Khi đội bóng đi đấu nơi xa, không ở nhà, thì các nghi thức công việc hàng ngày ở sân bóng này rất nhẹ nhàng. Không có không khí tấp nập náo nhiệt của đám khán giả lúc nào cũng ầm ĩ và đám nhà báo với những cỗ máy thu hình cồng kềnh. Chỉ có các nhân viên làm vệ sinh hàng ngày, vài cỗ máy xén cỏ chạy kêu ro ro.
Năm mươi bảy ngàn ghế ngồi trên khán đài bỏ trống. Đây là sân của câu lạc bộ bóng chầy Yankee nổi tiếng.
Hai mươi nhăm năm sau cái ngày lẽ ra Ron phải đến đây để tiếp tục tập luyện và thi đấu, thì hôm nay anh lại đến đây trong quang cảnh vắng lặng của một sân bóng đang thời gian nghỉ vì đội bóng đi đấu nơi xa. Ron bước lên các bậc, dừng lại ngắm toàn cảnh sân bóng quen thuộc ngày xưa, hít cái không khí mát lạnh vào lồng ngực đang hừng hực của mình. Thời tiết mùa xuân dễ chịu biết bao. Bầu trời xanh trong, cao vút. Mùi cỏ mới cắt đưa lên thơm phức. Tất cả gợi lại bao nhiêu sân bóng khác, bao nhiêu trận đấu khác, bao nhiêu ước mơ thuở xa xưa.
Đây là đền thờ của môn bóng chầy, là nơi Ron đã từng tung hoành. Hôm nay anh đội lại chiếc mũ thành viên câu lạc bộ Yankee, một kỷ niệm xưa, và mặc chiếc áo vét thể thao duy nhất chị Annette còn giữ được, khoác bên ngoài chiếc áo choàng thể thao màu xanh nước biển chị Annette vừa vội vã mua trước đây hai tuần lễ, thắt chiếc cà vạt và mặc chiếc quần duy nhất anh có. Tuy nhiên đôi giầy thì đã được thay. Bây giờ Ron không còn cái thú ăn diện nữa. Anh đã quen gặp thứ gì mặc thứ nấy. Và tuy đã một lần anh làm chân chào hàng cho một hiệu thời trang và bình luận về trang phục một cách thành thạo ít ai bằng, khổ người ông nên mặc quần gì, áo gì chẳng hạn. Mười hai năm trong tù đã thay đổi hẳn con mắt thẩm mỹ của Ron đối với áo quần.
Dưới mũ là một mớ tóc gần bạc hết, dày và rối bù. Năm nay Ron bốn mươi sáu tuổi, nhưng trông anh già hơn thế rất nhiều. Anh sửa lại chiếc mũ cho ngay ngắn rồi bước xuống sân cỏ. Anh cao một mét chín và tuy thân thể anh bị suy kiệt và méo mó do hai chục năm sống trác táng, nghiện ngập và bừa bãi, nhưng nhìn anh người ta vẫn thấy vết tích của một thân hình lực sĩ.
Ron đi qua một bãi cỏ dại rồi ra một lối đi đầy bụi bẩn, lên một quả đồi. Anh đứng lại, quay nhìn những hàng ghế sơn màu xanh nước biển trên khán đài, lắc đầu. Anh nhớ lại bao nhiêu kỷ niệm thời trẻ: Những huấn luyện viên đã từng dạy anh, những ngôi sao bóng chầy nổi tiếng, những thần tượng mà anh đã từng sùng bái và ôm ước vọng một ngày kia sẽ thay chân họ để rồi anh, Ron Williamson, sẽ thành thần tượng của lớp trẻ,
Anh bước ra phía bên kia khán đài, nơi đặt tượng đài của những cầu thủ vĩ đại nhất trong lịch sử đội bóng chầy của câu lạc bộ Yankee.
Danh thủ Mickey cũng có ở đây.
Luật sư Mark Barrett đứng dưới chân khán đài. Ông cũng đội mũ vải, nhìn thân chủ của mình, thử đoán xem lúc này Ron đang nghĩ gì. Thả một con người ra khỏi nhà tù, nơi anh ta đã nằm mười hai năm oan uổng, vậy mà nhà chức trách không có được một lời xin lỗi, bởi không ai đủ gan công nhận mình sai, cũng không có tiễn đưa, mà chỉ mở cổng cho ra rồi anh muốn đi đâu mặc anh, không cần biết. Không có bồi thường, không có một thư của Thống đốc hoặc một quan chức nào khác, không đưa tin trên tờ Công báo. Hai tuần lễ anh bị sa vào giữa một cơn xoáy lốc của các phương tiện truyền thông, và mỗi người đòi xẻo lấy một mẩu trong con người anh.
Đáng phục là Ron không hề kêu ca phàn nàn. Anh và Dennis còn đang mải tận hưởng niềm sung sướng của tự do, của giải thoát. Có thể họ sẽ kêu ca phàn nàn, nhưng phải rất lâu về sau, rất lâu sau khi đám truyền thông đã hút hết nhụy của họ, bỏ đi để chạy theo một con mồi mới khác.
Luật sư Mark Barrett đang đứng gần con hào, vừa nhìn Ron vừa trò chuyện với những người khác. Vốn là một người hâm mộ đội bóng câu lạc bộ Yankee, ông đã gọi điện thoại đến một loạt nơi để tổ chức cuộc thăm viếng sân bóng ngày hôm nay. Hiện ông đang là khách ngắn ngày của thành phố New York.
Máy ảnh chớp liên tiếp. Máy thu hình quay tới tấp các cảnh Ron Williamson trên khán đài, Ron Williamson trên mô đất... Sau lưng Ron, cách vài bước chân là Annette, chị bám theo em ở mọi nơi để chăm sóc. Chị không phải người hâm mộ bóng chầy mà thứ duy nhất trong đầu óc chị lúc này là giữ cho tinh thần em chị luôn sảng khoái. Trong khi ấy thì Ron đang giận chị vì đêm qua chị ngăn trở, không cho anh uống rượu.
Nhóm của họ, ngoài Ron còn ba người nữa: Dennis, Greg Wilhoit và Tim Durham. Cả bốn đều là tù nhân được minh oan, đều được nêu tên và ảnh lên báo Chào buổi sáng nước Mỹ. Đài truyền hình ABC tài trợ toàn bộ phí tổn cho chuyến đi này. Đi theo đoàn có phóng viên Jim Dwyer của báo Tin tức New York hàng ngày.
Họ đứng lại giữa sân bóng. Phía bên kia là Công viên Tượng đài, có những tượng bán thân lớn của Ruth và Gehrig, Mantle và DiMaggio, và hàng chục tấm bảng đồng ghi tên những danh thủ khác của câu lạc bộ Yankee.
Ron đến gần bức tượng bán thân của Mantle, đọc bản tiểu sử tóm tắt của ông. Anh vẫn còn nhớ số điểm Mantle ghi được trong những trận đấu vinh quang nhất của câu lạc bộ Yankee mà cũng là vinh quang nhất của ông. Những số liệu ấy Ron thuộc lòng từ khi còn rất nhỏ, còn chơi bóng với đám trẻ ngoài phố.
Năm cuối cùng Ron là thành viên của câu lạc bộ Yankee là năm 1977, đội Fort Lauderdale, hạng A. Chị anh, Annette vẫn còn giữ một số ảnh chụp Ron trong bộ đồng phục cầu thủ của câu lạc bộ Yankee. Chao ôi, năm 1977. Năm ấy Ron mười bốn lần ra sân, ghi ba mươi ba bàn, thắng hai trận, thua bốn trận và bị chấn thương khiến câu lạc bộ loại anh ra một cách đơn giản khi mùa giải kết thúc.
Đoàn lại đi tiếp. Ron dừng lại trước tấm biển đồng kỷ niệm Reggie Jackson. Lúc này người giới thiệu đang nói về sân bóng này, rộng bao nhiêu, dài bao nhiêu, chứa được bao nhiêu khán giả...
Annette thầm nghĩ, kể cũng buồn cười. Hồi còn nhỏ, mới ở tuổi thiếu niên thời, em trai chị đã mơ ước lớn lên sẽ nổi tiếng và sẽ được nhiều ngọn đèn pha rọi vào và đủ các loại ống kính chiếu vào để chụp ảnh và quay phim... Thì bây giờ cái mơ ước ấy đã thành hiện thực đấy thôi? Cũng có bao nhiêu đèn pha rọi vào và bao nhiêu ống kính máy ảnh và máy thu hình chiếu vào. Và tuy nguyên nhân có khác nhau, nhưng Ron cũng thành người nổi tiếng rồi còn gì.
Nghĩ đến đấy, chị lại nhớ, mới một tháng trước đây, Ron còn nằm trong bệnh viện tâm thần và không biết liệu có ra được không? Còn trước đấy, em trai chị nằm trong xà lim, hai tay bị còng, hai chân bị xích...
Chị nhìn cậu em. Trông Ron thẫn thờ thật tội nghiệp.
Ron nói với Mark Barrett: “Suốt cả cuộc đời, thứ tôi mơ ước nhất là làm cầu thủ bóng chầy.” Lát sau, anh mỉm cười nhìn người luật sư, nói thêm: “Còn bây giờ thì thứ tôi mơ ước nhất là một ly bia ướp lạnh.”
Bữa tiệc đang chờ họ ở New York.
Sau sân bóng của câu lạc bộ Yankee, cả đoàn kéo đến Thế giới Disney. Tại đây một công ty truyền hình Đức đã trả tiền để thuê ba buổi tối vui chơi giải trí. Nhiệm vụ Ron và Dennis phải làm chỉ là kể lại câu chuyện của họ. Dân Đức vốn quan tâm nhiều đến án tử hình nên nghe rất chăm chú. Trong khu vui chơi Disney, nơi Ron thích nhất là Epcot, tại chỗ gọi là “làng Đức”, nơi đây có bia xứ Bavaria, tha hồ uống đến không thể uống được nữa thì thôi.
Đoàn bay đến Los Angeles... Lại đón tiếp, lại kể chuyện. Chuyến đi kéo dài nhiều ngày nhưng rồi cuối cùng cũng phải kết thúc. Cả nhóm: Ron, Annette, Mark, Dennis, Elizabeth, và Sara Bonnell quay về nhà.
Nơi Ron không muốn đặt chân nhất lại chính là thị trấn Ada.
Anh ở lại nhà chị Annette và bắt đầu quá trình gay go là thích ứng dần với cách sinh hoạt của gia đình chị.
Chị Annette thường xuyên kiểm soát việc uống thuốc của Ron, vì vậy chỉ sau một thời gian bệnh tâm thần của Ron đã giảm rất nhiều. Anh đã gần trở lại là người bình thường. Nhưng bây giờ anh vẫn còn ngủ rất nhiều, thức dậy là vớ cây ghi-ta đàn và hát. Đêm vẫn mơ thấy mình thành ca sĩ nổi tiếng.
Chị Annette hạn chế Ron, không cho em uống rượu và Ron hầu như không ra khỏi nhà chị.
Nỗi sợ lại bị bắt, lại bị kết án và lại phải vào tù vẫn ám ảnh Ron, khiến anh luôn ngoái đầu nhìn lại phía sau, và mỗi tiếng động to đều làm anh giật mình. Không chỉ ủy viên công tố Bill Peterson và đám cảnh sát, mà cả dân chúng cũng vẫn còn nhiều người tin rằng Ron Williamson chính là thủ phạm vụ án mạng, chỉ là nhà chức trách chưa tìm đủ bằng chứng để kết tội đấy thôi.
Ron rất muốn ra phố, nhưng anh không có tiền. Anh không thể đi làm và cũng không bao giờ nói đến chuyện tìm công ăn việc làm. Anh không có bằng lái ô tô, lại lười nhác, rất ngại đọc tài liệu huấn luyện và ngại thi lấy bằng.
Chị Annette liên hệ với Sở xã hội, đòi số tiền trợ cấp thương tật cho em. Bởi từ ngày đi tù, các khoản trợ cấp thương tật bị đình chỉ. Sau những vận động vất vả, chị Annette đã xin được cho em một khoản trợ cấp, tính toàn bộ là 60.000 đô la, nhưng nếu chỉ lấy ra phần lãi thì mỗi tháng được 600 đô la.
Được khoản tiền, Ron cảm thấy mình như đã thành triệu phú và anh đòi được làm theo ý mình. Trước hết anh rất muốn rời khỏi thị trấn Ada, thậm chí rời khỏi cả bang Oklahoma. Con trai một của chị Annette tên là Michael sống ở thành phố Springfield, bang Missouri. Chị bàn với con trai làm cách nào để cậu Ron chuyển đến cư trú ở thành phố ấy. Họ bỏ ra 20.000 đô la mua một căn nhà lưu động, một kiểu rơ moóc rộng, có thể mắc vào xe tải kéo đi được, nhưng người ta thường để ở một chỗ cố định, dùng làm nhà ở. Căn nhà lưu động của Ron có hai phòng ngủ. Thế là Ron chuyển đến đấy ở.
Tuy nhiên, điều khiến chị Annette lo lắng nhất là nếu để Ron ở một mình, không có ai bên cạnh kiềm chế thì không biết rồi sẽ ra sao. Nhưng không có cách nào khác. Lúc dọn nhà xong, Annette ra về, chị đã thấy Ron ngồi trước máy thu hình mới mua, vẻ mặt mãn nguyện. Ba tuần lễ sau, chị quay lại xem em ăn ở ra sao đã thấy Ron ngồi giữa cả một đống lon bia rỗng quăng bừa bãi xung quanh.
Khi không ngủ, không uống bia rượu, không nói chuyện điện thoại hoặc chơi đàn ghi-ta, thì Ron la cà ở siêu thị Wal Mart kiếm bia và thuốc lá.
