Vùng đồi ở Đông Nam bang Oklahoma trải dài suốt từ thành phố Norman đến tận địa giới bang Arkansas đã từng là khu vực khai thác dầu lửa, nay hầu như không còn vết tích gì. Những dàn khoan cũ kỹ nằm vô dụng trên mặt đất. Quả là vài dàn vẫn cố hút nốt số ga-lông dầu ít ỏi còn sót lại trong lòng đất, khiến ai đi ngang qua nhìn thấy đều nghĩ liệu có bõ hay không. Hầu hết các dàn đã ngừng hẳn, nằm chềnh ềnh trên mặt đất như chỉ để ghi lại dấu vết của một vùng đất đã có thời vinh quang, nổi tiếng là đất dễ kiếm tiền và cũng đã giúp nhiều người ngoài nghề phất lên nhanh chóng.
Thị trấn Ada, dân số mười sáu ngàn, với một trường trung học và một trụ sở tòa án Quận. Việc khai thác dầu xưa kia tấp nập là thế, nay hầu như không còn. Bây giờ dân thị trấn kiếm ăn bằng cách lao động trong các nhà máy hay trên những cánh đồng trồng hồ đào.
Nơi đông đúc nhất của thị trấn là khu buôn bán nằm trên Phố Chính. Dân buôn sống ở khu trung tâm, nhưng không biết tại sao hoạt động buôn bán của họ lại bị đưa ra bên rìa thị trấn. Ở đây chỉ còn những nhà hàng, tiệm giải khát đông khách vào các buổi trưa, người ta đến đây để ăn nhẹ giữa giờ.
Tòa án Quận Pontotoc đóng trong một tòa nhà cũ kỹ, bên trong đầy luật gia và những người dân có công việc dính đến tòa. Xung quanh tòa nhà chính là những công trình phụ, tất cả đều cũ kỹ. Nhà tù được bố trí trong một cái hầm tránh bom cũ, kín mít, không hiểu tại sao lại được xây ngay trong khuôn viên của trụ sở tòa án như thế này. Chất ma túy làm cho nhà tù luôn đông chật.
Phố Chính của thị trấn Ada kéo dài đến tận khuôn viên của Trường Đại học Tổng hợp khu vực Trung Đông. Đây là trường cấp trung ương, có bốn ngàn sinh viên, phần lớn không ăn nghỉ trong trường. Chính nhờ Trường Đại học mà cái thị trấn nhỏ bé này có được sinh khí, do cả một lực lượng thanh niên trẻ trung đến đây sinh sống và học tập. Đồng thời Trường Đại học cũng tạo cho vùng đất Đông Nam bang Oklahoma này một nét đặc biệt.
Khó có sự kiện nào trong thị trấn lọt khỏi cặp mắt của báo Tin tức buổi chiều Ada, cơ quan ngôn luận của thị trấn. Báo này tranh chấp quyết liệt với tờ Người Oklahoma, cơ quan ngôn luận của Bang. Các tin tức trong nước và thế giới được đăng trên trang nhất, trang hai đăng tin tức địa phương, của bang và quận, các trang cuối dành cho những tin tức thể thao, văn hóa, các thông báo hiếu hỉ.
Dân thị trấn Ada và cả quận Pontotoc mang dòng máu hỗn hợp giữa người gốc da đỏ bản địa và người da trắng đến sinh sống. Điều này lộ ra trên hình dạng con người và trong ngôn ngữ, nhất là trong cách phát âm.
Bang Oklahoma có số dân gốc bản địa cao nhất trong tất cả các bang của Hoa Kỳ, và sau một trăm năm lai giống, ngày nay rất nhiều người da trắng tại đây mang trong mình một phần dòng máu của thổ dân châu Mỹ. Tuy nhiên sự phân biệt chủng tộc cứ nhạt dần và ngày nay ít ai còn quan tâm đến gốc gác của mỗi người.
