèm được nằm ở trung tâm của sự việc tại Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma. Vào khoảng 3 giờ chiều, thám tử Gary Rogers gọi điện đến báo cho đồng nghiệp tin vui: Tommy Ward đã chịu khai. Hắn đã chịu ngồi lên xe để đến công trường khai thác dầu bỏ hoang ở ngoại vi thị trấn Ada, để tìm lại chỗ đã giấu xác chết của nạn nhân. Được đồng nghiệp báo tin ấy, thám tử Mike Baskin hết sức mừng rỡ, vậy là vụ án sắp được làm sáng tỏ hoàn toàn.

Thám tử Mike Baskin lập tức ra lấy xe, tiến hành những công việc cần thiết tiếp theo. Ông ta không tìm thấy gì và hiểu ra rằng cần có thêm nhiều người cùng tham gia việc tìm kiếm. Viên thám tử bèn quay lại phòng cảnh sát. Chuông điện thoại lại reo. Đấy là của thám tử Gary Rogers. Câu chuyện đã thay đổi. Tại đấy có một ngôi nhà cổ bị cháy, phía bên tay phải, nếu đi từ thị trấn ra. Cái xác nạn nhân nằm trong ngôi nhà cháy ấy.

Thám tử Mike Baskin lại đi, tìm thấy ngôi nhà, sục sạo bên trong, nhưng không thấy gì, bèn quay về phòng cảnh sát.

Cú điện thoại thứ ba của thám tử Gary Rogers. Câu chuyện lại thay đổi. Gần công trường khai thác dầu bỏ hoang và ngôi nhà cháy có một lô cốt bằng bê tông. Xác chết của nạn nhân được quăng vào trong ấy.

Thám tử Mike Baskin lại cùng một số nhân viên cảnh sát nữa lên xe phóng đến nơi này. Họ tìm mãi, cuối cùng thấy cái lô cốt bê tông, và bắt đầu đào bới để tìm cái xác. Nhưng chưa tìm được thì trời tối mất.

Vậy là họ chưa tìm thấy thứ họ cần tìm nhất: thi thể nạn nhân.

Cứ mỗi cú điện thoại của Mike Baskin từ thực địa gọi về, hai sĩ quan cảnh sát đồng nghiệp của y, Dennis Smith và Gary Rogers, lại điều chỉnh câu chuyện xoay quanh giấc mộng của Tommy Ward. Thời gian cứ trôi, nghi can có vẻ không biết mệt là gì. Cảnh sát vẫn cứ sục sạo, đào bới, thăm thú, lục lọi. Khi không thấy gì thì họ quát tháo, chửi thề, rồi đe nẹt: “Anh nói dối!”, Tommy Ward phải nghe những câu quát tháo, chửi bới ấy hàng ngàn lần rồi.

“Phúc cho anh đấy. May mà không có Mike Baskin ở đây. Anh ta mà có mặt ở đây thì cái đầu anh phọt óc ra rồi.”

Tommy Ward thầm nghĩ, cứ như thế này thì mình có nhận một viên đạn vào đầu, làm óc phọt ra cũng không đáng sợ, chỉ là chuyện bình thường.

Đến tối, khi mọi người hiểu ra rằng chưa thể tìm thấy xác của nạn nhân ngay ngày hôm ấy, thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers quyết định thu lại câu chuyện. Máy quay video vẫn còn ở đấy, chưa tắt, hai thám tử hối thúc Tommy kể lại câu chuyện từ đầu đến cuối. Từ lúc ba tên can phạm lái chiếc xe của Odell Titsworth đi loanh quanh, bàn kế hoạch ăn trộm, đến lúc thực hiện, sợ cô Denice Haraway nhận được mặt, chúng bèn túm luôn cô đưa lên xe đem đi. Ra đến bên ngoài thị trấn, chúng mới nảy ý nghĩ cưỡng hiếp cô rồi giết luôn phi tang. Địa điểm chúng giết và giấu xác cô gái vẫn còn rất mơ hồ, nhưng các thám tử tin chắc sẽ tìm ra được vì chỉ quanh quẩn gần công trường khai thác dầu bỏ hoang này thôi.

Lúc này đầu óc Tommy Ward đã mụ mị và anh chỉ trả lời bằng những tiếng ậm ừ. Anh kể lại câu chuyện nhưng cố làm rối các chi tiết, khiến thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers chốc chốc lại ngăn lại, yêu cầu anh cố nhớ lại cho chính xác hơn. Hoặc họ nhắc lại câu chuyện đã thống nhất với anh từ lúc trước và yêu cầu anh bám theo đúng như thế để tiếp tục kể. Cuối cùng, sau khi đã làm đi làm lại nhiều lần và câu chuyện xem chừng đã có vẻ lôgíc, tạm tin được, và khá cụ thể, họ bắt đầu bật máy quay video, cho máy chạy và ghi hình.

“Nào, bắt đầu đi,” họ bảo Tommy Ward. “Nhưng đừng có nhầm lẫn đấy. Bám thật sát câu chuyện vào.”

“Nhưng câu chuyện này đâu có thật? Chỉ là giấc mộng!” Tommy Ward nói.

“Anh cứ kể đi, theo như chúng ta đã thống nhất, còn là giấc mộng hay không không thành vấn đề.”

Và đúng thế, không có thứ gì trong giấc mộng là phi lý cả.

6 giờ 58 phút chiều, Tommy Ward nhìn thẳng vào máy ghi hình, bắt đầu xưng tên họ. Anh bị tra khảo suốt tám tiếng rưỡi đồng hồ, bây giờ cả thân xác lẫn tinh thần đều rã rời.

Anh hút một điếu thuốc lá, điếu đầu tiên trong buổi chiều hôm nay. Và anh nhấm nháp ly nước ngọt, người bên ngoài nhìn thấy cảnh tượng này hẳn cho rằng giữa anh và hai sĩ quan cảnh sát vừa diễn ra một cuộc trò chuyện đầy thân ái.

Tommy Ward bắt đầu kể câu chuyện của anh. Anh cùng Karl Fontenot và Odell Titsworth bắt cóc cô Denice Haraway tại cửa hàng tùy chọn, đưa lên xe, chở ra ngoại ô phía tây của thị trấn, hiếp cô rồi giết, ném xác cô vào một chỗ gần cái lô cốt bê tông ở khe núi Sandy Creek.

Tôi đã mơ thấy giấc mơ như thế, anh nói. Hoặc định nói. Hoặc nghĩ trong bụng như thế.

Nhiều lần Tommy Ward nhắc đến cái chữ “Titsdale”. Hai thám tử bèn ngăn lại và nhắc anh nói cho đứng tên người, phải là “Titsworth”. Tommy Ward chữa lại rồi kể tiếp. Trong khi kể anh thầm nghĩ, có thằng cha cảnh sát nào mù mới tin rằng câu chuyện này là chuyện có thật.

Ba mươi mốt phút sau, băng ghi hình quay hết. Tommy Ward bị còng tay, giải về thị trấn Ada và tống giam. Bạn anh, Mike Roberts không biết, vẫn cứ đợi anh trong bãi đỗ xe của trụ sở Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma. Mike Roberts đã chờ ở đây chín tiếng rưỡi đồng hồ rồi.

Sáng hôm sau, thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers triệu tập cuộc họp báo, tuyên bố họ đã thanh toán xong vụ án cô Denice Haraway. Tên Tommy Ward, hai mươi tư tuổi, trú tại thị trấn Ada đã thú nhận là thủ phạm vụ án cùng với hai đồng bọn. Hai tên này hiện cơ quan cảnh sát chưa sờ đến. Hai sĩ quan cảnh sát đề nghị các báo chưa đưa tin này mà đợi thêm hai ngày để cảnh sát thẩm vấn nốt hai nghi can kia. Các báo đồng ý, nhưng đài truyền hình thì không. Thế là tin tức lan truyền rất nhanh trong khắp các quận ở phía đông nam bang Oklahoma.

Vài giờ sau, Karl Fontenot bị bắt gần thị trấn Tulsa và giải về thị trấn Ada. Thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers, đang phấn khởi về thắng lợi trong việc hỏi cung Tommy Ward, hăng hái bắt tay ngay vào hỏi cung nghi can mới này. Tuy đã chuẩn bị sẵn máy ghi hình, nhưng họ chưa sử dụng đến nó.

Karl Fontenot là một thanh niên rất trẻ, năm nay mới hai mươi tuổi. Từ năm mười sáu tuổi cậu ta đã sống một mình. Cậu ta lớn lên ở thị trấn Ada, trong một gia đình nghèo túng. Cha cậu ta hồi còn sống, nghiện rượu nặng. Còn mẹ cậu ta bị chết trong một vụ tai nạn giao thông, chính mắt Karl Fontenot đã chứng kiến sự việc bi thảm ấy. Vì thế lớn lên cậu nhút nhát, có rất ít bạn, chuyên sống thui thủi một mình.

Karl Fontenot quả quyết là cậu vô tội và không biết gì về vụ cô Denice Haraway.

Nhưng cậu ta non nớt nên còn dễ bị “gục” hơn Tommy Ward nhiều. Chỉ trong chưa đến hai tiếng đồng hồ, thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers đã có bản thú tội của Karl Fontenot. Bản thú tội này giống bản của Tommy Ward đến mức khả nghi.

Nhưng ngay sau khi vào nhà giam, Karl Fontenot đã bác bỏ lời thú tội ấy. Cậu ta bảo, “Tôi chưa bao giờ bị giam cũng như chưa bao giờ bị cảnh sát hỏi cung, vu cho tôi tội giết một cô gái xinh đẹp, cho nên bây giờ thấy họ dọa sẽ kết tôi tội giết người và tôi sẽ phải nhận bản án tử hình cho nên tôi sợ và bịa ra lời khai trên chỉ cốt cảnh sát để tôi yên. Vậy mà sau khi tôi khai, họ lại bắt tôi phải ký nhận và vì hoảng sợ tôi đã ký, cũng vẫn nhằm mục đích để họ cho tôi yên.”

Cảnh sát trao “bản thú tội” ấy cho báo chí. Vậy là Tommy Ward và Karl Fontenot đã thú nhận đầy đủ. Bí mật của vụ Denice Haraway đã được phanh phui, ít ra thì cũng gần đầy đủ. Thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers chuyển sang bắt và hỏi cung tên tội phạm thứ ba Odell Titsworth, và thế là công việc sẽ hoàn tất. Đấy chỉ là chuyện ngày một ngày hai.

Vị trí ngôi nhà bị cháy đã được xác định và cảnh sát tìm thấy phần còn sót lại của thi thể nạn nhân: một mảnh xương, chắc chắn là xương hàm của cô gái. Tin tức này được đăng trên báo Tin tức buổi chiều của Ada.

***

Bất chấp được mớm cung, lời thú tội của Karl Fontenot rối lung tung, không có mạch lạc gì hết, chỗ này mâu thuẫn với chỗ kia, và thành một mớ lổn nhổn chẳng ăn nhập gì với nhau. So với nội dung “bản” của Tommy Ward thì “bản” của Karl Fontenot có rất nhiều chỗ khác. Trước hết hai bản trái ngược nhau về thứ tự ai hiếp cô gái trước, ai hiếp thứ hai và ai thứ ba. Rồi nạn nhân có bị đánh hay đâm dao cho bị thương trước khi bị hiếp hay không. Bản của Karl Fontenot còn đưa ra chuyện trong thời gian bị hiếp, có một lần cô Denice kia vùng dậy, chạy một quãng, sau mới bị bọn chúng đuổi theo túm lại được. Chi tiết này trong bản của Tommy Ward không có. Rồi đến chuyện chúng giết cô, mỗi bản miêu tả một cách khác. Cuối cùng là việc thủ tiêu cái xác.

Tommy Ward thì kể rằng ngay trong khi ngồi trên xe, cô đã bị chúng thay nhau hiếp, rồi bị đâm nhiều nhát đến chết và cuối cùng bị chúng ném xác ra ngoài, tình cờ lại đúng vào chỗ gần một lô cốt bê tông. Karl Fontenot lại kể khác: chúng đưa cái xác vào một ngôi nhà rồi tưới xăng lên và châm lửa đốt cả ngôi nhà...

Duy có một điều hai bản gần như thống nhất là nhận định về Odell Titsworth. Cả Tommy Ward lẫn Karl Fontenot đều nói, Odell Titsworth chính là kẻ chủ mưu, chính hắn lên kế hoạch và chỉ huy. Odell Titsworth đã chọn cửa hàng tùy chọn McAnally làm nơi chúng vào cướp, rồi chính hắn quyết định bắt cô Denice Haraway đi để phi tang. Lúc thay nhau hiếp, Odell Titsworth hiếp đầu tiên rồi quy định đứa nào hiếp thứ hai, đứa nào sau cùng. Chính hắn đâm dao vào cô gái rồi giết cô. Con dao cũng là của hắn.

Tuy công nhận có tham dự, nhưng cả Tommy Ward và Karl Fontenot đều đổ phần lớn tội lên đầu “tên” Odell Titsworth, hoặc có lúc bị gọi là Titsdale hoặc gì gì nữa.

***

Cuối buổi chiều Thứ sáu, 19 tháng Mười, cảnh sát bắt Odell Titsworth và thẩm vấn anh ta. Anh ta đã bốn lần bị tù về những tội vặt vãnh và rất coi thường cảnh sát. Đồng thời anh ta cũng có ít kinh nghiệm đối phó với những mưu mẹo và thủ đoạn của cảnh sát. Bị họ cưỡng bức, ép cung, Odell Titsworth không lùi một bước. Anh ta một mực nói không biết một tí gì về vụ cô Denice Haraway mất tích. Anh ta không công nhận một chi tiết nào trong “lời thú tội” của Tommy Ward cũng như của Karl Fontenot. Anh ta còn bảo anh ta chưa bao giờ gặp hai người ấy.

Cuộc thẩm vấn Odell Titsworth không được ghi hình. Anh ta bị tống giam. Sau này, anh ta nhớ lại và kể rằng ngày 26 tháng Tư, tức là trước khi xảy ra vụ cô Denice Haraway mất tích một hôm anh ta đã chống trả lại cảnh sát và bị họ đánh gẫy tay. Hai ngày sau khi cô Denice Haraway mất tích, anh ta đến nhà người yêu, cánh tay còn bị bó bột và tỏ ra vẫn rất đau.

Trong cả hai “bản thú tội”, Odell Titsworth được miêu tả là mặc áo phông, để lộ ra hai cánh tay đầy những vết xăm. Thật ra cánh tay trái của anh ta bị bó bột và anh ta chưa bao giờ đến cửa hàng tùy chọn McAnally. Khi thanh tra Dennis Smith tiến hành điều tra việc này, ông ta đã tìm đến tài liệu biên bản của bệnh viện và của cơ quan cảnh sát, xác nhận điều Odell Titsworth khai là đúng. Thanh tra Dennis Smith có hỏi bác sĩ, thì bác sĩ nói rằng chỗ gẫy xương nằm giữa khuỷu tay và vai, và rất đau. Như thế có nghĩa Odell Titsworth không thể tiến hành một vụ lớn như thế trong khi tay còn bó bột và vô cùng đau đớn. Nhất là vụ cô Denice mất tích xảy ra sau khi Odell Titsworth bị gẫy tay chỉ hai ngày. Điều ấy hoàn toàn vô lý.

Các bản “thú tội” lộ ra là không ăn nhập gì với nhau. Sau khi cảnh sát đào bới lớp đá dăm trong ngôi nhà bị cháy thì chủ nhân ngôi nhà xuất hiện, hỏi các ông làm gì đấy. Khi nghe cảnh sát nói để tìm thi thể một cô gái tên là Denice Haraway, rằng một trong những nghi can thú nhận rằng đã quăng cô gái vào nhà rồi đốt luôn cả ngôi nhà cùng xác của cô thì ông chủ ngôi nhà bật cười, bảo không thể có chuyện ấy. Ngôi nhà cháy là do chính tay ông đốt từ tháng Sáu năm 1983, tức là mười tháng trước khi cô Denice Haraway kia mất tích.

Bác sĩ pháp y đem mảnh xương hàm cảnh sát thu được “tại hiện trường vụ án” ra nghiên cứu, đã kết luận đấy không phải xương người. Điều này đã được đưa tin cho các báo.

Tuy nhiên báo chí không được thông báo về ngôi nhà bị cháy cũng như về cánh tay bị bó bột của Odell Titsworth, cũng như về chuyện, cả hai nghi can Tommy Ward lẫn Karl Fontenot đều bác bỏ lời “thú nhận” và nói họ đã bị cảnh sát mớm cung và ép cung.

Trong tù, Tommy Ward và Karl Fontenot đều một mực kêu là họ vô tội. Họ nói với bất cứ ai đến hỏi, là các bản “thú tội” ấy đều do bị cảnh sát ép mà phải “thú”. Gia đình Tommy Ward thu thập đủ tiền để thuê một luật sư giỏi, và Tommy Ward đã kể ông nghe chi tiết về những thủ đoạn thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers áp dụng trong thời gian thẩm vấn. Lời “thú tội” kia chỉ là câu chuyện kể về một giấc mộng, được thêm thắt cho ly kỳ và chi tiết. “Đấy chỉ là một giấc mộng!” Tommy Ward nhắc đi nhắc lại như thế hàng ngàn lần.

Còn Karl Fontenot thì không có gia đình hỗ trợ.

Cuộc điều tra về thi thể của cô Denice Haraway được đẩy rất nhanh. Điều rất nhiều người muốn hỏi là “Nếu như hai tên hung thủ đã thú nhận, sao cảnh sát vẫn còn phải vất vả đi tìm nơi thi thể ấy bị chôn?”

***

Điều căn dặn thứ năm của Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ là phải thận trọng đối với sự tự ý buộc tội. Vì cách dễ nhất để giải quyết một vụ trọng án là moi được lời thú tội, cho nên có cả một cuốn dày và phong phú quy định cảnh sát phải xử sự thế nào trong khi thẩm vấn. Hầu hết những quy định này được ấn định từ trước năm 1984.

Một trăm năm trước, trong văn bản Hopt v. Utab, tòa án Tối cao Hoa Kỳ quy định rằng một bản thú tội không thể được thu thập bằng cách đánh vào hy vọng hoặc nỗi sợ của nghi can, vì làm như thế tức là tước đi của người ấy sự tự do ý chí hoặc khả năng tự kiểm soát. Mà đó là hai yếu tố giúp tạo nên một lời tuyên bố theo ý bản thân.

Năm 1897, trong văn bản Bram v. United States, có nói rằng một lời phát ngôn phải được tự do và có ý chí, không thể được lập ra bằng cách đe dọa, dùng bạo lực hoặc dụ dỗ, hứa hẹn, dù chỉ rất nhỏ. Một lời thú nhận thu được từ một bị can trong lúc người ấy bị đe dọa không thể được coi là có giá trị.

Năm 1960, trong văn bản Blackburn v. Alabama, tòa án Tối cao Hoa Kỳ tuyên bố “sự cưỡng bức có thể trên thân xác hoặc trên tâm lý”. Trong khi xét một bản thú nhận xem có do bị cảnh sát cưỡng bức hay không, nhất thiết phải dựa trên những điều như sau:

1) Độ dài thời gian của cuộc thẩm vấn.

2) Sự kéo dài ấy phải xét về mặt thực chất.

3) Xem cuộc thẩm vấn diễn ra ban ngày hay ban đêm, cần chú ý đặc biệt đến hoàn cảnh ban đêm.

4) Và hoàn cảnh hoặc bối cảnh cuộc thẩm vấn về mặt trí tuệ, tâm lývv...

Giống như mọi chàng trai trẻ khác ở thị trấn Ada, Ron cũng sưu tầm hàng ngàn tấm ảnh, các tờ rơi, quảng cáo có hình các cầu thủ bóng chầy nổi tiếng và các tên tuổi khác trong làng bóng chầy như Mickey Mantle, Whitey Ford, Yogi Berra, Roger
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.