Thời gian đầu sống một mình, Ron bị ám ảnh bởi việc trả lại tiền những ai đã cho anh vay những năm qua. Để dành tiền là một ý nghĩ nực cười. Anh nghĩ thế nên vung tiền khắp nơi. Ron lại dễ xúc động trước lời kêu gọi trên truyền hình, hãy cứu những đứa trẻ bất hạnh, những phụ nữ cô đơn, những ông già bệnh tật... và anh hay gửi tiền đến cúng quỹ cứu trợ.
Hóa đơn điện thoại thật khủng khiếp. Ron gọi điện cho hai chị, Annette và Renee, hai luật sư Mark Barrett và Sara Bonnell, Greg Wilhoit, các luật sư trong Tổ chức minh oan cho những người nghèo, chánh án Tom Landrich, cậu bạn thuở trẻ Bruce Leba, thậm chí anh gọi điện cho cả những quản giáo nhà tù. Ron luôn cảm thấy phấn hứng, vì được sống tự do, nhưng cứ sau một cuộc đàm thoại, anh lại thấy căm Ricky Joe Simmons. Anh không quan tâm đến việc thử DNA của Glen Gore. Anh đòi phải bắt ngay Ricky Joe Simmons về tội “cưỡng hiếp bằng dụng cụ hết sức tàn bạo và man rợ, rồi lại còn giết cô Debbie Carter tại nhà cô số 1022, Phố số Tám, Đông, ngày 8 tháng Mười hai năm 1982!” Mỗi câu chuyện đàm thoại của Ron đều nhất thiết phải chứa hai lần cái câu trên, và anh kiên quyết đòi nhà chức trách phải bắt ngay Ricky Joe Simmons.
Lạ một điều là Ron gọi điện cho cả mẹ của cô Debbie Carter, bà Peggy Stillwell, và chẳng bao lâu, giữa hai người hình thành một mối quan hệ thân thiết qua điện thoại. Ron khẳng định với bà là anh không hề gặp con gái bà và bà Peggy tin lời Ron nói. Mười tám năm sau khi mất con gái, bà vẫn chưa nói được lời vĩnh biệt với con. Bà tâm sự với Ron là suốt ngần ấy năm, lúc nào bà cũng đinh ninh rằng người ta sẽ không tìm ra kẻ đã giết con gái bà. Không bao giờ.
***
Quy tắc chung Ron đề ra cho bản thân là tránh xa các quán rượu và các phụ nữ dễ dãi. Tuy nhiên, đã có một lần anh bị “cháy”. Hôm ấy anh đang đi trên vỉa hè thì một xe ô tô đỗ luôn bên cạnh, hai cô gái ngồi trong ấy tươi cười mời anh lên. Ron cũng không hiểu tại sao hôm ấy mình lại dễ dàng lên xe người khác đến thế. Họ ghé vào các nhà hàng, quán rượu... cuối cùng kéo về nhà Ron. Một cô thấy gói tiền mặt để dưới gậm giường, liền cuỗm luôn. Khi Ron phát hiện ra mất 1.000 đô la, anh mới hối hận và từ đấy anh cạch quan hệ với những cô gái không quen biết.
Luật sư Mark Barrett mỗi tuần đến thành phố Spring Field thăm Ron hai lần, và thường ngủ lại qua đêm. Ông rất lo thấy bệnh hoang tưởng của Ron không giảm, đồng thời Ron cũng uống bia rượu ngày càng nhiều. Đặc biệt ông rất ngại về con dao. Chẳng là đêm nào Ron cũng để con dao bầu ở trên giường, ngay bên cạnh, đề phòng khi cần có thể vớ được ngay.
Ron cô độc và luôn sợ hãi.
Bạn anh, Dennis cũng không thoải mái hơn. Anh trở về thành phố Kansas City rồi đến sống với mẹ trong ngôi nhà nhỏ của bà trên đại lộ Lister. Lần cuối cùng anh nhìn thấy ngôi nhà này thì nó đang bị một đội đặc nhiệm canh gác xung quanh.
Sau khi được tạm tha nhiều tháng trời, Glen Gore vẫn chưa bị xét xử. Cuộc điều tra vẫn giậm chân tại chỗ, có vẻ cảnh sát không tha thiết gì đến việc này. Theo Dennis hiểu, thì anh và Ron vẫn bị nhà chức trách thị trấn Ada để lại trong danh sách tình nghi là thủ phạm của vụ án mạng cô Debbie Carter. Vì bị ý nghĩ ấy ám ảnh, nên hễ nhìn thấy xe cảnh sát là Dennis lại như xỉu đi: Mỗi lần ra khỏi nhà, anh đều ngoái nhìn phía sau lưng. Mỗi lần chuông điện thoại reo, anh lại giật nảy mình.
Dennis đến Spring Field thăm Ron và ngạc nhiên thấy sao bạn uống nhiều bia rượu đến thế. Đôi bạn định vui vẻ nhắc lại những kỷ niệm ngày xưa, nhưng Ron chỉ mải nốc bia rượu. Anh không chỉ là cây bia rượu mà còn là một con người tính nết rất khó chịu. Ron thường ngủ đến giữa trưa mới dậy, uống một chầu bia thay điểm tâm rồi bắt đầu chơi đàn ghi-ta và hát.
Hai người rủ nhau đi lang thang suốt một buổi chiều, uống bia và hưởng cái thú tự do. Ron chơi đàn ghi-ta. Còn Dennis thì lái hết sức cẩn thận. Anh không thuộc đường phố Spring Field và rất ngại gặp phải cảnh sát. Ron bảo hãy dừng lại tại một hộp đêm nào đấy. Dennis không tán thành, cho rằng vì Ron chưa quen biết hộp đêm này và cũng chưa quen nhân viên bảo vệ ở đây. Hai bên tranh luận, đâm thành to tiếng, thế là thôi, đành quay về cái rơ moóc vậy.
Ron mơ ước biểu diễn trên sân khấu, rồi bán album và trở nên nổi tiếng. Dennis buộc phải bảo bạn rằng giọng anh rất khàn và trình độ chơi đàn ghi-ta lại chưa ra sao. Đồng thời anh cố thuyết phục bạn giảm uống bia rượu. Ron đang béo lên và Dennis khuyên anh nên tập thể dục và bỏ thuốc lá nữa.
Ron không cãi nhưng vẫn uống. Được ba ngày thì Dennis quay về Kansas City. Mấy tuần sau, nhân luật sư Mark Barrett có việc qua đây ghé vào thăm, Dennis bèn rủ luôn ông cùng đến thăm Ron. Hai người kéo Ron đến một quán giải khát. Thế là Ron bước lên cái bục nhỏ của quán, cầm ghi-ta chơi và hát những ca khúc của Bob Dylan để lấy tiền thưởng của khách. Tuy số người trong quán không đông lắm và họ quan tâm đến ăn và uống hơn là nghe đàn hát, nhưng Ron vẫn biểu diễn và rất lấy làm thích thú.
Để có việc làm cho khỏi nhàn rỗi quá, và cũng để kiếm thêm ít tiền, Dennis nhận nướng thịt băm viên cho một nhà hàng và nhận số tiền công ít ỏi. Do suốt mười hai năm ngồi tù, đã vùi đầu vào đọc sách luật nên ngày nay anh không bỏ được thói quen ấy. Luật sư Bany Scheck khuyến khích anh xin học trường Luật và còn hứa giúp anh để được vào học trường Đại học Tổng hợp bang Missouri đóng tại thành phố Kansas City ngay gần đó. Dennis bèn học để thi vào nhưng rồi lại chán.
Dennis bị mắc những triệu chứng “hậu stress” và đôi khi sức ép làm anh yếu hẳn đi. Nỗi kinh hoàng của thời gian nằm tù luôn ám ảnh anh khiến ban đêm anh thường mơ thấy ác mộng còn ban ngày thì luôn hốt hoảng, tưởng như mình sắp bị cảnh sát lại đến bắt lần nữa. Cuộc điều tra hung thủ giết cô Debbie Carter vẫn tiếp tục, và vì cảnh sát thị trấn Ada mở rất rộng phạm vi điều tra nên Dennis luôn cảm thấy rất có thể một buổi tối nào đấy, cảnh sát sẽ gõ cửa nhà anh, hoặc anh lại bị cảnh sát đặc nhiệm tấn công lần nữa. Dennis bèn kiếm sự giúp đỡ về nghiệp vụ.
Luật sư Barry Scheck đưa ra ý tưởng thảo một đơn khiếu nại dài và đầy đủ chi tiết cũng như các chứng cứ, tố cáo những kẻ tạo dựng và thực hiện một vụ án trái với công lý. Thế là Dennis tập trung suy nghĩ về ý tưởng đó.
Dennis thấy hé ra một cuộc đấu tranh ở phía trước, và anh hào hứng tiến về phía ấy.
***
Cuộc sống của Ron lại theo một chiều hướng ngược lại. Anh có cách cư xử không bình thường khiến người xung quanh chú ý. Thế rồi anh lại cầm con dao bầu đi đi lại lại quanh căn nhà lưu động của mình, tuyên bố lão Peterson và đám cảnh sát thị trấn Ada đang theo dõi anh. Anh phải tự bảo vệ chứ không chịu vào tù lần nữa.
Chị Annette nhận được giấy báo họ sẽ bị đuổi đi khỏi đây. Khi Ron từ chối không trả lời điện thoại của chị, chị xoay được một cái lệnh của tòa án buộc Ron phải đi kiểm tra sức khỏe tâm thần.
Ron đang ngồi uống bia và xem truyền hình trong căn nhà lưu động, cửa ra vào và cửa sổ đều che kín mít, thì đột nhiên nghe thấy tiếng loa gọi vào “Giơ hai tay lên và ra đây!” Anh ngó nhìn qua khe cửa ra ngoài, thấy cảnh sát đứng lố nhố, nghĩ rằng cuộc đời mình thế là lại hỏng. Lại sắp vào ngồi trong khám tử tù đây.
Cảnh sát sợ Ron không kém gì anh sợ họ, nhưng cả hai bên đều tìm được một vùng đất phi quân sự. Ron không bị đưa trả về khám tử tù mà buộc phải đến một bệnh viện tâm thần để kiểm tra.
Căn hộ lưu động của anh, thực chất là một rơ moóc lớn, mới sử dụng được một năm nhưng đã nát bươm và bị đem bán. Sau thời gian điều trị, khi Ron chuẩn bị ra viện, thì chị Annette cố tìm một chỗ để cậu ở. Chiếc giường duy nhất chị có thể tìm được là trong một bệnh viện tư nhân nhỏ, ở ngoại vi thành phố Spring Field. Chị bèn đến bệnh viện nơi Ron nằm, đóng gói đồ đạc rồi chở em đến Trung tâm điều dưỡng quận Dallas.
Thời gian đầu, Ron vui vẻ chấp nhận chế độ sinh hoạt hàng ngày, uống thuốc đều đặn, đúng giờ, và bỏ bia rượu. Sức khỏe anh trở lại ổn định, nhưng chẳng bao lâu, anh thấy yếu dần do xung quanh rất nhiều bệnh nhân già yếu ngồi xe lăn thường xuyên qua lại. Lúc đầu anh còn than phiền, nhưng về sau không chịu nổi, khiến chị Annette phải tìm một nơi khác ở thị trấn Marchfield, bang Missouri. Nhưng nơi này cũng lại đầy những người già ốm yếu. Ron mới bốn mươi bảy tuổi. Sao anh lại phải sống giữa những người già lão, ốm o kia? Ron đưa câu hỏi ấy ra vớí chị Annette bao nhiêu lần, khiến cuối cùng chị đành lại kiếm nơi khác cho cậu em vậy. Nhưng rồi không kiếm được, chị đành đưa em trở lại bang Oklahoma.
Ron nhất định không quay về thị trấn Ada, ở đây ai cần đến anh đâu? Annette bèn để em ở thành phố Oklahoma City, thủ phủ của bang. Chị tìm được một chỗ ngủ, trong một nhà họ cũ kỹ, tên là Harbor House, chuyên dành cho những khách cần ở lại thành phố này một vài ngày rồi lại đi. Nhà trọ này cấm uống bia rượu, do đấy Ron nhịn bia rượu được vài tháng liền.
Luật sư Mark Barrett đến nhà trọ Harbor House thăm Ron nhiều lần và biết anh sẽ không trụ ở đây được lâu. Mà ai ở đây được lâu đâu? Đây chỉ là nơi để sống tạm bợ một hoặc hai ngày mà thôi.
***
Nhiều tháng đã trôi qua, Glen Gore vẫn chưa bị kết án giết người. Cuộc điều tra mới tiến hành cho thấy cũng có triển vọng như mười tám năm về trước.
Cảnh sát thị trấn Ada, các ủy viên công tố và cả Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma đều có trong tay kết quả thử DNA cho thấy chính Glen Gore là thủ phạm đã cưỡng hiếp và giết cô Debbie Carter, nhưng họ nhất định không chịu quy tội cho gã, nại rằng “chưa đủ bằng chứng”. Vậy thế nào mới là đủ bằng chứng?
Ron và Dennis vẫn chưa được nhà chức trách thị trấn Ada loại hẳn ra khỏi danh sách nghi can của vụ án mạng cô Debbie Carter. Và tuy hiện giờ cả hai anh đều được tự do, nhưng vẫn có một đám mây đen lơ lửng trên đầu, bất cứ lúc nào cũng có thể chụp xuống đầu họ, rồi họ sẽ lại lập tức bị đưa ra tòa, bị buộc tội giết cô Debbie Carter và tống giam vào khám tử tù. Sau một năm sống trong lo sợ, hai người quyết định phản công.
Cho dù có ủy viên công tố Bill Peterson, có cảnh sát thị trấn Ada, và bang Oklahoma bỏ qua cho sự làm trái công lý, thì cũng không thể cứ chịu đựng mãi. Ron và Dennis quyết định phản công: Kiện lại!
***
Tháng Tư năm 2000, đồng nguyên đơn Ron Williamson và Dennis Fritz đệ đơn kiện bang Oklahoma. Bị đơn là thị trấn Ada, quận Pontotoc, ủy viên công tố Bill Peterson, thanh tra Dennis Smith, John Christian, Mike Tenney, Glen Gore, Tem Holland, James Harjo, bang Oklahoma, Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma, các quan chức và nhân viên của Cục Điều tra Hình sự Gary Rogers, Rusty Featherstone, Melvin Hett, Jerry Peters và Larry Mullins, rồi các quan chức và nhân viên của Cục Phạm nhân Gary Maynard, Dan Reynolds, James Saffle, và Larry Fields.
Đơn kiện được ghi vào sổ của tòa án Liên bang Hoa Kỳ với tính chất là một đơn kiện về luật hành chính, vì đã vi phạm các điều Bốn, điều Năm, điều Sáu, điều Tám và điều Mười bốn trong lời Kiến nghị bổ sung vào Hiến pháp Hoa Kỳ. Đơn có đề nghị đích danh thẩm phán tòa án Tối cao Seay đứng ra xét xử. Tuy nhiên về sau ông thẩm phán Seay đã khước từ.
Đơn tố cáo các bị đơn đã phạm các tội: 1) Tạo chứng cứ giả để buộc tội, thực tế không có cho các nguyên đơn, 2) Đồng lõa trong việc bắt giam không có lý do chính đáng và tiến hành xét xử không theo đúng quy trình xét xử, 3) Xử sự gian dối, 4) Cố tình tạo hiệu ứng gây hoang mang, 5) Làm việc đại khái trong phiên tòa, 6) Tạo một phiên tòa gian dối.
Phần khiếu nại và kiện hệ thống giam giữ tù nhân nêu rõ việc Ron Williamson bị hành hạ tại khám tử tù, và các quan chức nhà tù lờ đi, coi như không biết căn bệnh tâm thần của Ron Williamson... Sau khi được minh oan và trả lại tự do, các tù nhân không được nhận một khoản bồi thường nào, vân vân và vân vân.
***
Chặng tiếp theo của Ron, vào tháng Bảy năm 2001, là Viện Y học Chuyển tiếp tại thành phố Norman. Đây là một Trung tâm nhằm phục hồi sức khỏe bằng biện pháp môi trường, rèn luyện và tập tành, mục đích sau một thời gian có thể trở về cuộc sống bình thường và thích ứng được với các điều kiện mới.
Bước một là một chương trình dài mười hai tháng. Bệnh nhân ngủ trong những phòng ngủ lớn, cùng với các bệnh nhân khác và tuân theo một loạt quy tắc. Một trong những bài tập là học cách lên xuống và chuyển xe buýt, đi lại, di chuyển trong khắp thành phố. Nấu ăn, giặt giũ, chăm sóc thân thể, vệ sinh cá nhân cũng đều được dạy cẩn thận, chu đáo. Ron đã biết cách khuấy trứng cho lòng trắng trộn đều với lòng đỏ, đã biết làm một chiếc bánh sandwich.
Anh thích quanh quẩn ở gần phòng và chỉ ra xa một chút khi nào cần hút thuốc lá. Sau bốn tháng, anh vẫn chưa hình dung nổi hệ thống xe buýt của thành phố.
Bạn gái thuở nhỏ của Ron tên là Debbie Keith. Cha cô là linh mục, muốn gả con gái cho một linh mục nên ông không muốn con chơi với Ron. Anh của Debbie tên là Mickey Keith cũng theo con đường của cha, làm mục sư tại đền thờ Kinh Phúc âm, chính là nơi bây giờ chị Annette thường xuyên đến cầu kinh. Do được Ron tha thiết yêu cầu và do chị Annette thúc ép, cha Mickey Keith đến thành phố Norman, tìm đến Viện Y học Chuyển tiếp.
Ron tỏ ra rất tha thiết với việc trở lại tôn giáo Ki tô và cải tạo bản thân. Thâm tâm anh hoàn toàn tin vào Chúa. Anh vẫn nhớ đầy đủ những đoạn trong Kinh Phúc âm anh học thuộc lòng từ thuở nhỏ. Tuy đã phạm nhiều lỗi lầm nhưng Ron vẫn tha thiết được về với Chúa.
Cha Keith nói chuyện với anh và cùng anh cầu nguyện. Cha yêu cầu Ron viết một lá đơn, xin trở về trong lòng Chúa và hứa sẽ cải tạo con người, từ bỏ những thói hư tật xấu nhiễm phải trong thời gian qua. Ron làm theo và anh thấy lòng mình trở nên thanh thản.
Mấy tháng đầu, mọi chuyện diễn ra suôn sẻ. Ron bỏ được bia rượu và tỉnh táo hơn. Anh quyết định tham gia câu lạc bộ những người tình nguyện cai rượu.
Trung tâm Y học Chuyển tiếp nằm gần khu thương mại của thành phố Norman, và từ đấy đi đến văn phòng của luật sư Mark Barrett không xa chút nào. Ron hay đến đấy, cùng với luật sư Mark Barrett uống cà phê, trao đổi đôi chút về âm nhạc, rồi bàn xung quanh vụ kiện nhà chức trách thị trấn Ada. Thoạt đầu, Ron quan tâm đến chuyện kiện tụng vì nếu thành công, anh có thể nhận được một khoản tiền bồi thường. Mark Barrett thì khuyến khích Ron chăm chỉ đến nhà thờ và khuyên anh theo một lớp học về giáo lý của Chúa, lớp học mà vợ của ông cũng định sẽ theo học.
Ron dành hầu hết thời gian cho âm nhạc, tập hát những ca khúc của Bob Dylan hoặc một bản khác của Eric Clapton, cố để hát giống hệt như ca sĩ này. Thế rồi anh đi xin việc biểu diễn thuê ở các nhà hàng và quán giải khát xung quanh thành phố Norman và Oklahoma City.
Hội liên minh những người đòi hủy bỏ án tử hình của bang Oklahoma mời Ron đến biểu diễn ca nhạc trong một buổi liên hoan để quyên tiền cho quỹ của Hội. Trong một buổi biểu diễn, anh gặp nữ bác sĩ Susan Sharp, một giáo sư về tội phạm học tại trường Đại học Oklahoma, đồng thời là người đấu tranh rất tích cực cho việc hủy bỏ án tử hình. Chị mời Ron đến thăm lớp học của chị và anh vui vẻ nhận lời.
Hai người trở thành đôi bạn, nhưng chỉ ít lâu sau Ron đã coi Susan là bạn gái. Susan cố giữ mối quan hệ chỉ ở mức tình bạn và trên mặt bằng nghề nghiệp. Chị thấy Ron là người bị tổn thương rất nhiều cả về cơ thể lẫn tinh thần nên chị rất muốn giúp anh. Tình ái không phải là một khả năng vả lại Ron cũng không sấn sổ.
Anh vượt qua bước thứ nhất tại Trung tâm Y học Chuyển tiếp và được tuyển vào bước hai. Nếu trải qua được bước này thì Ron sẽ sang bước ba và có thể đi làm, trở lại cuộc sống bình thường như trước khi bị kết án. Rất tiếc là tình hình đã không suôn sẻ như vậy. Ron dần dần tự buông thả, bắt đầu không uống thuốc đều và thèm bia ướp lạnh. Anh lại la cà quán rượu, nhà hàng. Nơi anh thường xuyên đến nhất là quán rượu có tên là quán Deli. Đấy là nơi tụ tập của những cây rượu và đám trẻ trong phong trào gọi là “phản văn hóa”.
Rồi lại uống bia rượu và khi có chất men vào người, anh lại không đáng mến một chút nào nữa.
***
Ngày 29 tháng Mười năm 2001, Ron chính thức ký vào đơn kiện. Căn phòng của người ghi tốc ký tại Oklahoma City đông chật các luật sư, họ đang chờ nhân vật sẽ thành nổi tiếng trên toàn khu vực này.
Sau vài câu hỏi theo phép lịch sự, luật sư bào chữa thứ nhất hỏi Ron:
“Hiện ông có sử dụng thứ thuốc nào không?”
“Có.”
“Thuốc ấy có phải do bác sĩ kê đơn cho ông không?”
“Có, một bác sĩ tâm thần.”
“Ông có một danh sách hay một liệt kê các thứ thuốc hiện ông dùng không?”
“Tôi biết thứ thuốc nào tôi dùng chứ.”
“Đấy là thuốc gì?”
“Tôi đang dùng Depakote, 250 mg, bốn lần mỗi ngày; Zyprexa, uống buổi tối, ngày một lần; và Wellbutrin, ngày một lần.”
“Ông có biết những thuốc ấy để điều trị cái gì không?
“Biết. Dekapote điều tri bệnh khí chất luôn thay đổi. Wellbutrin trị chứng trầm cảm; còn Zyprexa thì trị chứng hoang tưởng.”
“Được! Một trong những điều chúng tôi quan tâm nhất hiện giờ là tác động của thuốc đến khả năng nhớ lại những chuyện đã qua của ông. Liệu chúng có tác động được như thế không?”
“Tôi không biết, bởi ông còn chưa hỏi xem tôi có nhớ điều gì đấy không.”
Thủ tục cung khai kéo dài nhiều tiếng đồng hồ và làm anh kiệt sức.
Bill Peterson, bây giờ ở cương vị bị đơn, viết một lá đơn trình bày tóm tắt xét đoán của ông ta, một thủ tục pháp lý nhằm thoát ra khỏi đơn kiện.
Các nguyên đơn tuyên bố rằng quyền miễn dịch của Bill Peterson chỉ có được khi ông ta đang làm nhiệm vụ công tố. Các nguyên đơn cũng nêu ra những thí dụ rất rõ ràng về việc Peterson bịa đặt ra chứng cứ.
Chứng cứ đầu tiên là từ bản khai làm chứng của Glen Gore, được sử dụng trong đơn kiện, trong ấy Glen Gore khai rằng Bill Peterson thực có đến xà lim của gã tại nhà tù quận Pontotoc, đe dọa gã nếu gã không chịu làm chứng chống lại Ron Williamson. Theo bản khai ấy thì Peterson có nói rằng Glen Gore sẽ có cơ hy vọng là các dấu vân tay của gã sẽ không được coi là có trong căn hộ của Debbie Carter.
Thí dụ thứ hai về tội làm giả chứng cứ cũng lại được các nguyên đơn nêu ra, là việc in lại dấu vân lòng bàn tay của nạn nhân Debbie Carter. Peterson công nhận y có gặp các chuyên gia Jerry Peters, Larry Mullins, và những nhân viên điều tra của thị trấn Ada vào tháng Giêng năm 1987 bàn về dấu vân lòng bàn tay. Peterson đưa ý kiến là y “đã cùng đường” rồi. Y gợi ý là có thể có được một bản in tốt hơn vào thời gian bốn năm rưỡi sau khi mai táng và y yêu cầu Larry Mullins và Jerry Peters xem xét lại cái kết luận lần thứ nhất. Thế là người ta khai quật thi hài lên, in lại dấu vân lòng bàn tay, và các chuyên gia đột nhiên thay đổi nhận định.
Các luật sư của Ron và Dennis thuê chuyên gia dấu vân lòng bàn tay của riêng họ, ông Bill Bailey. Ông này phát hiện ra là hai chuyên gia của Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma Larry Mullin và Jerry Peters đã bác bỏ kết luận cũ mà đưa ra những kết luận mới là do hai ông phân tích những vị trí khác nhau trên dấu vân lòng bàn tay. Bailey kết luận điều ông phân tích được bằng cách tuyên bố rằng dấu vân lòng bàn tay còn lưu lại trên tường ở hiện trường không phải của nạn nhân Debbie Carter.
Thẩm phán cấp liên bang làm chủ tọa đã bác bỏ đề nghị của Peterson xin xét xử nội bộ và theo hình thức rút gọn. Ông nói: “Một vấn đề pháp lý được đặt ra là các bị đơn Peterson, Jerry Peters và Larry Mullins cũng như những người khác, đã hành động có hệ thống trên một dụng ý được thống nhất chung là tạo ra chứng cứ giả nhằm đạt được việc vu tội cho hai nguyên đơn Ron Williamson và Dennis Fritz.”
Ngài chủ tọa phiên tòa còn nói rõ thêm như sau:
“Trong vụ án này, bằng chứng suy diễn chỉ ra rằng một mưu đồ có phối hợp bởi nhiều điều tra viên kết hợp với Peterson nhằm tước đi của các nguyên đơn một trong những quyền quy định trong hiến pháp. Tình trạng thiếu bằng chứng giảm tội được lặp lại nhiều lần trong khi lại đưa vào những chứng cứ khép tội, trong đó có cả những chứng cứ tạo ra một cách giả dối, rồi đến kết luận về sự tương tự giữa những sợi lông càng chứng minh thêm thái độ phản công lý của các bị đơn, đẩy các nguyên đơn vào tội giết người trong khi cả hai đều không giết cô Debbie Carter”.
Bản mệnh lệnh ban hành ngày 7 tháng Hai năm 2002 là một đòn mạnh đánh vào các bị đơn và làm tăng sức nặng cho lá đơn khiếu nại của Ron và Dennis.
***
Suốt trong nhiều năm, chị Renee đã cố thuyết phục chị Annette rời khỏi thị trấn Ada. Dân thị trấn này vẫn còn nghi em trai họ là thủ phạm vụ án mạng cô Debbie Carter. Rồi nhà thờ cũng đuổi họ ra. Đến nay việc vụ kiện các nhà chức trách của thị trấn thắng lợi lại càng làm mọi người trong thị trấn tăng thêm nỗi căm ghét đối với gia đình Williamson.
Chị Annette chưa nghe vì chị coi thị trấn Ada là quê gốc của chị, là “nhà” của chị. Annette đã tập được thói quen bỏ ngoài tai mọi lời nói móc, đặt điều chê bai, nói xấu bằng cách dựng đứng lên những chuyện không có. Nhờ thế chị vẫn có thể bám đất này.
Nhưng vụ kiện vừa rồi khiến Annette rất lo. Sau gần hai năm theo dõi, hai luật sư Mark Barrett và Barry Scheck cảm thấy gió đang đổi chiều và đưa họ vào thế thuận lợi. Tuy nhiên Annette thấy cũng vẫn phải rời đi.
Tháng Tư năm 2002, sau sáu năm, Annette dọn khỏi thị trấn Ada, sang sống ở thị trấn Tulsa. Tại đây chị cũng có nhiều họ hàng và chẳng bao lâu nữa, Ron sẽ về đây sống với chị.
Annette rất nóng lòng muốn đưa em đi khỏi thành phố Norman. Ron lại bắt đầu uống bia rượu trở lại, mỗi khi say, anh không giữ được mồm miệng, lại nói lung tung. Anh ba hoa về đơn kiện chính quyền của anh, về chuyện anh chơi thân với nhiều luật sư, về số tiền hàng triệu đô la, những kẻ đã kết tội anh một cách oan uổng rồi đưa anh vào tù, định hành quyết anh nữa, bây giờ phải bồi thường cho anh. Ron suốt ngày ở lì quán Deli, nếu không thì lại la cà những nhà hàng, quán rượu khác, thu hút sự chú ý của đủ loại người, những người chỉ mong trở thành bạn anh khi anh nhận được số tiền bồi thường kia.
Ron về sống với chị Annette, và anh thấy ngay rằng nhà mới của chị ở thị trấn Tulsa cũng theo đúng quy củ sinh hoạt như hồi còn ở thị trấn Ada, cụ thể là cấm bia rượu. Ron thôi uống rượu, tỉnh táo và lại chăm chỉ đi lễ nhà thờ, gần gũi với mục sư. Tại đây có một lớp học nghiên cứu Kinh Phúc âm, cách quyên tiền của họ là mỗi tháng tổ chức một bữa ăn khoai tây với thịt bò rán, để quyên tiền làm việc công đức. Ron cũng tham gia học và rất thích thú được cùng làm bếp với mọi người.
Mùa thu năm 2002, lá đơn tưởng chỉ là chuyện “kiện chơi” kia được tính ra thành nhiều triệu đô la. Do tham lam và hám quyền lực, đám có tội đã thuyết phục được là xin thương lượng với cách thức trả tiền bồi thường. Bên có tội sẽ trả đủ số tiền rất lớn kia, đổi lại, họ đề nghị không nhắc gì đến tội lỗi của họ. Thỏa thuận bí mật này được bảo đảm giữ kín bằng một nghị quyết của tòa án hẳn hoi.
Tuy nhiên điều bí mật của nó bị rò rỉ trong một quán giải khát ở thị trấn Ada, khi Hội đồng thị trấn buộc phải công khai hóa việc họ trích hơn 500.000 đô la từ quỹ dự trữ của thị trấn để góp vào khoản phải bồi thường thiệt hại cho các nguyên đơn. Nghề đời là thế, khi một điều bí mật tai tiếng đã lộ ra thì nó lan rất nhanh, từ quán giải khát này sang quán giải khát khác, đồng thời số tiền bị đồn đại cứ tăng dần, nhưng cuối cùng người ta cũng dừng lại ở con số năm triệu do phóng viên báo “Tin tức buổi chiều ở Ada" điều tra và đưa ra, theo họ nói là từ những nguồn tin yêu cầu được giấu tên.
Vì Ron và Dennis chưa được minh oan bằng một văn bản chính thức nào, nên dân chúng thị trấn Ada đa số vẫn tin rằng chính hai anh là thủ phạm vụ án mạng. Vậy mà bây giờ nhờ vụ án mạng ấy họ lại được hưởng món lợi khổng lồ.
***
Hai luật sư Mark Barrett và Barry Scheck khuyên các thân chủ của họ chỉ nên lấy trước một phần, phần còn lại đem gửi ngân hàng, mỗi tháng lĩnh ra số tiền lãi cũng đủ sống ung dung.
Nhưng Ron không có tính lo xa được như thế.
Anh thuyết phục chị Annette giúp anh tậu một ngôi nhà kiểu nhà liền kề, gần nhà chị và gần cả nhà thờ của họ. Với giá 60.000 đô la, họ mua được một căn nhà xinh xắn lịch sự, hai tầng, mỗi tầng một phòng ngủ sang trọng. Thế là Ron trở lại cuộc sống tự do phóng túng, không ai ngăn trở. Anh chỉ ổn định được vài tuần lễ. Và lỡ hôm nào chị Annette bận không đón anh đến nhà thờ được, Ron rất thích thú được thoải mái cuốc bộ một mình.
Thị trấn Tulsa là nơi đô hội. Ngựa quen đường cũ, bây giờ thêm có tiền, chẳng bao lâu, Ron lại la cà các nhà hàng, quán rượu, hộp đêm. Gặp ai, kể cả không quen, anh cũng mời họ uống rồi thưởng cho mấy cô gái hàng ngàn đô la. Tiền và cả cái miệng to tướng của anh thu hút đủ loại bạn, cũ cũng như mới, trong số ấy nhiều người lợi dụng anh. Ron hào phóng quá mức và không hề quan tâm đến gìn giữ vốn liếng. Năm mươi ngàn đô la bốc hơi hết trước khi Annette kịp ngăn em lại.
Gần căn hộ của Ron có một quán rượu tên là Bounty, một nơi yên tĩnh và kín đáo mà ông Guy Wilhoit, cha của Greg Wilhoit thường xuyên đến uống. Ông và Ron gặp nhau, thành đôi bạn rượu. Hai người trò chuyện rất nhiều về Greg và những thứ xảy ra trong khám tử tù. Ông Guy kể cho những người làm và ông chủ quán Bounty rằng Ron là người bạn thân bậc nhất của ông và của Greg, con ông, rằng nếu quán gặp chuyện rắc rối gì thì gọi con ông chứ đừng gọi cảnh sát. Họ hứa sẽ bảo vệ Ron.
Nhưng Ron không thể bỏ rơi câu lạc bộ thoát y được. Quán thoát y anh thích nhất là quán Lady Godiva. Tại đây anh mê một vũ nữ thì được biết cô đã có chồng. Không quan trọng. Khi Ron biết cô ta đã có gia đình và lại chưa có nhà, anh mời cô đến ở tầng trên ngôi nhà của anh. Thế là cô vũ nữ, hai đứa con cô và người đàn ông cô bảo là cha hai đứa bé, dọn đến ở một tầng trong ngôi nhà lịch sự, xinh xắn của ông Williamson. Nhưng nhà chưa có đồ đạc dụng cụ gì. Ron bèn gọi điện cho chị Annette nhờ sắm cho cả một bảng kê rất dài những đồ dùng cần thiết. Annette đành đến cửa hiệu mua tất cả những thứ em yêu cầu. Khi chị chở đến, chị không thấy Ron đâu. Trên gác, cô vũ nữ cùng gia đình của cô khóa cửa ngoài lại để chị của Ron không nhìn thấy. Chị Annette bèn ra tối hậu thư, kêu ầm lên và dọa sẽ kiện ra tòa, coi đây là một hành động phạm pháp nếu mấy người ấy không cuốn xéo ngay khỏi ngôi nhà. Thế là gia đình cô vũ nữ vội vã chuồn mất. Sau đấy Ron rất buồn, nhớ cô ta mất một thời gian.
Các chuyện kiểu như thế cứ tiếp tục xảy ra cho đến khi chị Annette với tư cách người giám hộ của Ron phải yêu cầu tòa án can thiệp. Họ đòi tiền, nhưng túi Ron đã cạn. Anh phải bán ngôi nhà và lại phải vào một nhà trọ tồi tàn ở.
May thay anh có những người bạn chân chính, họ không bỏ anh. Dennis biết Ron đang muốn tạo một cuộc sống yên ổn. Anh bèn khuyên bạn chuyển đến thành phố Kansas City sống với anh. Dennis muốn chăm sóc bạn, theo dõi để bạn uống thuốc đều đặn và ăn uống kiêng khem, khuyến khích bạn tập thể dục, rồi bắt bạn bỏ bia rượu và thuốc lá. Dennis tìm những thức ăn bổ dưỡng, sinh tố, những thứ nước uống bổ và lành đem về bắt bạn dùng.
Suốt mấy tuần lễ, Dennis và Ron bàn đi bàn lại với nhau về chuyện thay đổi nơi ở. Cuối cùng, chị Annette cũng đồng ý.
***
Greg Wilhoit bây giờ đã thành dân California chính cống và là một chiến sĩ hăng hái đấu tranh cho việc bỏ án tử hình. Anh van nài Ron dọn đến thành phố Sacramento, một nơi có cuộc sống dễ dàng và lại hẻo lánh, giúp Ron chóng quên được quá khứ. Ron thích cái ý tưởng ấy nhưng bàn suông dễ hơn là thực hiện.
Bruce Leba, bạn thân thiết ngày xưa, từ thời hai người còn học trung học và cùng trong một đội bóng, đều chơi suất xắc và cùng vẽ ra bao nhiêu mộng đẹp cho tương lai, thì bây giờ tìm đến Ron và mời bạn về ở với mình, cho riêng bạn một phòng tại nhà anh, điều mà anh đã nói rất nhiều lần trước đây. Chị Annette đồng ý. Thế là Ron chuyển về ở nhà Bruce, lúc này đã có ô tô riêng. Ron rất thích thú khi được ngồi sau tay lái, rong ruổi trên những xa lộ.
Chị Annette đoán trước là tình hình ấy kéo dài nhiều lắm là được ba tháng, vì chị biết tính em chị. Quả đúng như vậy. Cuộc sống đơn điệu làm Ron chán ngay. Chỉ sau đúng ba tháng, Ron gây chuyện cãi nhau với Bruce và quay về sống ở thị trấn Tulsa, ở nhà chị Annette vài tuần lễ, rồi thuê một phòng trong khách sạn với thời hạn ba tháng để ở.
***
Năm 2001, hai năm sau khi Ron và Dennis được tha và gần mười chín năm sau vụ án mạng, cảnh sát thị trấn Ada kết thúc cuộc điều tra. Sau đấy còn phải mất hai năm nữa, Glen Gore mới bị giải từ nhà tù ở Lexington về thị trấn Ada để xét xử.
Do một loạt nguyên nhân, Bill Peterson không làm ủy viên công tố của phiên tòa. Đứng trước hội đồng xét xử và trỏ tay vào mặt bị cáo, dõng dạc nói: “Glen Gore! Anh đáng phải chết vì tội anh đã làm với cô Debbie Carter” dường như quá trơ trẽn sau khi ông ta đã nói cái câu tương tự như thế, cũng trước hội đồng xét xử như thế, trỏ thẳng vào mặt bị cáo trong phiên tòa xử Ron và Dennis. Lần này Bill Peterson khước từ chân công tố, nhưng cử trợ lý của ông ta là Chris Ross đến làm thay nhiệm vụ ấy.
Một ủy viên công tố đặc biệt được cử từ thành phố Oklahoma đến thị trấn Ada để làm nhiệm vụ. Ông tên là Richard Wintory, có sẵn trong tay kết quả thử DNA, thuyết phục được hội đồng xét xử hết sức nhanh chóng. Sau khi nghe chi tiết về tội ác của Glen Gore, hội đồng xét xử không khó khăn gì tuyên án tử hình gã.
Dennis từ chối không đến dự nghe phiên tòa, nhưng Ron thì không thể bỏ qua. Anh gọi điện cho chánh án Tom Landrich hàng ngày và nói: “Tommy, cậu phải cho bắt thằng cha Ricky Joe Simmons ngay". “Tommy, hãy quên thằng Glen Gore đi. Thủ phạm chính là thằng Ricky Joe Simmons kia! Chính nó giết cô Debbie Carter đấy!”
Hết nhà trọ này tiếp đến nhà trọ khác. Mỗi khi Ron thấy chán nhà trọ này, anh lại đòi chị Annette tìm cho nhà trọ khác để chuyển đến. Thế là Annette đành lại đến đóng gói đồ đạc cho em và chở em đi.
Ron đang ở trong một nhà trọ dễ chịu thì nữ bác sĩ Susan Sharp đến thăm. Hôm ấy Ron đã bỏ rượu được vài tuần và có được vẻ mặt lanh lợi. Hai người đến một công viên bên cạnh hồ nước đi dạo. Bầu trời trong xanh, không một gợn mây. Thời tiết đẹp và hơi lạnh.
Nữ bác sĩ Susan Sharp sau này kể lại: “Hôm ấy, anh ta trông như một đứa trẻ. Hớn hở được ra ngoài trời, đi dưới nắng,”
Khi Ron không say rượu và vừa uống thuốc xong, anh rất dễ mến. Đêm hôm ấy hai người ăn tối trong một nhà hàng sang trọng rồi tình tự với nhau. Ron tỏ ra rất hãnh diện là đã mời được một phụ nữ xinh đẹp ăn tối tại một nhà hàng sang trọng.