Đạo Ki-tô rất phát triển tại thị trấn Ada. Cả thị trấn có tới năm chục nhà thờ thuộc hơn một chục hội thánh khác nhau. Người dân ở đây đi lễ chăm chỉ, tùy theo từng hội thánh, không nhất thiết phải vào Chủ nhật. Trong số nhà thờ, đáng kể hơn cả là nhà thờ Thiên Chúa giáo và nhà thờ Giáo xứ. Không có thánh đường hoặc nhà thờ của đạo Do Thái hoặc Islam.
Với mười sáu ngàn dân, Ada được coi là thị trấn cỡ lớn của vùng nông thôn bang Oklahoma. Dân lao động và người buôn bán từ rất nhiều quận khác kéo đến đây sinh sống. Thị trấn Ada cách thành phố Oklahoma City, thủ phủ bang Oklahoma, tám mươi dặm về phía nam và cách thành phố Dallas ba tiếng đồng hồ đi xe về phía bắc. Hầu như tất cả dân thị trấn đều có họ hàng hoặc bè bạn sống bên bang Texas.
Niềm tự hào lớn nhất của người dân thị trấn Ada là môn đua ngựa. Ngựa Ada nổi tiếng. Và mỗi khi thị trấn Ada đoạt được một cái giải nào đấy cấp bang, dân thị trấn đều vênh mặt lên mấy năm liền.
Người Ada hòa nhã và thân thiện, sẵn sàng giúp đỡ những ai gặp khó khăn. Trẻ con chơi đùa trong những bãi cỏ, dưới bóng cây. Nhà không cần đóng cửa suốt từ sáng đến tối. Đám choai choai dạo chơi ban đêm nhưng không gây ầm ĩ.
Giá như không có hai vụ án mạng làm dư luận xôn xao vào đầu thập niên 1990 thì có lẽ cho đến giờ dân các địa phương khác của Hoa Kỳ vẫn chưa biết đến thị trấn Ada này và quận Pontotoc vẫn còn được tiếng là một quận yên bình.
Như thể có một mệnh lệnh nào đấy mà hầu hết các câu lạc bộ, quán hàng ban đêm và các bể bơi của thị trấn Ada đều nằm ngoài rìa, khiến cuộc sống dân lành bên trong thị trấn không bị quấy rối. Trong số các nhà hàng và câu lạc bộ ấy, nổi tiếng nhất là câu lạc bộ Coachlight. Đấy là một ngôi nhà rộng lớn mái tôn, có bia rẻ, nhiều máy nghe nhạc, nhiều máy đánh đỏ đen, mỗi kỳ nghỉ cuối tuần đều có dàn nhạc sống, và bên ngoài là một bãi đỗ xe rộng, bằng phẳng, trải đá dăm. Khách lúc nào cũng đông: những công nhân hết giờ làm việc vào đây uống một vại bia trước khi về nhà nghỉ ngơi với gia đình, đám trẻ đến để vui chơi, giải khát, nghe nhạc, khiêu vũ.
Là địa điểm thuận tiện và nổi tiếng đông khách, câu lạc bộ Coachlight thuê rất nhiều người làm, hầu hết theo chế độ tính công theo giờ, làm các công việc phục vụ bàn, đứng quầy rượu hoặc bảo vệ. Trong số những người này có cô Debbie Carter, hai mươi mốt tuổi. Debbie đã tốt nghiệp trường phổ thông trung học thị trấn Ada cách đây vài năm, chưa có công việc ổn định và vẫn còn độc thân. Cô đến đây làm việc tính theo giờ, ngoài ra còn nhận trông trẻ thuê cho ai cần, cũng tính công theo giờ. Debbie có ô tô riêng và sống trong một căn hộ ba phòng trên gác hai của một xưởng sửa chữa xe hơi tại phố số Tám, gần trường Đại học Tổng hợp Trung Đông. Cô xinh đẹp, có làn tóc đen, vóc mảnh mai, dáng thể thao, giao du rộng và sống tự lập, được rất nhiều người mến.
Mẹ cô, bà Peggy Stillwell lo ngại thấy con gái dành quá nhiều thời gian ở câu lạc bộ Coachlight và các câu lạc bộ khác. Bà không dạy con gái đi theo kiểu sống ấy. Thật ra Debbie chịu sự giáo dục của Nhà thờ nhiều hơn là của gia đình. Sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học, cô tự kiếm lấy việc làm và sống khá thoải mái, đêm nào cũng đi đến khuya mới về nhà. Bà Peggy không bằng lòng và luôn mắng con. Hai mẹ con nhiều lần to tiếng. Cuối cùng Debbie quyết định ra ở ngoài để được tự do. Chính vì thế mà cô thuê căn hộ hiện nay. Tuy ở riêng nhưng Debbie vẫn thường xuyên về thăm mẹ và rất gắn bó tình cảm với mẹ.
Buổi tối ngày 7 tháng Mười hai năm 1982, Debbie làm ở câu lạc bộ Coachlight, phục vụ quầy rượu. Tối nay, thấy khách không đông lắm, cô bèn xin với chủ quán cho nghỉ để ngồi trò chuyện với vài người bạn. Ông chủ câu lạc bộ không phản đối, thế là Debbie ngồi vào chiếc bàn với cô Gina Vietta, bạn thân thiết cùng học trường trung học, và vài bạn khác. Một thanh niên cũng từng là bạn học với họ, tên là Glen Gore, bước đến mời Debbie nhảy. Cô nhận lời, nhưng chưa hết điệu nhạc, bỗng nhiên cô dừng lại nửa chừng, giận dữ bỏ ra bàn ngồi. Lát sau, trong phòng nghỉ dành cho phụ nữ, Debbie nói với bạn là cô cảm thấy không an toàn và đề nghị một bạn nào thế chỗ cô ở câu lạc bộ đêm nay, nhưng không nói cô sợ cái gì.
Đêm hôm ấy câu lạc bộ Coachlight đóng cửa sớm, vào 12h30 đêm. Cô Gina Vietta rủ nhiều bạn trong nhóm về căn hộ của mình uống thứ gì đấy. Hầu hết nhận lời, riêng Debbie từ chối, cô bảo đang vừa mệt vừa đói, cần về nhà ăn chút ít và nghỉ ngơi. Thế là cả đám rời khỏi câu lạc bộ, cũng không vội vã gì lắm.
Nhiều người nhìn thấy Debbie trong bãi đỗ xe, đang nói chuyện với Glen Gore đúng lúc câu lạc bộ đóng cửa. Một chàng trai khác của thị trấn là Tommy Glover rất quen biết Debbie vì đã cùng làm việc với cô tại công ty kính địa phương. Tommy Glover cũng quen Glen Gore. Sau này Tommy Glover kể lại là trong lúc lấy xe ô tô để về, anh nhìn thấy Debbie vừa mở cửa xe của cô để ngồi vào sau tay lái thì Gore đến. Hai người chỉ nói chuyện với nhau được một lúc thì Debbie đẩy Gore ra.
Trong thị trấn còn có hai anh em Mike và Terri Carpenter, đều làm tại câu lạc bộ Coachlight. Mike làm bảo vệ, còn em gái anh, Terri, thì phục vụ bàn. Trong lúc ra lấy xe ô tô, họ đi ngang qua chỗ đậu xe của Debbie, thấy Debbie ngồi trong xe, trên ghế sau tay lái, đang nói chuyện gì với Glen Gore đứng ngoài, bên cạnh cửa xe của Debbie. Hai anh em Mike và Terri không đứng lại mà chỉ vẫy tay chào hai người bạn kia rồi đi luôn. Một tháng trước đấy, Debbie có kể với Mike là cô rất sợ Gore vì anh này dễ nổi nóng và thô bạo.
Một cô gái nữa tên là Toni Ramsey cũng làm ở câu lạc bộ, làm chân đánh bóng giày. Hồi năm 1982, công nghiệp khai thác dầu lửa ở bang Oklahoma vẫn còn đang sôi động. Có rất nhiều đôi ủng còn mới đã bị quăng bừa bãi khắp thị trấn Ada. Thế là Toni nhặt về, đem đánh bóng lại và nhờ đấy cô kiếm được khá nhiều tiền. Cô cũng quen Glen Gore. Đêm hôm ấy, trong lúc Toni rời câu lạc bộ, cô cũng nhìn thấy Debbie ngồi sau tay lái đang nói chuyện gì với Glen Gore. Anh này đứng bên ngoài xe, cúi khom người nói chuyện với Debbie ngồi bên trong xe. Toni không nhận thấy trong câu chuyện giữa họ có gì khác thường.
Hôm ấy, lúc ban tối, Glen Gore, vì không có ô tô riêng nên để đến câu lạc bộ, đã đi ghé xe của một người bạn tên là Roh West và họ đến nơi vào khoảng 11h30. Ron West gọi đồ uống rồi ngồi xuống nghỉ, trong khi Glen Gore dạo quanh các bàn, chào hỏi mọi người. Có vẻ anh ta giao du rất rộng. Lúc câu lạc bộ báo là sắp đóng cửa, Ron West hỏi Glen Gore xem có cần đi nhờ xe nữa không. Gore trả lời là có. Thế là Ron West ra bãi đỗ để lấy xe rồi chờ bạn ngoài ấy. Vài phút sau, Gore vội vã chạy ra và chui ngay vào xe.
Cả hai đều thấy đói, Ron West bèn lái xe đến một quán giải khát bán đêm trong khu buôn bán của thị trấn, quán Waffler. Họ gọi đồ ăn nhanh. West trả tiền cũng như anh đã trả tiền lúc ở câu lạc bộ Coachlight. Tối nay, thoạt đầu West định đến câu lạc bộ Harold’s chỉ để gặp mấy người bạn cùng cộng tác, nhưng lại gặp Gore lúc này đang làm chân phục vụ quầy rượu ở quán này. Hai người chỉ quen nhau sơ sơ, nhưng khi thấy Gore đề nghị chở anh ta đến câu lạc bộ Coachlight, West không nỡ từ chối.
Ron West có cuộc sống gia đình hạnh phúc. Vì có hai đứa con gái nhỏ cho nên từ lâu anh đã không la cà ở các nhà hàng và câu lạc bộ đến khuya nữa, nhưng hôm nay gặp Gore anh nể bạn nên nán lại. Lúc ăn xong, West hỏi bạn muốn anh chở về đâu. Gore nói về nhà cha mẹ trên phố Cây Thông, chỉ cách quán giải khát này vài lô nhà về phía bắc. West rất thuộc đường phố nên lao xe đi ngay, nhưng nửa đường Gore lại đổi ý, muốn xuống đi bộ. Trời bên ngoài giá lạnh và tuyết rơi nhè nhẹ.
Thế là West đỗ xe bên cạnh nhà thờ của giáo hội Báp-tít trên phố Cây Thông để thả bạn xuống. Gore chui ra khỏi xe, cảm ơn rồi đi bộ về.
Nhà thờ của giáo hội Báp-tít trên phố Cây Thông chỉ cách căn hộ của cô Debbie Carter chưa đến một dặm đường.
Thật ra bà mẹ của Glen Gore sống ở đầu kia thị trấn, chứ không phải ở gần nhà thờ của giáo hội Báp-tít.
Khoảng 2h30 sáng, Gina Vietta đang ở trong căn hộ của cô cùng một số bạn thì nhận được điện thoại của cô Debbie Carter. Lần gọi đầu, Debbie đề nghị Gina lái xe đến đón cô đi, bởi có một người khách đang ở đây và làm cô rất khó chịu, nhưng không chịu đi. Gina hỏi bạn, người khách ấy là ai, nhưng Debbie không nói. Cuộc đàm thoại bị cắt ngang bởi những tiếng ồn và như thể tiếng vật lộn. Gina lo lắng vì thấy yêu cầu của bạn có gì đấy khó hiểu. Bản thân Debbie cũng có ô tô riêng, một chiếc Oldsmobile 1975 và cô ấy có thể tự lái đi bất cứ đâu kia mà. Trong lúc Gina vội vã khóa cửa căn hộ định lấy xe để đến nhà Debbie thì lại nghe thấy chuông điện thoại trong nhà mình reo. Gina chạy vào nhấc máy, vẫn là Debbie, báo rằng cô đã thay đổi ý kiến. