Khi nghe thấy tin em mình bị bắt và kết án giết người, hai chị Annette và Renee hết sức kinh hoàng. Kể từ ngày em các chị, Ron Williamson, mãn hạn tù tháng Mười năm ngoái, hai chị vô cùng lo lắng thấy sức khỏe tâm thần của Ron xuống rất nhanh, và sức khỏe thân thể cũng xuống theo, nhưng cả hai đều không hề nghĩ đến chuyện em trai có thể bị nghi là phạm tội giết người!
Quả thật là trong mấy năm qua dư luận có nói đến khả năng Ron Williamson là thủ phạm vụ cưỡng hiếp man rợ và giết hại tàn bạo cô Debbie Carter, nhưng hai chị Annette và Renee nghĩ rằng thời gian trôi qua đã lâu, không thấy ai nhắc đến chuyện ấy nữa, có nghĩa Ron đã được người ta để yên. Hai chị đinh ninh rằng cảnh sát đã khóa sổ vụ án ấy rồi và bây giờ đang bận vào những vụ án khác, những nghi can khác.
Hai năm trước đây, khi mẹ họ, bà Juanita qua đời, trước khi mất, bà cũng đinh ninh rằng đã gặp và đưa ra các chứng cứ cho thanh tra Dennis Smith, chứng minh hôm ấy con bà ở nhà suốt đêm và không thể có liên quan gì đến cái chết của cô Debbie Carter, và viên thám tử kia đã công nhận.
Cả hai chị của Ron Williamson đều sống hiền lành, chăm sóc gia đình, khi thuận lợi có thể làm việc kiếm thêm tiền, trả đầy đủ các hóa đơn và cố dành dụm để riêng ra nếu khi nào có thể. Họ không có đủ tiền thuê luật sư bào chữa cho em trai. Chị Annette có nói chuyện với luật sư David Morris, nhưng ông không chính thức nhận bảo vệ trước tòa cho Ron. Luật sư John Tanner thì đang sống ở tận thị trấn Tulsa, vừa xa mà nếu mời sẽ vô cùng tốn kém, hai chị không đủ khả năng.
Tuy hai chị Annette và Renee thấy Ron đã mấy lần phải ra tòa, thậm chí ngồi tù, nhưng cả hai vẫn chưa sẵn sàng đón nhận sự việc là bỗng nhiên em các chị bị bắt và khép vào tội giết người. Bạn bè thì quay lưng. Những con mắt nhìn lén và những lời bàn tán xuất hiện ngày càng nhiều. Một người quen bảo chị Annette: “Trong chuyện này chị không có lỗi gì hết. Em chị làm những gì làm sao chị can ngăn được?”
“Em trai tôi không có tội,” chị đáp lại người quen kia như vậy. Cả hai người, Annette và Renee nhắc đi nhắc lại hàng trăm lần, nhưng hầu như không ai muốn nghe các chị. Hãy quên các bằng chứng là vô tội đi. Cảnh sát đã bắt tức là đúng. Họ phải điều tra chán ra ấy chứ. Không thể bảo Ron không có tội được.
Con trai chị Annette tên là Michael, mười lăm tuổi, đang học năm thứ hai trường trung học. Cháu rất đau khổ khi nghe thấy ở lớp bạn bè bàn tán về việc đã tìm ra thủ phạm vụ án mạng xảy ra cách đây mấy năm. Vì cháu lấy họ của cha nên bè bạn không biết cháu là cháu của tên sát nhân Ron Williamson. Khi bàn đến hai tên thủ phạm, Ron Williamson và Dennis Fritz, các học sinh hết sức căm phẫn. Nghe con đi học về kể lại, hôm sau chị Annette đến trường, giải thích cho các học sinh hiểu là cảnh sát đã bắt sai. Từ đấy hiện tượng bàn tán về hai tội phạm mới giảm. Nhưng chỉ là ở trường trung học.
Hai vợ chồng chị Renee sống ở thị trấn Chickasha, cách thị trấn Ada gần chín mươi dặm nên đỡ bị quấy rối hơn. Còn Annette sống ở ngay thị trấn Ada thì rất khổ tâm. Chị rất muốn bỏ đi sống nơi khác, nhưng không được vì còn phải ở lại chăm sóc em trong tù.
Chủ nhật ngày 10 tháng Năm, báo Tin tức buổi chiều ở Ada dành cả một trang nhất đăng tin vụ bắt bớ, kèm theo một bức ảnh của nạn nhân, cô Debbie Carter. Các tin tức đăng trên tờ báo, hầu hết do ủy viên công tố Bill Peterson cung cấp. Ông ta khẳng định nhà chức trách đã khai quật thi thể nạn nhân để so sánh dấu vân lòng bàn tay của nạn nhân với dấu vân lòng bàn tay cảnh sát thu được tại hiện trường ngay sau khi xảy ra vụ án. Kết quả là dấu vân lòng bàn tay trước kia vẫn tưởng của một kẻ “vô danh” nào thì nay đã rõ ràng là của nạn nhân, cô Debbie Carter. Như thế có nghĩa không có kẻ nào khác dính vào vụ này mà cảnh sát chưa biết. Peterson nói: “Cuộc điều tra được đẩy mạnh sáu tháng nay, bây giờ đã đến hồi kết thúc. Chúng tôi đã biết phải tiến hành theo hướng nào rồi.”
Công chúng đặc biệt chú ý đến tin về việc cơ quan FBI có tham gia cuộc điều tra này. Hai năm trước đây, cảnh sát thị trấn Ada có xin cơ quan FBI hỗ trợ. Các sĩ quan do FBI cử đến có nghiên cứu các bằng chứng và cung cấp những nhận xét về đặc điểm tâm lý của hung thủ. Tuy nhiên bây giờ, khi nói đến vụ án, ủy viên công tố Bill Peterson không nhắc gì và cũng không kể gì cho nhà báo nghe những nhận định và góp ý của các sĩ quan FBI.
Hôm sau, báo Tin tức buổi chiều ở Ada lại dành thêm một trang nhất nữa để nói về vụ án. Lần này có thêm hai tấm ảnh của hai hung thủ Ron Williamson và Dennis Fritz. Hai tấm ảnh được chụp theo cách nhằm gây ác cảm tối đa đối với hai “hung thủ”. Ron Williamson và Dennis Fritz trong ảnh trông thô lỗ, tàn bạo và xấu xa hết mức.
Bài báo nhắc lại nhiều chi tiết đã đăng trên báo hôm qua, nhưng lần này nói rõ, hai tên hung thủ bị khép vào hai tội ác đều loại một: cưỡng hiếp có dụng cụ và giết người tàn bạo. Có điều lạ là các quan chức không hề nhắc đến các “hung thủ” đã nói thế nào trước những lời buộc tội họ.
Các phóng viên của báo Tin tức buổi chiều ở Ada đã quen với cách làm việc của cơ quan pháp luật ở đây là dựa trên những “giấc mộng”, cho nên họ cho rằng chỉ cần buộc tội một người thông qua việc xem xét giấc mộng của người ấy. Và yếu tố giấc mộng đâm thành bằng chứng chính yếu trong mỗi vụ án.
Tuy lần này cơ quan công tố tránh không viện ra giấc mộng thứ nhất của Ron Williamson, nhưng họ lại đưa ra những chi tiết bổ sung cho cụ thể hơn, thí dụ “cả tóc và lông lấy trên đầu và tại bộ phận sinh dục của cô Debbie Carter đều có lẫn những mảnh rất nhỏ tóc và lông của hai nghi can Ron Williamson và Dennis Fritz.”
Người ta còn kê ra các vi phạm luật pháp của hai người ấy trước đây. Ron Williamson vi phạm tất cả mười lăm lần, hầu hết là lái xe trong lúc say rượu. Dennis Fritz cũng hai lần phạm tội này.
Một lần nữa ủy viên công tố Bill Peterson nói rõ thêm về kết quả việc khai quật tử thi cô Debbie Carter, là đã loại trừ được khả năng có một người “hiện chưa biết” hay còn gọi là “vô danh” liên quan đến vụ án này. Ông ta còn cho biết, việc nghi hai người vừa bị bắt là đã từ hơn một năm nay rồi.
Bài báo kết luận: “Nạn nhân, cô Debbie Carter chết là do bị ngạt. Để hiếp, hai tên hung thủ đã nhét chiếc khăn ăn vào miệng cô, ấn sâu vào tận họng để cô không kêu lên được.”
***
Cũng vào hôm Thứ hai ấy, Ron Williamson bị giải từ nhà tù sang tòa án, cách nhau một bãi cỏ, khoảng năm chục bước chân. Đây là lần đầu tiên anh xuất hiện trước chánh án John David Miller, vị thẩm phán chịu trách nhiệm tiến hành những điều tra ban đầu. Ron nói anh không có luật sư bào chữa và ít có khả năng thuê được một luật sư. Sau đấy anh lại được giải về nhà tù.
Vài tiếng đồng hồ sau, một tù nhân tên là Mickey Wayne Harrell nghe thấy Ron khóc và rên rỉ: “Tha lỗi cho tôi, Debbie.” Điều này lập tức được báo cáo với nhân viên trông coi nhà tù. Rồi Ron lại còn nhờ anh ta - Harrell, xăm lên cánh tay cho anh mấy chữ: “Ron yêu Debbie”.
Mỗi lần có một vụ án mới, các tù nhân lại bàn tán sôi nổi. Nhất đây lại là một vụ án lớn, có cưỡng hiếp, có giết người. Đồng thời cũng bắt đầu diễn ra một hiện tượng là tù nhân thi nhau dò la xem các tù nhân mới vào có gì lạ để báo cáo lên chỉ huy nhà tù nhằm lập công. Tình trạng này diễn ra hiếm hoi ở những nơi khác nhưng lại rất phổ biến ở nhà tù thị trấn Ada, vì cơ quan công tố và cảnh sát ở đây gần như khuyến khích các tù nhân làm việc xấu xa ấy. Khốn nỗi, hầu hết các kết quả “dò la ấy” đều là do họ bịa ra để tâng công, bởi nếu lập được nhiều công trạng kiểu như vậy, tòa án sẽ giảm án cho họ và họ chóng được ra tù hơn. Chính vì nguyên nhân ấy mà có lời báo cáo chỉ huy nhà tù của tù nhân Harrell. Thật ra lời báo cáo của y không có bằng chứng nào hết và sau này, chính Ron Williamson cũng bác bỏ, khẳng định là anh không hề nói như thế.
***
Hai ngày sau, Ron Williamson lại được giải sang tòa án để giải quyết quyền có người đại diện pháp lý tại tòa. Anh xuất hiện trước chánh án Miller và kết quả không suôn sẻ. Do lâu nay không uống thuốc nên tính tình Ron trở nên hung hãn. Vừa vào đến nơi, anh đã hét lên: “Tôi không giết cô ấy! Tôi ngán cái trò dớ dẩn này đến tận cổ rồi. Tôi rất thương gia đình, nhưng...”
Chánh án Miller cố ngăn Ron lại, nhưng không được. Anh vẫn tiếp tục hét, nhắc đi nhắc lại mấy câu ấy: “Tôi không giết ai! Tôi ngán cái trò dớ dẩn này đến tận cổ rồi. Hôm xảy ra vụ án, mẹ tôi còn sống và mẹ tôi biết rõ đêm hôm ấy tôi ở đâu và làm những gì”.
Chánh án Miller cố giải thích cho Ron hiểu rằng hôm nay chưa phải để bị cáo thanh minh, nhưng Ron không chịu, cứ la hét: “Tôi yêu cầu hủy cái vụ xét xử này đi. Thật là một trò lố bịch”.
Chánh án hỏi Ron, xem anh có hiểu người ta xét xử anh về tội gì không, thì Ron đáp: “Tôi vô tội. Chưa bao giờ tôi đi hoặc làm gì, ăn hoặc uống, trò chuyện với cô ấy. Cũng chưa bao giờ cùng ngồi một xe với cô ấy”.
Vì bị cáo được quyền ghi âm lời khai của mình, Ron tiếp tục gào lên: “Tôi đã ngồi tù ba lần rồi và cả ba lần tôi đều nói rõ, là tôi không dính dáng gì đến vụ án mạng ấy”.
Khi họ tên Dennis Fritz được nói đến trong bản cáo trạng, Ron đã ngăn lại: “Dennis không dính dáng gì đến chuyện này. Tôi có biết anh ta. Dennis không đến câu lạc bộ Coachlight bao giờ”.
Cuối cùng chánh án phải ghi vào biên bản rằng bị cáo khai là vô tội.
Ron bị giải đi, vừa đi anh vừa chửi thề một cách cay đắng. Chị Annette nhìn theo em, thổn thức.
Ngày nào chị cũng đến nhà tù, có hôm hai lần nếu nhân viên nhà tù cho vào. Chị quen gần hết các nhân viên và họ cũng đều biết Ron Williamson. Vì vậy đôi khi họ cũng dễ dàng đôi chút và cho chị vào.
Do không được dùng thuốc, tâm thần Ron xáo động ghê gớm. Hơi một chút là nổi cáu. Đúng ra anh cần được điều trị. Anh luôn trong tâm trạng uất ức là bị tù oan, là anh không làm gì nên tội mà bị người ta cố tình ghép cho anh một tội tầy đình như thế này. Đồng thời, do trí óc hỗn loạn, lại có lúc anh buồn rũ rượi, cảm thấy nhục nhã là mình đã phạm một tội nặng là giết người. Trong bốn năm rưỡi qua, đầu óc mụ mị, Ron luôn sống trong tâm trạng hồ nghi, không biết có phải mình đã giết người hay không?
Cái ý nghĩ hồ nghi ấy khiến anh vô cùng đau đớn. Thị trấn Ada là quê hương anh. Những người dân ở đây là hàng xóm láng giềng, là những người ít nhiều quen biết của anh. Nếu anh quả là kẻ đã phạm tội giết người thì họ sẽ nhìn anh ra sao? Họ sẽ khinh bỉ anh biết chừng nào. Những người đã từng cùng đi lễ nhà thờ với anh, cùng nghe giảng Kinh Thánh với anh. Nhưng rồi Ron lại nghĩ, không, mình không phải kẻ giết người. Mình vô tội, mà đấy mới là sự thật. Nỗi đau đớn kia được thay bằng một nỗi căm giận, uất ức bị kết tội oan.
Trong tâm trạng phân đôi như vậy, nay bị cảnh sát bắt giam, rồi báo đăng ảnh anh lên trang đầu để bôi xấu anh, tâm trạng Ron hoang mang cực độ.
Rồi anh lại nghĩ, đã bao giờ mình gặp cái cô Debbie ấy chưa nhỉ? Mọi thứ rối tung lên trong cái đầu bệnh hoạn của Ron Williamson.
***
Trong khi Dennis Fritz ngồi trong nhà tù ở thành phố Kansas City, chờ bị dẫn độ về thị trấn Ada, anh vẫn vô cùng ngạc nhiên trước sự vô lý của việc bắt bớ này. Bảo anh đã giết người ư? Đã bao năm nay phải sống thêm một chặng đường nữa với người vợ đã một lần li dị, Dennis cảm thấy mình đã như một nạn nhân rồi.
Giết người ư? Dennis Fritz chưa bao giờ làm đau một người nào. Vóc nhỏ, gầy, anh rất sợ đánh nhau và không dám gây chuyện với ai bao giờ. Tất nhiên anh có hay đến các quán hàng và cũng từng la cà ở những chỗ vô đạo đức, nhưng bao giờ anh cũng kiếm cách lủi ngay trước khi có chuyện đụng độ xảy ra. Ron Williamson thì lại khác. Ron đã va chạm với ai thì anh ta không chịu thua bao giờ. Hiện nay anh, Dennis Fritz, bị nghi oan chỉ vì anh là bạn của Ron Williamson.
Dennis Fritz bèn viết một bức thư dài gửi báo Tin tức buổi chiều ở Ada giải thích tại sao anh phản đối việc dẫn độ. Anh nói rằng anh rất không muốn chạm trán với thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers vì anh không làm cái việc mà người ta cố tình đổ cho anh. Dennis không giết ai cả. Anh đang tìm một luật sư để bào chữa cho mình. Những người trong gia đình anh đang thu góp tiền để làm việc ấy.
Dennis Fritz kể anh đã tích cực và tự nguyện cộng tác với cảnh sát trong việc điều tra vụ án như thế nào. Anh đã nộp dấu vân tay, các mẫu máu, mẫu chữ viết, mẫu lông tóc... không thứ gì cảnh sát yêu cầu mà anh không làm. Rồi anh lại chịu hai lần thẩm vấn có máy phát hiện nói dối. Và Dennis Fritz khẳng định đây là chuyện nhầm lẫn, là cảnh sát bắt không đúng người.
Về cách thức điều tra, Dennis Fritz nhận xét: “Trong suốt ba năm rưỡi, họ thừa đủ thời gian để kiểm tra các mẫu chữ viết, mẫu vân tay... và không mẫu nào trùng khớp với các mẫu thu thập được tại hiện trường vụ án. Chứ nếu có sự trùng khớp thì hẳn là họ đã bắt giam tôi lâu rồi. Nhưng theo bài đăng trên báo Tin tức buổi chiều ở Ada các ông, thì cách đây sáu tháng cảnh sát đã tìm ra manh mối và chỉ còn tính cách thức tiến hành. Tôi không phải thằng ngu để có thể tin rằng cơ quan điều tra phải mất ba năm rưỡi mà vẫn chưa tìm ra các mẫu tôi nộp trùng khớp với cái gì”.
Dennis Fritz, từng là giáo viên dạy môn khoa học, đã nghiên cứu các mẫu dấu vân tay, mẫu lông tóc... và rất hiểu cách thức cũng như lộ trình tiến hành việc so sánh. Anh viết: “Làm sao có thể kết tội tôi chỉ căn cứ vào mẫu lông tóc chẳng hạn? Bởi mẫu lông tóc chỉ nói lên thuộc chủng tộc nào chứ không thể khẳng định người ấy là ai. Bất cứ nhà nghiên cứu nào cũng biết rằng số người lông tóc có độ cứng giống nhau không dưới nửa triệu người. Như vậy làm sao có thể căn cứ vào độ cứng của lông tóc mà khẳng định tóc của người này chính là tóc của một người mà ta đã biết?”
Bức thư kết luận: “Tôi khẳng định và sẽ mãi mãi khẳng định tôi vô tội. Tôi không liên quan gì đến vụ án cô Debbie Carter. Thậm chí tôi chưa biết mặt và cũng chưa gặp cô ấy bao giờ. Xin hỏi, tôi là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng cho thấy tôi có tội, hay tôi là có tội cho đến khi có đủ bằng chứng là tôi vô tội?”
***
Tóa án quận Pontotoc không có luật sư bào chữa riêng. Mỗi bị cáo phải tự tìm lấy và thuê luật sư bào chữa cho mình. Trường hợp bị cáo không thuê được ai thì tòa sẽ chỉ định một người làm công việc bào chữa ấy.
Vì những người giàu thường chỉ mắc những vi phạm vụn vặt, nên hầu hết tội nặng đều rơi vào người nghèo. Trộm cắp, ma túy, gây gổ đánh nhau thường là tội của người nghèo. Và vì đại đa số bị cáo đều phạm tội thật cho nên luật sư bào chữa cho họ chỉ làm công việc giúp họ viết đơn từ và bào chữa đôi chút, sau đấy chỉ nhận một khoản thù lao nhỏ.
Chính vì lẽ ấy mà các luật sư rất ngại khi phải nhận bào chữa cho một vụ án. Bên cạnh đó, hệ thống tư pháp lại rất nghèo nàn. Các thẩm phán rất ít hiểu biết về kinh nghiệm xét xử. Cơ quan tư pháp lại không có tiền để chi vào những việc đi tìm chứng cứ và cho các nhân chứng.
Các vụ trọng án tại một thị trấn nhỏ được xét xử rất chậm. Nguyên nhân có nhiều nhưng một là do trước dư luận, một luật sư bào chữa cho một bị cáo trong một vụ trọng án rất dễ bị mọi người nhìn bằng con mắt khinh bỉ. Số thời gian được sử dụng để bào chữa cũng rất hạn chế. Mọi thứ người ta quen làm qua quít. Tiền thù lao lại quá ít so với công sức bỏ ra. Và yêu cầu phúc thẩm thường bị trì hoãn đến vô tận.
Điều đáng sợ nhất là không ai muốn đứng ra bào chữa cho bị cáo. Thường chủ tịch hội đồng xét xử đành phải tự phân người. Hầu hết các phòng xét xử đều đông đúc các luật sư đến dự phiên tòa, nhưng các phòng xét xử ấy lại vắng tanh khi bị cáo một vụ trọng án là một người nghèo. Khi ấy các luật sư vội vã bỏ chạy về văn phòng của mình, khóa trái cửa lại và rút phích điện thoại ra khỏi ổ.
Có lẽ nhân vật đặc sắc và luôn có mặt nhất trong các phiên tòa ở thị trấn Ada là Barney Ward, một luật gia mù nhưng rất thông thạo về mọi diễn biến tại tòa. Ông bị mù từ nhỏ, lúc còn đi học, do một tai nạn trong lúc thực hiện một thí nghiệm hóa học. Ông đã cố gắng rất nhiều và cuối cùng vẫn tốt nghiệp được bậc trung học. Sau đấy Barney Ward xin vào học trường Đại học Trung Đông đóng tại thị trấn Ada, và mẹ ông phải đọc sách hộ con. Sau khi tốt nghiệp đại học, Barney Ward ra thành phố Norman theo học khoa Luật tại trường Đại học bang Oklahoma, và cũng vẫn được mẹ giúp đỡ. Tốt nghiệp khoa Luật, trúng tuyển vào ngạch luật sư, ông quay về thị trấn Ada, nhận làm chân trưởng tư pháp quận. Trong rất nhiều năm ông đảm nhiệm chức trách Chưởng lý của quận. Giữa thập niên 1950, Barney Ward mở một văn phòng luật sư, chuyên nhận đại diện và bào chữa trong các vụ án hình sự. Chẳng bao lâu ông nổi tiếng là một luật sư bào chữa giỏi, vốn thính tai, ông ngửi ngay thấy những chỗ yếu trong cáo trạng và khai thác chỗ yếu ấy để lật lại vụ án. Ông là một tay rất quyết liệt trong các kiểm tra chéo đồng thời cũng rất thích khai thác những chi tiết trong các sự việc.
Người ta đồn trong một cuộc đụng độ, Barney Ward đã chơi một vố rất đau cho một đồng nghiệp. Theo lời kể lại thì ông ta và luật sư David Morris cùng tham dự trong một phiên tòa và tranh tụng xoay quanh một chứng cứ. Cuộc tranh cãi căng thẳng, cả hai bên đều rất mệt. Đột nhiên luật sư David Morris nói một câu hớ: “Thưa Ngài Chủ tọa, Ngài thấy đấy, ngay đến một người đui cũng nhìn thấy rõ điều ấy”. Barney Ward liền ném một vật về phía đồng nghiệp, may không trúng. Trật tự được lập lại ngay. Luật sư David Morris xin lỗi, nhưng từ đấy giữ một khoảng cách đối với Barney Ward.
Mọi người đều biết Barney Ward, và ai đến dự các phiên toà thì thấy ông luôn có mặt cùng với cô trợ lý của ông, cô Linda, đọc giúp ông các tài liệu văn bản và ghi ra giấy những điều ông yêu cầu. Thỉnh thoảng ông dùng chó dẫn đường, nhưng ông thích sử dụng một cô gái hơn. Ông ta thân thiện với mọi người và nhớ giọng nói của từng người. Đoàn luật sư bầu ông làm chủ tịch. Ông được nhiều người mến và họ mời ông gia nhập câu lạc bộ chơi bài poker.
Hàng năm, các luật sư đồng nghiệp mời Barney Ward tham dự một trại hươu, tại đây mọi người nghỉ ngơi, vui chơi, tha hồ nói năng thoải mái và nếu thích thì tổ chức một cuộc săn bắn hươu nai. Mơ ước của Barney Ward là bắn được một con hươu. Bạn bè ông phát hiện ra một con hươu bèn bố trí dẫn ông đến đúng vị trí cần thiết, đưa ông khẩu súng săn rồi giúp ông quay nòng theo đúng hướng cần thiết, và nói khẽ, “Bắn!” Barney Ward bóp cò. Và mặc dù ông bắn trượt, bạn bè ông vẫn bảo suýt nữa thì trúng. Ông luật sư rất lấy làm thích thú và kể lại rất nhiều lần cái vụ ông “suýt” bắn trúng một con hươu ấy.
Giống như những người nghiện rượu nặng, cuối cùng luật sư Barney Ward cũng đành phải cai. Vào thời gian ông dùng chó dẫn đường, chó đã quá quen với quãng đường đến quán rượu, bây giờ ông đã cai rượu mà chó vẫn không chịu thay đổi, ông đành thôi, không dùng nó nữa. Tuy nhiên, về sau thỉnh thoảng ông vẫn phải đến quán rượu ấy, bởi người ta bảo nếu ông không đến nữa, quán sẽ phải đóng cửa.
Luật sư Barney Ward thích kiếm tiền và thường thô lỗ với những khách không có khả năng tài chính để trả tiền cho ông. Châm ngôn của Barney Ward là: “Khi chưa được chứng minh thì chưa thể vô tội.” Tuy nhiên vào giữa thập niên 1980, ông đã phải điều chỉnh châm ngôn của mình. Người ta biết thỉnh thoảng ông bỏ sót mất một tình huống nào đó trong phiên tòa, chỉ vì ông trót ngủ quên. Ông thường đeo cặp kính râm rất dày và to, che gần hết khuôn mặt, khiến các thành viên hội đồng xét xử và ủy viên công tố không biết lúc nào luật sư Barney Ward thức lúc nào ông ta ngủ. Lần ấy các đối thủ của ông đã dùng một cách để đánh bại ông. Đấy là họ kéo dài phiên xét xử hoặc cuộc tranh tụng đến quá bữa ăn trưa. Thế là Barney Ward buồn ngủ quá, thiếp đi. Các luật gia có câu, nếu kéo dài phiên tòa đến quá ba giờ chiều thì xác suất đánh bại Barney Ward tăng lên gấp bội.
Hai năm trước đây, gia đình Tommy Ward có đến gặp luật sư Barney Ward, không phải vì họ hàng quen biết, mà để nhờ ông đại diện, bào chữa cho con em họ. Barney Ward tin rằng Tommy Ward và Karl Fontenot vô tội, nhưng xưa nay ông vẫn chủ trương không nhận cãi cho những vụ trọng án. Nguyên số giấy tờ phải nghiên cứu đã vô vàn, mà công việc giấy tờ đâu phải thế mạnh của Barney Ward.
Bây giờ họ lại tìm đến ông, van nài ông giúp. Chánh án John David Miller thì đề nghị Barney Ward đại diện quyền lợi cho Ron Williamson. Barney Ward là luật sư bào chữa giàu kinh nghiệm nhất cả quận cho nên người ta rất cần đến kinh nghiệm ấy của ông. Sau khi ngập ngừng một lúc, ông nhận lời. Là một luật gia chuyên nghiệp và thuần túy, ông rất am hiểu Hiến pháp, cả phần nghĩa đen lẫn phần nghĩa bóng, và ông tin rằng bất cứ bị cáo nào, dù nổi tiếng hay không, đều có quyền được che chở, được bào chữa trước tòa.
Ngày 1 tháng Sáu năm 1987, luật sư Barney Ward được tòa chỉ định đại diện cho quyền lợi của Ron Williamson, bị cáo buộc phạm tội giết người. Đây là lần đầu tiên luật sư Barney Ward nhận bào chữa cho một vụ án lớn như thế này. Hai bà chị của bị cáo là Annette và Renee rất mừng. Hai người đã biết tiếng ông Barney Ward là luật sư bào chữa giỏi nhất thị trấn.
Luật sư và thân chủ mở đầu đã gặp gay go. Ron đã ngán nhà tù đến tận cổ và nhà tù cũng ngán anh đến tận viên gạch cuối cùng. Cuộc trao đổi được tiến hành trong một phòng khách chật chội, gần cửa chính, Luật sư Barney Ward cho rằng địa điểm này quá ấm cúng so với một thân chủ không theo lệ thường của ông ta. Ông ta gọi điện đi một chỗ khác rồi chuẩn bị một cuộc kiểm tra tình trạng bệnh tâm thần cho Ron. Người ta cấp thêm cho anh một số thuốc Thorazine, và điều này khiến cả luật sư Barney Ward lẫn toàn thể nhà tù đều thở phào nhẹ nhõm. Thuốc đã có tác dụng rất tốt. Thật ra thuốc hiệu nghiệm cao vì mấy nhân viên nhà tù đã cho Ron uống liều cao hơn chỉ dẫn của thầy thuốc, mục đích để anh lành hiền hơn. Ron lại ngủ say như một đứa trẻ sơ sinh.
Tuy nhiên, trong một cuộc gặp giữa luật sư và thân chủ Ron buồn ngủ đến mức hầu như không nói được. Luật sư Barney Ward bèn đến gặp các nhân viên nhà tù, yêu cầu hạ thấp liều thuốc. Thế là lần này Ron tỉnh như sáo.
Nói chung Ron có vẻ không ưa vị luật sư và không chịu cộng tác một cách chặt chẽ, ăn ý. Anh cung cấp sự kiện thì ít mà lải nhải kêu oan thì nhiều. Ron bảo anh bị mắc vào âm mưu của người ta, giống như trường hợp Tommy Ward và Karl Fontenot. Luật sư Barney Ward đã ngán ngay từ ngày đầu tiên, nhưng ông vẫn cố gắng một cách miễn cưỡng.
***
Glen Gore cũng đang ngồi trong tù về tội bắt cóc trẻ con và gây gổ đánh nhau. Tòa án chỉ định luật sư Greg Saunders đảm trách việc bào chữa cho y trong phiên tòa. Greg Saunders là một luật sư trẻ, đã có một số năm hành nghề tại thị trấn Ada. Trong một cuộc gặp gỡ thân chủ trong nhà tù, ông ta và Glen Gore suýt đánh lộn nhau. Greg Saunders rút ra theo cổng sau, về gặp chánh án Miller đề nghị cho ông từ chối vụ án này. Chánh án Miller không đồng ý. Greg Saunders bèn nói rằng sẵn sàng nhận bào chữa cho một bị cáo trong một vụ trọng án, nếu ông ta được thoát khỏi thân chủ Glen Gore. Chánh án Miller nói, vậy là một cuộc mặc cả chứ gì. Nếu vậy thì ông hãy đại diện quyền lợi cho Dennis Fritz, bị cáo trong vụ án cô Debbie Carter.
Tuy luật sư Greg Saunders rất ngại dính vào việc xét xử vụ án cô Debbie, nhưng ông ta lại rất muốn được làm việc cùng với luật sư già dặn Barney Ward. Là một luật sư tốt nghiệp trường Đại học Trung Đông tại thị trấn Ada, Greg Saunders mơ ước trở thành luật gia giỏi. Ông rất khâm phục Barney Ward và rất muốn được cộng tác để học hỏi. Ông đã từng theo dõi vị luật sư già đời kia đánh gục các nhân chứng và đe dọa các ủy viên công tố. Barney Ward kính nể các thẩm phán nhưng không sợ họ và thoải mái trao đổi với họ. Ông ta rất biết cách chọn thời điểm nào để ra tay, thời điểm nào thuận lợi để tranh thủ cảm tình. Và luật sư trẻ Greg Saunders lúc nào cũng coi luật sư Barney Ward là bậc đàn anh.
Tuy làm việc riêng rẽ nhưng vẫn cùng theo một hướng, hai người liệt kê ra những yếu tố tác động và sắp tới sẽ làm cho văn phòng tư pháp quận rối bời. Ngày 11 tháng Sáu, chánh án Miller triệu tập một cuộc điều trần để nghe lập luận của cả hai bên: công tố và bào chữa. Luật sư Barney Ward yêu cầu cung cấp danh sách các nhân chứng mà bên công tố dự định sẽ triệu tập đến tòa. Luật pháp bang Oklahoma cho phép luật sư bào chữa được yêu cầu như thế. Nhưng ủy viên công tố Bill Peterson lúng túng, cố viện lý do để khước từ. Luật sư Barney Ward giải thích nội dung luật tố tụng, đoạn nói về quyền hạn của người bào chữa, trong đó có cái quyền này. Ủy viên công tố Bill Peterson miễn cưỡng phải đồng ý nhưng xin chỉ lộ ra những nhân chứng ông ta sử dụng trong phiên mở đầu. Chánh án Miller nói không được, ủy viên công tố Bill Peterson đành xin cứ nhân chứng nào sắp lên phát biểu thì ông ta mới lộ ra cho bên bào chữa họ tên nhân chứng ấy. Luật sư Barney Ward đang vui vì thấy mình đã nắm được rất nhiều chi tiết trong vụ án này, nhiều hơn bên công tố, vì vậy ông rộng lượng cho ủy viên công tố Bill Peterson được làm như ông ta đề nghị. Còn thêm một điều nữa, vì lần đầu tiên nhận cãi cho một vụ trọng án nên vị luật sư già đời này rất ngại vất vả.
Ngày hôm sau luật sư Barney Ward đệ đơn xin tòa cử thêm một luật sư bào chữa nữa hỗ trợ cho ông. Chánh án Miller chấp nhận đề nghị. Ngày 16 tháng Sáu, luật sư Frank Baber được chánh án Miller cử đến hỗ trợ cho luật sư Barney Ward. Cả hai bên nguyên và bị đều chuẩn bị căng thẳng cho trận đấu trước tòa sẽ diễn ra nay mai, trước tiên là trong phiên sơ thẩm.
***
Dennis Fritz bị nhốt vào một xà lim cách không xa xà lim của Ron Williamson. Dennis không nhìn thấy Ron nhưng nghe thấy tiếng anh ta nói. Những khi không bị cho uống thuốc ngủ quá liều thì Ron liên tục gào thét. Thông thường, anh đứng tựa vào chấn song bên cạnh cửa xà lim, hét: “Tôi không có tội. Tôi vô tội.” Tiếng hét của Ron vang khắp cái nhà tù nhỏ bé và ngột ngạt này. Ron giống như con thú bị thương nằm trong cũi, cầu van người ta cứu giúp. Các tù nhân đã chịu nhiều nỗi đau khổ, bây giờ lại thêm bị Ron suốt ngày đánh vào dây thần kinh khiến căn bệnh trầm cảm của họ càng nặng thêm.
Một số tù nhân không chịu được, bèn quát lại Ron và chọc tức anh bằng cách bảo rằng chính anh giết cô Debbie Carter.
Cuộc đấu khẩu qua lại nghe rất vui tai, nhưng nói chung là làm không khí trong nhà tù thêm ngột ngạt, khó thở. Quản giáo bèn chuyển chỗ cho Ron. Anh không được nằm trong xà lim riêng rẽ nữa mà nằm chung phòng giam với khoảng một chục tù nhân khác. Cách giải quyết này cuối cùng lại vô cùng tai hại. Phòng giam này quá hẹp, nên họ chen chúc nhau. Trong khi ấy Ron không chịu nhường ai hết. Các tù nhân trong phòng bèn thảo một lá đơn, tất cả đều ký, đề nghị quản giáo lại đưa Ron về xà lim riêng rẽ. Các quản giáo đồng ý vì sợ sẽ xảy ra đánh nhau gây thương tích, thậm chí có thể chết người thì rắc rối to.
Cách giải quyết này khiến cho nhà tù được một thời gian dài khá yên tĩnh, cả quản giáo lẫn tù nhân đều được hít thở thoải mái. Chẳng bao lâu các tù nhân được biết, tình hình ấy hoặc do quản giáo John Christian bận không đến trực ở đây hoặc người ta đã cho Ron uống thuốc Thorazine liều lượng cao hơn bình thường.
Thuốc Thorazine làm Ron Williamson hiền lành hơn, nhưng thuốc đôi khi cũng gây tác dụng phụ. Nó làm hai chân Ron ngứa ngáy, và “thần dược Thorazine” nhiều lúc làm cả nhà tù rối mắt, khi thấy Ron đứng vịn chấn song cửa xà lim rên rỉ, vặn người hết bên này sang bên kia hàng tiếng đồng hồ liền.
Dennis định nói chuyện với Ron để an ủi bạn, nhưng không ăn thua. Lời kêu gào “tôi vô tội” của Ron thảm thương đến nỗi Dennis Fritz thấy ruột gan như bị xé. Nhất là do anh biết rõ con người Ron. Rõ ràng Ron cần một thứ còn hơn là lọ thuốc an thần.
***
Thuốc trị bệnh rối loạn tâm thần chỉ có tác dụng an thần, chủ yếu đối với những bệnh nhân mắc chứng tâm thần phân liệt. Thorazine là thuốc chuyên trị rối loạn tâm thần. Lai lịch của nó khá quanh co. Vào thập niên 1950, loại thuốc này tràn ngập các bệnh viên tâm thần nhà nước. Thuốc này còn có tác dụng làm giảm mọi hứng thú, khiến con người trở nên thản nhiên, lạnh lùng với mọi thứ. Những bác sĩ ủng hộ Thorazine cho rằng thuốc này có tác dụng điều chỉnh thành phần hóa học trong não.
Nhưng những người phản đối, đông hơn số người ủng hộ rất nhiều, thì đưa ra những công trình nghiên cứu, cho thấy Thorazine gây ra những phản ứng phụ trong một thời gian rất dài. Người dùng thuốc lúc nào cũng ngủ gà ngủ gật, không thiết gì đến mọi thứ xung quanh, không còn khả năng tập trung tư tưởng, luôn mơ thấy ác mộng, và luôn thấy những hình ảnh hoang đường. Đặc biệt, nếu dùng thuốc này mà lái xe thì cực kỳ nguy hiểm. Thorazine có hại đối với các hoạt động của não, làm tê liệt các tế bào não.
Những người phê phán mạnh mẽ nhất đã gọi Thorazine là “thuốc độc cho tế bào não”. Họ bảo lợi ích duy nhất của loại thuốc này là rẻ tiền, đồng thời làm cho bệnh nhân cũng như tù nhân mất hết khả năng chống cự, khiến họ ngoan ngoãn, chỉ biết tuân theo mọi thứ như cái máy.
Ron được cho uống Thorazine là do các nhân viên quản lý nhà tù, đôi khi cũng do một luật sư kê đơn cho anh. Tuy nhiên không có ai kiểm tra việc sử dụng nó. Mỗi khi thấy Ron la hét quá to, người ta lại đưa một viên Thorazine cho anh uống.
***
Tuy Dennis Fritz còn sống ở thị trấn Ada bốn năm sau khi vụ án mạng cô Debbie Carter xảy ra, anh vẫn bị cơ quan điều tra quy vào tội “cố tình lẩn trốn”. Giống như trường hợp của Ron, số tiền để bảo lãnh tại ngoại của anh vô cùng lớn, đến mức anh không sao xoay xở để có được. Giống như mọi nghi can khác, tuy chưa bị tòa kết án và lẽ ra vẫn phải được coi là vô tội, nhưng Dennis Fritz lại bị giam trong tù với lý do người ta viện ra là để đề phòng anh trốn hoặc giết thêm những người khác.
Được coi là vô tội, nhưng những nghi can này vẫn cứ phải ngồi chờ trong nhà tù gần một năm, cho đến khi nào được ra tòa xét xử.
***
Dennis Fritz vào nhà tù được ít ngày, thì một người đàn ông tên là Mike Tenney đột nhiên xuất hiện bên ngoài xà lim của anh. To béo, đầu hói và nói năng lỗ mãng, nhưng lại có nụ cười cởi mở và thái độ thân thiện, Mike Tenney đối xử với Dennis Fritz như hai người đã là bạn thân của nhau từ lâu. Anh ta tỏ ý rất muốn trò chuyện với Dennis Fritz về vụ án mạng cô Debbie Carter.
Dennis Fritz sống ở thị trấn Ada khá lâu nên anh biết rõ nhà tù chỉ toàn những kẻ gian xảo, dối trá, độc ác, không thể tin được. Anh cũng biết mọi cuộc nói chuyện với tù nhân khác đều sẽ bị khai thác trước tòa theo cách xuyên tạc và nhằm gây hại cho anh. Mọi người ở đây, từ quản giáo đến tù nhân, rồi nhân viên nấu ăn, thậm chí nhân viên vệ sinh đều là những kẻ thù tiềm tàng mà Dennis phải hết sức cảnh giác đề phòng.
Mike Tenney nói y là tù nhân mới được đưa đến đây, thật ra không phải như thế. Tenney tỏ ra là người thích giúp đỡ người khác và ngỏ ý muốn giúp Dennis Fritz. Y đưa ra rất nhiều lời khuyên cho anh. Theo Tenney thì tình trạng của Dennis Fritz rất tồi tệ, cái án tử hình coi như đã cầm chắc trong tay. Bây giờ muốn khỏi chết, chỉ còn một cách là dựa vào ủy viên công tố Bill Peterson, xin gặp ông ta và đổ hết mọi tội lên đầu Ron Williamson.
Làm thế có lợi cho ông ta, vì ông ủy viên công tố Bill Peterson này chỉ cần phá được vụ án chứ không cần giết thêm một người. Đồng thời lại có lợi cho Dennis Fritz là thoát được cái án tử hình. Mà Ron Williamson thì không ai có thể cứu được anh ta nữa rồi. Nhà chức trách đã thống nhất quyết tâm khép Ron vào tội tử hình, cho nên có đổ thêm tội lên đầu anh ta thì anh ta cũng không phải chịu hình phạt nào cao hơn nữa. Tử hình là tột cùng rồi.
Dennis Fritz chỉ im lặng nghe.
***
Phiên tòa sơ thẩm được ấn định vào ngày 20 tháng Sáu, do chánh án Miller chủ tọa. Giống như trong tất cả các vụ trọng án, phiên sơ thẩm ở bang Oklahoma vô cùng quan trọng, mang tính quyết định, bởi trong phiên xét xử này, cơ quan công tố phải trình bày trước tòa cũng như trước tất cả những ai tham dự, họ tên các nhân chứng và họ sẽ nói những gì.
Điều thách thức đối với ủy viên công tố trong phiên sơ thẩm là phải đưa ra đủ bằng chứng để thuyết phục tòa là có đủ cơ sở khẳng định bị cáo là có tội, nhưng đồng thời lại giữ kín một số điều để bên bào chữa không biết mà chuẩn bị đối phó. Đây là một thứ thủ đoạn nhằm đánh lạc hướng đối phương, mặc dù không phải không có rủi ro.
Bình thường, ủy viên công tố ít khi phải lo lắng chuyện này, nhưng chánh án thì rất lo, bởi nếu việc xét xử không công bằng, khóa sau ông rất dễ bị người ta không bầu vào chân ấy.
Nhưng trong trường hợp này, ủy viên công tố Bill Peterson có quá ít bằng chứng để buộc tội hai bị cáo Ron Williamson và Dennis Fritz cho nên ông ta rất lo, và tìm đủ mọi cách, kể cả những thủ đoạn không chính đáng, để đạt được mục tiêu là trừng trị kẻ đã giết cô gái Debbie Carter. Ông ta phải phát huy tối đa tất cả những gì ông ta có được trong tay. Sẵn có tờ báo Tin tức buổi chiều ở Ada đang tha thiết muốn đưa tin về vụ án, càng nhiều càng tốt, họ sẵn sàng đưa lên trang báo mọi điều thu lượm được. Ông sẽ tranh thủ khai thác tờ báo bằng cách đưa ra những thông tin “có định hướng” để lái dư luận.
Một khó khăn bất ngờ xuất hiện, đấy là cuốn “Những giấc mộng ở thị trấn Ada" vừa mới ra mắt độc giả, đang là đề tài được mọi người sôi nổi bình luận. Phiên tòa sơ thẩm sắp đến là phiên tòa đầu tiên xét xử một vụ trọng án mà ủy viên công tố Bill Peterson tham dự, kể từ khi cuốn “Những giấc mộng ở thị trấn Ada" ra mắt.
Hội trường đông chật. Bà mẹ của Dennis Fritz cũng có mặt, cả hai chị của Ron Williamson là Annette Hudson và Renee Simmons. Có mặt cả mẹ và cha của nạn nhân, bà Peggy Stillwell và ông Charlie, cùng hai cô con gái của họ. Những người này đều đến từ sớm. Còn công chúng đến dự xem thì rất đông: những luật gia quan tâm đến vụ án này, những người thích hóng chuyện để có thứ bàn tán, những công chức rảnh rỗi, những ông bà nghỉ hưu do không có việc gì để làm... Tóm lại, hội trường đầy chật đủ loại người.
Trước khi nghe các bên trình bày, đồng thời có lẽ cũng để đùa, cơ quan cảnh sát thị trấn Ada thông báo cho bị cáo Ron Williamson biết là Dennis Fritz đã thú nhận đầy đủ là cả hai đều đã cưỡng hiếp và giết cô gái Debbie Carter. Tin khủng khiếp ấy đã đẩy Ron vào tâm trạng hoàn toàn tuyệt vọng.
Dennis Fritz thì ngồi điềm tĩnh trên ghế bị can, bên cạnh luật sư bào chữa Greg Saunders. Ông này đang chăm chú xem những tài liệu nào đấy, chờ cho phiên xét xử bắt đầu. Ron Williamson ngồi gần đấy, hai tay vẫn bị còng, nhìn Dennis Fritz vẻ căm giận. Đột nhiên và không thể hiện gì trước, Ron lao sang phía Dennis Fritz cách đấy có vài mét, hét vào mặt anh này. Một cái ghế từ đâu bay đến, đổ xuống đầu trợ lý của luật sư Barney Ward là cô Linda. Dennis Fritz nhảy lên rất nhanh và chạy sang gần vị trí của các nhân chứng. Trong khi ấy, cảnh sát túm chặt lấy Ron Williamson.
Ron hét: “Dennis! Mày là thằng khốn nạn! Tao sẽ không để mày yên đâu, đồ chó má!” Giọng anh oang oang như lệnh vỡ vang khắp hội trường. Luật sư Barney Ward bị cái ghế đập vào người, bật dậy, ngã xuống đất. Các nhân viên cảnh sát túm chặt Ron, kéo anh về chỗ, cố trấn an anh. Ron quẫy mạnh, chân đạp tứ tung như phát điên. Dennis Fritz, luật sư Greg Saunders và các nhân viên tòa án vội bỏ chạy ra ngoài. Hội trường náo loạn đến mức chưa từng thấy.
Phải mấy chục phút sau, cảnh sát mới ghìm Ron xuống ghế bị cáo được. Trong lúc bị cảnh sát lôi đi, Ron vẫn tiếp tục chửi mắng Dennis Fritz bằng đủ mọi lời thô bỉ và tục tĩu nhất.
Khi trật tự được lập lại, các bàn và ghế được đặt vào chỗ cũ, mọi người mới thở phào. Luật sư Barney Ward không nhìn thấy gì, nhưng ông biết ông vừa ở trung tâm một cuộc náo động. Ông đứng lên, nói:
“Tôi muốn chính thức xin rút khỏi cương vị luật sư bào chữa trong phiên tòa này, vì cậu ta không chịu cộng tác với tôi một chút nào. Cho dù cậu ta có trả tôi tiền thù lao tôi cũng không nhận. Tôi không muốn đại diện cho quyền lợi cậu ta. Thưa ngài Chủ tọa, tôi không thể làm việc ấy. Tôi đã già quá rồi, tôi không thể đại diện cho cậu ta. Thưa ngài Chủ tọa, tôi không muốn làm bất cứ thứ gì cho cậu ta. Bất kể trong hoàn cảnh nào, tôi cũng không làm. Bởi tôi biết có làm cũng không làm được”.
Chánh án Miller đáp lại ngay. “Tòa không chấp nhận lời yêu cầu trên của ngài Luật sư.”
Nhìn thấy cảnh tượng vừa rồi, trái tim hai chị Annette và Renee tan nát. Em của họ đã phản ứng như một kẻ mất trí. Và hai chị vô cùng thương xót cho cậu, ngay từ khi nhìn thấy cậu bị còng hai tay, bây giờ lại thêm xích hai chân nữa. Ron đang rất cần được giúp đỡ, nhưng hai chị thì hoàn toàn bất lực, không giúp gì được em. Ron đang bị bệnh, lẽ ra em họ phải được đưa vào bệnh viện để điều trị, phải được những bác sĩ giỏi và tận tình chăm sóc. Sao nhà chức trách bang Oklahoma nỡ bắt em của họ phải ra trước tòa trong khi rõ ràng cậu đang ốm?
Ngồi bên rìa phòng xử án, bà Peggy nhìn tên vô lại phát điên và hình dung lúc hắn hành hung con gái bà.
Sau khi trật tự được lập lại, đợi thêm vài phút cho mọi người thật sự bình tĩnh, chánh án Miller mới ra lệnh đưa bị cáo Ron Williamson trở lại hội trường. Trong gian bên cạnh, các nhân viên cảnh sát đang giảng giải cho Ron hiểu rằng thái độ của anh là không thể chấp nhận trong một phiên tòa, và nếu anh còn làm chuyện như vừa rồi lần nữa, họ sẽ không thương hại mà sẽ áp dụng những hình phạt khủng khiếp.
Nhưng khi cảnh sát vừa bắt đầu giải Ron sang hội trường thì anh đã lại gào thét chửi bới Dennis Fritz. Chánh án Miller quyết định đưa Ron Williamson trở lại nhà tù, và tuyên bố phiên tòa tạm nghỉ một tiếng đồng hồ, để cử tọa tạm ra ngoài chờ.
Về đến nhà tù, các nhân viên cảnh sát nhắc lại lời đe dọa, nhưng Ron không thèm nghe. Những lời thú tội dối trá là thứ hết sức phổ biến ở quận Pontotoc, và Ron không tin là có thể moi được một lời thú tội kiểu như thế ở Dennis Fritz. Ron là người vô tội và anh quyết không để bị kết tội oan như Tommy Ward và Karl Fontenot. Nếu như anh có thể đến gần Dennis Fritz và bóp cổ anh ta, Ron tin rằng sẽ làm được cho Dennis Fritz nói ra sự thật là thế nào.
Lần thứ ba vào hội trường cũng lại giống như hai lần trước. Vừa đi qua cửa, Ron đã hét lên: “Dennis Fritz! Tôi với cậu phải làm rõ chuyện này. Phải làm cho rõ!” Rồi anh thét lên với Dennis Fritz: “Tôi không giết ai cả! Chưa bao giờ tôi giết ai!”
Chánh án Miller ra lệnh cho cảnh sát giữ chặt Ron Williamson, đồng thời cảnh cáo anh: “Ông Williamson, nếu ông còn nổi cơn điên khùng lần nữa, việc xét xử sẽ tiến hành mà không có ông.”
“Nếu thế tôi càng thích”. Ron đáp lại ngay.
“Thôi được, vậy là ông đã hiểu...”
“Lẽ ra tôi không đáng bị đưa ra đây. Tôi đề nghị ngài Chủ tọa cho tôi trở lại nhà tù.”
“Có nghĩa ông không cần ai bảo vệ ông trong phiên xét xử sơ thẩm?”
“Đúng thế.”
“Không ai ép buộc ông, mà hoàn toàn tùy ông lựa chọn.”
“Tôi sẽ lại nổi điên đấy”, Ron nói, nhìn chằm chằm vào Dennis Fritz.
“Nếu tôi không hiểu lầm thì ông không muốn dự phiên xét xử sơ thẩm này?”
“Đúng thế.”
“Được. Các ông hãy đưa ông Ron Williamson trở lại nhà tù quận. Trong biên bản xét xử, sẽ ghi là bị cáo Ronnie Williamson nói không sử dụng quyền có mặt trong phiên sơ thẩm. Tòa tuyên bố sẽ tiến hành xét xử sơ thẩm mà không cần đến sự có mặt của bị cáo Ron Williamson.”
Ron Williamson bị giải về nhà tù, trong khi phiên xét xử sơ thẩm vẫn tiến hành như bình thường.
***
Năm 1956, tòa án tối cao Hoa Kỳ, trong vụ án được biết đến rộng rãi dưới cái tên “Vị linh mục chống lại Hoa Kỳ", đã ban hành quy định là nếu có đầy đủ biểu hiện là bị cáo không đủ sự tỉnh táo tâm thần thì sẽ không bị đưa ra trước tòa để xét xử.
Sau khi Ron đã trải qua hai tháng trong tù, không một ai trong bộ phận công tố cũng như bào chữa tìm hiểu về bệnh trạng tâm thần của anh. Trong khi ấy, biểu hiện của bệnh đã rõ ràng. Hồ sơ sức khỏe của anh rất dài và tòa có thể lấy xem bất cứ lúc nào. Thái độ của Ron trong tù nói lên rõ ràng bệnh trạng của anh. Việc cho anh dùng thuốc hoàn toàn nằm trong tay luật sư và các quản giáo nhà tù. Tiếng tăm anh được khắp thị trấn Ada biết đến, nhất là các nhân viên cảnh sát.
Và thái độ hung hãn của Ron vừa rồi trong phòng xét xử đã từng bộc lộ trước đây. Hai năm trước, khi nhà chức trách định thi hành nốt án tù được tạm ngừng nhưng khi anh vi phạm là đã đi xa mà không xin phép cảnh sát, Ron đã nổi khùng trước tòa, khiến tòa đã phải tạm hoãn và đưa anh đi bệnh viện để khám và điều trị bệnh tâm thần. Chủ tọa phiên xét xử lần ấy cũng chính là chánh án Miller, người hiện nay đang điều khiển phiên xét xử sơ thẩm vụ án Ron Williamson phạm tội giết cô Debbie Carter này.
Bây giờ, sau hai năm, và lại là khả năng bị cáo sẽ nhận án tử hình, thì ông Miller thấy không cần quan tâm đến trạng thái tâm thần của bị cáo nữa.
Luật tố tụng bang Oklahoma cho phép thẩm phán, ngay cả khi ông ta chủ tọa một phiên tòa sơ thẩm, được quyền hoãn việc xét xử nếu phát hiện thấy ở bị cáo có biểu hiện tâm thần không tỉnh táo. Không cần đến yêu cầu của bên phía tội phạm. Hầu hết các luật sư bào chữa đều đưa ra bằng chứng là thân chủ của họ đã từng mắc bệnh tâm thần và yêu cầu được giám định lại tình trạng sức khỏe của người ấy. Còn trường hợp không có ý kiến gì của bên bị thì chủ tọa phiên toà có bổn phận phải bảo đảm quyền lợi của bị cáo theo tinh thần của hiến pháp.
Thái độ im lặng của chánh án Miller, chủ tọa phiên tòa, lẽ ra phải được luật sư Barney Ward phản đối. Là luật sư bào chữa cho bị cáo, lẽ ra ông ta phải yêu cầu tiến hành giám định tình trạng tâm thần thân chủ của ông ta.
Bước thứ hai, sau phiên tòa xét xử sơ thẩm là nghe luật sư bào chữa trình bày, một công việc mà luật sư Barney Ward đã từng làm bao nhiêu lần trong hai năm qua.
Do bị cáo Ron Williamson đã được đưa ra khỏi phòng xét xử, phiên sơ thẩm diễn ra nhẹ nhàng và trật tự. Phiên sơ thẩm này kéo dài nhiều ngày mà không lần nào Ron Williamson có mặt. Do đấy chuyện anh có mắc bệnh tâm thần hay không không còn có ảnh hưởng gì nữa.
Bác sĩ Fred Jordan là người đầu tiên đọc tờ xác nhận. Ông là người đã khám và mổ xác cô Debbie Carter, xác định nguyên nhân cái chết là do bị ngạt thở, có thể là do bị một sợi dây thít cổ, hoặc bị nhét giẻ vào miệng, mà cũng có thể là do cả hai nguyên nhân ấy.
Sự dối trá bắt đầu từ nhân chứng thứ hai, Glen Gore. Y khẳng định rằng tối ngày 7 tháng Mười hai, y đến câu lạc bộ Coachlight cùng vài người bạn, một trong số bạn ấy là cô Debbie Carter, bạn học của y thuở nhỏ và biết y rất rõ. Có một lúc trong buổi tối hôm ấy, cô Debbie đề nghị y “cứu” cô. Vì cô nhìn thấy Ron Williamson cũng đến đây và anh ta cứ gặp cô là chòng ghẹo.
Glen Gore khai không nhìn thấy Dennis Fritz ở câu lạc bộ Coachlight tối hôm ấy.
Khi đối chất, Glen Gore khai rằng y đã báo cáo chuyện này với cảnh sát ngay hôm sau, ngày 8 tháng Mười hai, nhưng trong bản báo cáo của cảnh sát về cuộc thẩm vấn Glen Gore lại không nhắc gì đến Ron Williamson. Và bản báo cáo ấy cũng không được trao cho bên bị, bất chấp đấy là điều quy định của Bộ luật Tố tụng.
Thế là Glen Gore trở thành nhân chứng duy nhất đưa ra chứng cứ chống lại Ron Williamson. Y đưa ra chuyện cô Debbie nói rằng Ron Williamson hay chọc ghẹo cô, tức là y đã đưa ra được bằng chứng về mối quan hệ giữa bị cáo và nạn nhân. Những bằng chứng của các nhân chứng khác đưa ra chỉ mang tính không thực chất.
Chỉ một ủy viên công tố đã quyết tâm kết tội Ron Williamson mới dám có đủ liều lĩnh để cho phép một tên tội phạm chuyên nghiệp như Glen Gore được tiếp cận với hồ sơ của ông ta. Glen Gore bị giải đến tòa trong trạng thái hai tay bị còng và hai chân bị xích. Y đang trả bản án bốn mươi năm tù về tội đột nhập nhà riêng, bắt cóc trẻ con và làm bị thương một sĩ quan cảnh sát. Năm tháng trước đấy y đã đột nhập vào nhà vợ cũ của y, tên là Gwen, bắt chị ta và đứa con gái nhỏ của y làm con tin. Glen Gore đang say và đã chĩa súng vào hai mẹ con suốt năm tiếng đồng hồ. Khi một cảnh sát tên là Rick Carson đi qua, thấy có điều khả nghi, bèn nhìn qua cửa sổ vào thì bị Gore nhìn thấy, bóp cò luôn, trúng vào giữa mặt viên cảnh sát. May mà vết thương không nguy hiểm. Trước khi đầu hàng, Glen Gore còn bắn vào một cảnh sát khác nữa.
Đấy chưa phải là hành động vũ lực và tàn bạo đầu tiên của y đối với Gwen, vợ cũ của y. Năm 1986, trong thời gian lủng củng vợ chồng, đã một lần Glen Gore bị tù về tội đột nhập nhà Gwen và dùng con dao hàng thịt đâm nhiều nhát lên người chị ta. May Gwen không chết, còn Glen Gore thì can tội đột nhập vào nhà người khác ăn cướp và tấn công gây nhiều thương tích.
Hai tháng trước đấy, Glen Gore đã bị tù về tội hành hung Gwen.
Năm 1981, Glen Gore bị đưa ra tòa về tội đột nhập trái phép vào nhà một phụ nữ khác. Ngoài ra y còn có cả một bản kê dài những vụ vi phạm pháp luật lặt vặt khác nữa.
Một tuần sau khi tên tuổi Glen Gore được đưa vào danh sách các nhân chứng chống lại Ron Williamson, một cuộc thương lượng đã được tiến hành giữa Gore và nhà chức trách. Phía Glen Gore, y được bỏ qua cho một vụ bắt cóc trẻ con và một vụ tấn công người khác bằng vũ khí nguy hiểm. Khi Glen Gore bị tuyên án, bố mẹ vợ cũ của y đã viết một lá thư cho tòa án đề nghị xử con rể cũ của họ một thời gian giam giữ dài. Thư ấy có đoạn như sau:
“Chúng tôi đề nghị các ngài thấy được con người này nguy hiểm đến mức nào. Hắn đã tính sẽ giết con gái chúng tôi, cháu ngoại chúng tôi và cả hai chúng tôi nữa. Điều này hắn đã báo chúng tôi biết. Chúng tôi đã mất rất nhiều công để kiếm cho ra bằng chứng về hành động của hắn đột nhập vào nhà con gái tôi để ăn trộm, nhưng không tìm ra được. Nếu kê ra tất cả những lần hắn tấn công con gái tôi thì sẽ phải viết một lá thư rất dài.
Đề nghị các ngài cho con gái tôi có đủ thời gian để nuôi đứa con khôn lớn trước khi hắn ra khỏi nhà tù và tiếp tục gây chuyện, và cũng để đứa cháu ngoại của chúng tôi khỏi phải chứng kiến những cảnh tượng đau lòng”.
Nhiều năm qua, luật sư Barney Ward đã nghi Glen Gore có dính vào vụ giết cô Debbie Carter. Y là một tên tội phạm chuyên nghiệp, với cả một danh sách dài những vụ hành hung phụ nữ. Y cũng là người cuối cùng được người ta nhìn thấy đứng với nạn nhân. Không hiểu tại sao cảnh sát lại quá ít chú ý đến y như thế?
Các dấu vân tay của Glen Gore không hề được nộp lên Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma để phân tích. Bốn mươi tư dấu vân tay được nộp lên Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma để phân tích nhưng không có dấu vân tay của Glen Gore. Có một lần y bằng lòng được thẩm vấn có máy phát hiện nói dối, nhưng lại không được cảnh sát thực hiện. Cảnh sát thị trấn Ada đánh mất bộ mẫu tóc và lông đầu tiên của Glen Gore nộp cho họ, vào khoảng thời gian hai năm sau khi vụ án xảy ra. Lúc ấy y đã nộp một bộ, sau đấy lại một bộ nữa. Nhưng không ai nhớ là vào những lúc nào.
Luật sư Barney Ward, vốn rất tinh trong việc lắng nghe dư luận cũng như những lời bàn tán xung quanh các phiên tòa, tin chắc rằng lẽ ra cảnh sát phải điều tra theo cả hướng Glen Gore.
Và ông cũng biết Ron Williamson vô tội.
***
Điều bí mật về Glen Gore chỉ được lộ ra ,mười bốn năm sau khi vụ án cô Debbie Carter được đưa ra phiên xét xử sơ thẩm vừa nói đến. Lúc ấy, vẫn còn nằm trong tù, Glen Gore đã ký vào một bản khai có tuyên thệ, trong đó y nhận rằng vào những năm đầu của thập niên 1980, y có bán ma túy ở thị trấn Ada. Y nói đến chất ma túy Methamphetamine. Trong một số lần chuyển hàng y có sử dụng cả mấy nhân viên cảnh sát, trước hết là một người tên là Dennis Corvin. Glen Gore khai rằng nhân viên cảnh sát này là một tay trung gian số một, đã nhiều lần đến câu lạc bộ Harold's, nơi Glen Gore làm việc.
Khi Glen Gore nợ họ tiền, họ bắt y theo những lý do giả, để y có thể thoát thân nếu trả nợ cho họ. Trong bản thú nhận có tuyên thệ, Glen Gore còn nói: “Tuy nhiên, hầu hết thời gian những năm đầu của thập niên 1980, tôi biết tôi được cơ quan pháp luật của thị trấn Ada ưu ái chỉ vì tôi đã cộng tác với họ trong việc buôn bán chất ma túy.”
Trong đó y còn viết: “Thái độ ưu ái ấy chấm dứt khi tôi không còn cộng tác với cảnh sát thị trấn Ada trong buôn bán ma tuý nữa.”
Glen Gore cho rằng cái án bốn mươi năm tù chính là vì y đã thôi không cộng tác với cảnh sát thị trấn Ada trong việc buôn bán chất ma túy.
Về Ron Williamson, năm 2001, Glen Gore nói y không biết Ron có đến câu lạc bộ Coachlight đêm hôm xảy ra vụ án mạng không. Cảnh sát đã đưa y xem một loạt ảnh, rồi trỏ vào ảnh Ron Williamson, bảo y rằng đấy là người họ quan tâm. “Tôi hiểu ngay là họ gợi ý với tôi là hãy vu tội cho người ấy.”
Bản khai có tuyên thệ của Glen Gore do một luật gia thảo nháp và sau đấy chính vị luật gia này đã duyệt lại lần cuối cùng trước khi đưa y ký.
Nhân chứng tiếp theo của bên công tố là Tommy Glover, một khách thường xuyên của câu lạc bộ Coachlight và cũng là người cuối cùng nhìn thấy cô Debbie Carter. Điều anh ta nhớ lại đầu tiên là anh ta nhìn thấy cô Debbie nói chuyện với Glen Gore trong bãi đỗ xe và anh ta thấy cô gái đẩy Glen Gore ra rồi mới lái xe đi.
Nhưng bốn năm và bảy tháng sau đấy, Tommy Glover nhớ lại sự việc hôm ấy có khác đôi chút. Anh ta khai trong phiên xét xử sơ thẩm là có nhìn thấy Glen Gore nói chuyện với cô Debbie rồi sau đấy cô mới vào ô tô và lái đi. Không có gì hơn và cũng không có gì kém.
Nhân chứng tiếp theo là bố của nạn nhân, ông Charlie Carter. Ông thuật lại hôm sau ông đến và nhìn thấy thi thể con gái cũng như quang cảnh căn hộ bị xới tung lên như thế nào, vào sáng ngày 8 tháng Mười hai năm 1982.
Chuyên viên Jerry Peters, thuộc Cục Điều tra Hình sự bang Oldahoma, một “chuyên gia lão luyện về các kiểu hiện trường” được mời lên bục nhân chứng. Nhưng chỉ một lát sau ông ta đã bị người ta làm cho lúng túng. Chẳng là luật sư Barney Ward đã ngửi thấy đây là một thứ chuột nhắt, bèn vặn ông ta về chuyện cái dấu vân lòng bàn tay in trên vết máu nằm trên mảnh gỗ đã được cảnh sát thu thập tại hiện trường hôm ấy. Vào tháng Ba năm 1983, ông ta đã khẳng định đấy là dấu vân lòng bàn tay của một kẻ lạ mặt, chứ không phải của chủ nhân căn hộ, cô Debbie. Ấy thế mà đến tháng Năm năm 1987, ông chuyên gia lại quay ngược 180 độ, khẳng định đấy chính là dấu vân lòng bàn tay của nữ chủ nhân căn hộ, cũng chính là nạn nhân vụ án, cô Debbie. Cái gì đã khiến chuyên gia Jerry Peters thay đổi kết luận ban đầu như vậy? Theo kết luận ban đầu ấy thì dấu vân lòng bàn tay kia không phải của một người nào trong ba người: cô Debbie Carter, Ron Williamson, hoặc Dennis Fritz. Phải chăng việc thay đổi kết luận ấy giúp làm sáng tỏ vụ án?
Jerry Peters thừa nhận trong suốt bốn năm không có chuyện gì xảy ra. Mãi đến năm 1987 này, bỗng nhiên ủy viên công tố Bill Peterson gọi điện thoại đến thúc ép ông cân nhắc lại kết luận trước kia của mình. Sau khi khai quật tử thi và in lại dấu vân lòng bàn tay của Debbie, ông đột nhiên thay đổi cách nhận định và đưa ra một báo cáo đúng theo yêu cầu của bên công tố.
Luật sư Greg Saunders cũng tấn công tiếp để bênh vực cho thân chủ của ông là Dennis Fritz. Ông khẳng định sự thay đổi kết luận kia rõ ràng là một hành động “bịa đặt ra chứng cứ”. Nhưng hôm ấy mới chỉ là phiên xét xử sơ thẩm, chưa phải xét xử chính thức, cho nên tòa chưa yêu cầu nhất thiết phải có chứng cứ cụ thể, chứ không chỉ là một sự hồ nghi hay phỏng đoán, cho dù sự hồ nghi hay phỏng đoán ấy nghe có vẻ hợp lý.
Chuyên gia Jerry Peters cũng xác nhận rằng trong số hai mươi mốt dấu vân tay thu được trong căn hộ và trên xe ô tô của Debbie Carter, mười chín là của cô, một của thanh tra Dennis Smith và không có dấu vân tay nào của Dennis Fritz hoặc Ron Williamson.
“Ngôi sao” của bên công tố chính là cô gái Terri Holland, một con người đáng làm người ta kinh ngạc. Từ tháng Mười 1984 đến tháng Giêng 1985, chị ta bị giam tại nhà tù quận Pontotoc về tội làm ngân phiếu giả. Giữa lúc bang Oklahoma đang có liền mấy vụ án mạng chưa được khám phá thì thời gian bốn tháng trong tù của Terri Holland quả là có giá trị.
Việc đầu tiên chị ta làm là mách với cơ quan pháp luật rằng chị ta nghe thấy Karl Fontenot nhận rằng anh ta đã bắt cóc rồi giết cô gái Denice Haraway. Chị ta xác nhận điều ấy trong phiên tòa xét xử vụ án Tommy Ward và Karl Fohtenot vào tháng Chín 1985, đồng thời còn cung cấp cho tòa toàn bộ những chi tiết mà thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers đã mớm cho Tommy Ward để tăng thêm chi tiết cho giấc mộng của anh. Nhờ việc xác nhận trước tòa ấy, bản án dành cho chị ta về tội làm ngân phiếu giả được giảm xuống rất nhiều, bất chấp ngoài tội ấy chị ta còn phạm hai tội nhỏ khác. Hai bị cáo Tommy Ward và Karl Fontenot phải nhận án tử hình, chủ yếu do chứng cứ Terri Holland bịa ra cho họ. Sau đấy, khi ra tù, Terri Holland bỏ đi biệt khỏi quận Pontotoc, định không bao giờ quay lại nữa.
Khi bỏ đi, Terri Holland còn nợ lại tòa án mấy khoản tiền phạt chưa trả, ấy thế nhưng nhà chức trách lại coi hành động của chị ta chỉ là chuyện vặt vãnh! Nhưng rồi cuối cùng họ vẫn tóm được chị ta và điệu chị ta về quận này. Đứng trước quá nhiều tội, toàn những tội phải đưa ra xét xử tại tòa, chị ta “bỗng nhiên” cung cấp một loạt tin cho các nhân viên điều tra. Vào thời gian Terri Holland ngồi tù và nghe thấy Karl Fontenot thú nhận tội của anh ta, thì chị cũng nghe thấy Ron Williamson thú nhận toàn bộ tội ác của mình.
Quả là một may mắn quá lớn cho các quan chức và nhân viên cảnh sát! Không những họ đã phổ cập hiện tượng thú tội thông qua giấc mộng, mà bây giờ họ còn biến nó thành một vũ khí tuyệt diệu nữa.
Terri Holland không nói rõ tại sao chị ta không kể với ai về lời thú nhận tội lỗi của Ron Williamson, mà giữ kín trong tâm khảm cho đến tận bây giờ, tức là mùa xuân năm 1987 mới nói ra. Trong suốt hơn hai năm trời, Terri Holland không thốt ra một lời. Cũng không ai hỏi tại sao chị ta lại tìm đến thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers để kể về những lời thú nhận tội lỗi của Karl Fontenot.
Trên bục nhân chứng, trong phiên xét xử sơ thẩm, Terri Holland thao thao bất tuyệt kể về những hư cấu của chị ta. Vì không có mặt bị cáo Ron Williamson trong phòng xét xử, chị ta tha hồ bịa ra các thứ ly kỳ. Chị kể một lần chị ta nghe lỏm thấy Ron Williamson hét lên trong máy điện thoại, nói với mẹ y rằng: “Con sẽ giết mẹ giống như con đã giết Debbie Carter.”
Nhà tù chỉ có một máy điện thoại duy nhất treo trên tường ngay phía trước, gần cửa ra vào. Mỗi lần được phép gọi điện thoại, mà như thế hết sức hiếm hoi, tù nhân phải rướn người ra phía trước, qua một cái quầy, và cuộc điện đàm diễn ra trước mặt người nào đang làm việc sau quầy. Chuyện “nghe trộm” hầu như không thể xảy ra.
Terri Holland còn xác nhận một lần Ron Williamson gọi điện thoại cho nhà thờ, xin một điếu thuốc lá, và đe nếu không ai có thuốc cho y, y sẽ đốt nhà thờ.
Chuyện này cũng lại không ai có thể kiểm chứng. Có điều chị ta làm sao lại biết lắm chuyện về tù nhân nam giới đến thế, trong khi ở nhà tù quận Pontotoc, nam nữ bị giam giữ cách biệt nhau.
Ủy viên công tố Bill Peterson dắt dẫn Terri Holland bằng cách gợi ý để chị ta hư cấu cho phù hợp với mong muốn của ông ta:
“Chị có nghe thấy Ron Williamson lộ ra với ai là anh ta đã làm những gì với cô Debbie Carter không?”
“Có chứ. Anh ta có kể giữa phòng tạm giam dành cho những tù nhân mới đến, chưa được xếp chỗ.” Chị ta đáp. “Tôi có mặt ở đấy đúng hôm người ta giải hai anh Tommy Ward và Karl Fontenot đến.”
“Vậy Ron Williamson đã kể trong phòng tạm giam những gì? Có nhắc đến chuyện anh ta đã làm gì cô Debbie Carter không?”
“Có chứ. Điều anh ta nói hôm ấy chính là về chuyện kia. Tôi không biết nên kể lại thế nào. Anh ta bảo: Cô Debbie tưởng cô ấy thành thạo hơn tôi, nhưng tôi đã cho cô ấy thấy cô ấy còn thua tôi xa.”
“Ron Williamson còn kể gì nữa?”
“Anh ta còn kể anh ta đã bắt cô ấy làm tình với anh ta thế nào. Tôi không nhớ anh ta kể cụ thể ra sao. Anh ta chỉ kể sau đấy anh ta lấy áo quần lột ở người cô ấy ra, tọng vào miệng cô ấy để cô ấy im, mặc cho anh ta muốn làm gì thì làm.”
Ủy viên công tố Bill Peterson vẫn định hướng cho Terri Holland tiếp tục hư cấu:
“Ron Williamson còn nói gì về cô Debbie Carter nữa không?”
“Có. Ron Williamson bảo anh ta nói với cô ấy cho anh ta cùng đi, nhưng Debbie ghét anh ta, không muốn làm gì với anh ta. Ron Williamson đe cô ấy là nếu không nghe, anh ta sẽ cho cô ấy một bài học.”
Ủy viên công tố Bill Peterson đã sốt ruột, thấy “người của ông ta” kể chậm quá. Ông ta thúc Terri Holland:
“Nhưng anh ta chỉ dọa thế thôi chứ gì?”
“Thì anh ta đã giết cô ấy đấy thôi.”
Đáng chú ý ở chỗ Bill Peterson là luật gia, một quan chức ngành tư pháp, có bổn phận đi tìm sự thật thì lại bịa tạo những điều dối trá.
Công lao của Terri Holland đã được đền đáp. Chị ta được giảm án, thả trước thời hạn. Các khoản chị ta nợ tòa chị ta hứa sẽ trả trong vòng một tháng, nhưng trên thực tế chị ta bỏ đi đâu mất tăm, không trả gì hết.
***
Vào thời điểm ấy, ít người biết rằng Terri Holland đã có mối quan hệ không hay ho gì với Ron Williamson. Cách đây đã nhiều năm, khi Ron còn hàng ngày đi dọc các phố ở thị trấn Ada rao bán sản phẩm của hãng Rawleigh, anh đã ngẫu nhiên rơi vào một cuộc tình không định trước. Hôm ấy Ron gõ cửa một ngôi nhà, và nghe thấy một giọng phụ nữ bảo anh cứ vào tự nhiên. Anh vào thì thấy một phụ nữ trẻ ra đón, chị ta tên là Marlene Keutel, trên người không có một mảnh vải. Nhà có vẻ không có ai khác, thế là việc phải đến đã đến.
Marlene Keutel là người thần kinh không bình thường, và sau đấy một tuần lễ, chị ta tự tử. Ron nhiều lần quay lại, định bán tiếp sản phẩm cho chị ta nhưng không lần nào gặp chị ta ở nhà. Anh không biết chị ta đã chết.
Em gái chị ta chính là Terri Holland. Sau cuộc làm tình kia, Marlene Keutel kể chuyện ấy ra với em và bịa ra là chị ta bị Ron hiếp. Ron không bị xét xử. Mặc dù Terri Holland biết chị mình thần kinh không bình thường, nhưng vẫn cho rằng Ron phải chịu trách nhiệm trước cái chết của chị chị ta. Trong khi ấy Ron đã quên lần làm tình chớp nhoáng ngẫu nhiên kia, và cũng không biết Terri Holland chính là em gái của Marlene Keutel.
***
Ngày đầu tiên của phiên tòa sơ thẩm, tòa nghe thanh tra Dennis Smith thuật lại tỉ mỉ diễn biến của vụ án và quá trình điều tra. Điều bất ngờ duy nhất xuất hiện là khi thám tử Dennis Smith bình luận về những chữ hung thủ để lại trên tường và mặt bàn ở căn hộ của cô Debbie. Dòng chữ trên tường viết bằng chất màu sơn móng tay. Dòng chữ trên mặt bàn bếp “Đừng có tìm tao, vô ích” viết bằng chất tương cà chua. Rồi những chữ viết trên bụng và lưng nạn nhân. Thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers cho rằng có thể lần ra được người viết những chữ ấy. Vì thế, trước đây bốn năm, hai ông đã yêu cầu Dennis Fritz và Ron Williamson viết mấy chữ lên một tấm phiếu trắng.
Hai viên sĩ quan cảnh sát chưa có kinh nghiệm gì về phân tích tự dạng, điều này chẳng đáng ngạc nhiên, nhưng họ lại cho rằng họ làm được. Hai mẫu chữ của Dennis Fritz và Ron Williamson viết bằng bút mực lên tờ phiếu, hao hao giống như kiểu chữ viết bằng sơn móng tay màu đỏ trên tường và bằng chất tương cà chua viết lên mặt bàn bếp.
Hai ông đem điều nghi ngờ của họ kể với một quan chức, không biết là ai, của Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma. Và theo lời thanh tra Dennis Smith thì vị quan chức ấy tán thành nhận định của ông, thậm chí còn cấp cho ông thanh tra một “văn bản” khẳng định ý kiến nhận định ấy.
Khi kiểm tra chéo với luật sư Greg Saunders, thanh tra Dennis Smith xác nhận, “Theo ý kiến của một quan chức ở Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma mà tôi trao đổi, thì tự dạng mẫu chữ này rất giống tự dạng chữ viết chúng tôi thấy trên tường trong căn hộ của nạn nhân.”
“Còn chữ trên bàn bếp?”
“Cả hai chỗ, cách viết đều giống nhau.”
Vài phút sau, luật sư Barney đập tan kết luận của thanh tra Dennis Smith về việc so sánh mẫu chữ. Ông hỏi viên thanh tra xem có bản báo cáo nào về phân tích chữ viết của Ron Williamson không?
“Chúng tôi không đưa chữ viết của y cho Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma để phân tích”, viên thanh tra cảnh sát thú nhận.
Luật sư Barney tỏ vẻ không tin: “Tại sao ông không đưa mẫu chữ viết của anh ta lên Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma để phân tích? Trên Cục có những chuyên gia rất giỏi về phân tích tự dạng. Rất có thể họ sẽ loại Ron Williamson và Dennis Fritz ra khỏi diện tình nghi.”
Thanh tra Dennis Smith cãi: “Rõ ràng có những chỗ hao hao kiểu tự dạng, nhưng ông biết đấy, tôi làm thế vì dựa trên những nhận xét của chúng tôi, không phải hoàn toàn khoa học. Ông hiểu cho, chúng tôi chỉ nhìn rồi xem có giống nhau hay không. Và lại so sánh chữ viết ở hai điều kiện khác nhau đến thế là chuyện không thực hiện được. Một đàng chữ được viết bằng bút, một đàng chữ được viết bằng que, so sánh hết sức khó, nếu không nói là không thể được.”
Luật sư Barney phản đối: “Thôi được, hay ông định nói rằng có thể có khả năng hai bị cáo kia cùng viết những dòng chữ ấy, mỗi người viết một chữ rồi đưa cái que hay vật gì đó cho người kia để người kia viết tiếp, cứ thể thay nhau viết cả dòng chữ? Và ông đã kết luận theo kiểu nào? Kiểu chữ viết ấy là của một hay là hai người?”
“Tôi chỉ nghĩ rằng cả hai tên đều viết, bởi trong hiện trường có rất nhiều chỗ có chữ viết.”
Tuy chuyện so sánh mẫu tự dạng chiếm một phần trong phiên xét xử sơ thẩm, nhưng không phải phần quan trọng nên ngay cả ủy viên công tố Bill Peterson cũng không khai thác.
Cuối ngày làm việc thứ nhất, chánh án Miller lo lắng về chuyện bị cáo Ron Williamson vẫn vắng mặt. Lúc giải lao, ông trao đổi với các luật sư bào chữa. “Tôi sẽ phải đọc một số điều liên quan đến bị cáo cho nên tôi yêu cầu đưa bị cáo trở lại phòng xét xử. Và nếu cần, ta có thể kéo dài thêm giờ làm việc.”
Luật sư Barney Ward nói thêm: “Hay ông chánh án muốn tôi làm cho bị cáo lành hiền hơn bằng cách bắt anh ta uống một trăm miligam...”
“Tôi không bảo ông phải làm gì”, chánh án Miller ngắt lời viên luật sư mù.
Vào 8 giờ 45 phút sáng hôm sau, Ron Williamson bị giải đến tòa. Chánh án Miller nói với anh:
“Thưa ông Williamson, hôm qua ông có đề nghị cho ông vắng mặt trong phiên xét xử sơ thẩm.”
“Bây giờ tôi cũng vẫn muốn như thế.” Ron nói. “Tôi không có gì liên quan đến vụ án mạng này. Tôi không giết cô ấy. Tôi cũng không biết ai giết. Tôi không biết gì về vụ án ấy.”
“Thôi được, về thái độ của ông và cách phản ứng mạnh của ông, thì ông có quyền được có mặt trong phiên tòa xét xử, nhưng ông phải hứa là sẽ không phá bĩnh và gây mất trật tự. Vậy xin hỏi, ông có muốn có mặt trong phiên xét xử không?”
“Không. Tôi không muốn có mặt ở đây.”
“Và ông biết rằng ông có quyền được có mặt ở đây chứ? Để nghe các nhân chứng?”
“Tôi đã bảo tôi không muốn ngồi đây. Các ông muốn làm gì thì làm, tôi không giúp gì được cho các ông đâu. Tôi ngán cái trò bẩn thỉu này lắm rồi. Tôi đang rất buồn nôn. Tôi không muốn có mặt ở đây thêm nữa.”
“Thôi được. Đấy là nguyện vọng của ông. Tòa hỏi lại một lần nữa: Ông thật sự không muốn có mặt trong phiên tòa xét xử?”
“Đúng thế.”
“Và ông cũng không yêu cầu có quyền đối chất với các nhân chứng theo đúng luật tố tụng Hoa Kỳ?”
“Đúng thế. Các ông muốn ghép tôi vào cái tội tôi không gây ra. Vậy thì các ông muốn làm gì tôi cứ làm.” Rồi Ron nhìn thám tử Gary Rogers nói: “Ông nạt tôi. Ông có thể kết tội tôi sau bốn năm rưỡi hành hạ tôi đủ kiểu. Các ông làm thế được vì tất cả các ông đều có quyền hành, trong khi tôi thì không.”
Ron bị giải về nhà tù, và phiên xét xử sơ thẩm tiếp tục bằng lời xác nhận của thanh tra Dennis Smith. Tiếp đến là thám tử Gary Rogers miêu tả tỉ mỉ quá trình điều tra. Rồi đến hai chuyên gia phân tích của Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma là Melvin Hett và Mary Long xác nhận về tính chất các mẫu sinh học thu thập được của những người có liên quan đến vụ án: dấu vân tay, mẫu máu, mẫu nước bọt, mẫu lông tóc, và mẫu chữ viết.
Đến lượt bên bào chữa đưa các nhân chứng của mình, tất cả đều là nhân viên coi sóc nhà tù hoặc người được họ ủy quyền. Không một người nào trong số này còn nhớ có nghe thấy điều gì hao hao giống những điều Terri Holland khai là chị ta đã nghe thấy được.
Khi phần đưa ra các bằng chứng kết thúc, hai luật sư Barney Ward và Greg Saunders đề nghị tòa bác bỏ lời buộc tội về cưỡng hiếp vì việc ấy xảy ra đã quá ba năm, theo quy định của bộ luật tố tụng bang Oklahoma. Chỉ riêng tội giết người không có quy định thời hạn còn các tội khác đều có quy định. Chánh án Miller nói sẽ lui vấn đề này lại sau.
Thái độ của bị cáo Dennis Fritz gần như lẩn tránh. Mũi dùi của ủy viên công tố Bill Peterson rõ ràng tập trung vào Ron Williamson. Các nhân chứng giá trị nhất của ông ta là Glen Gore, Terri Holland, thám tử Gary Rogers (cùng với lời thú tội bằng giấc mộng), tất cả bọn họ đều đưa ra những bằng chứng chống lại Ron Williamson. Chỉ có một bằng chứng duy nhất gắn Dennis Fritz vào với Ron Williamson là kết quả phân tích lông tóc, do chuyên gia Melvin Hett thực hiện.
Luật sư Greg Saunders lý luận dài và mạnh mẽ. Ông ta cho rằng nhà nước không thể dựa vào “khả năng có thể có” mà kết luận Dennis Fritz liên quan đến vụ án mạng. Chánh án Miller nói sẽ chú ý đến ý kiến này để tham khảo sau này.
Luật sư Barney bổ sung vào ý kiến của đồng nghiệp, nhưng đi xa hơn. Ông đề nghị bác bỏ mọi sự kết tội vì chưa có bằng chứng nào cụ thể và có sức thuyết phục. Luật sư Greg Saunders tiếp lời, nói thêm về điều ấy. Khi chánh án Miller chưa trả lời được ngay thì ông ta trả lời chung chung, cho rằng lập luận của bên bào chữa rất có giá trị. Thấy vậy, các cảnh sát và bên công tố hiểu rằng cần tìm thêm bằng chứng.
***
Các chuyên gia khoa học kỹ thuật có sức nặng to lớn trong các phiên tòa xét xử, nhất là tại các thành phố nhỏ và thị trấn. Và khi họ là những viên chức nhà nước và được bên công tố đề nghị xác nhận điều gì đấy để bác bỏ lập luận của các luật sư bào chữa, thì ý kiến của họ thường là những ý kiến quyết định cuối cùng.
Hai luật sư Barney Ward và Greg Saunders biết rằng kết quả phân tích dấu vân tay và mẫu lông tóc của Phòng xét nghiệm thuộc Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma là không đáng tin, nhưng muốn bác bỏ, hai ông cần có sự trợ giúp. Hai ông có thể yêu cầu đối chất, nhưng hai ông cũng biết rằng nếu đối chất, bên luật sư bào chữa khó thắng. Các chuyên gia đã khẳng định thì các thành viên hội đồng xét xử dễ nghiêng ngả. Bên bào chữa hiểu ra rằng muốn thắng, cần có một hoặc hai chuyên gia khoa học am tường ngồi cùng bàn với họ.
Hai luật sư bào chữa bèn đưa ra đề nghị xin được trợ giúp về mặt này. Trong việc xét xử, thường hay có những đề nghị kiểu này nhưng ít khi được thực hiện. Mời chuyên gia tất sẽ tốn kém, và nhiều quan chức địa phương, kể cả thẩm phán, chánh án, rất ngại chi tiền thuế của dân, nhất là chỉ để bên bào chữa giành ưu thế.
Đề nghị trên được đưa ra bàn cãi. Người ta viện ra đủ lý lẽ, chỉ một điều duy nhất không được đưa ra là tật mù của luật sư Barney. Nếu có ai cần sự trợ giúp trong việc phân tích dấu vân tay và mẫu lông tóc, thì người ấy hẳn là luật sư Barney Ward.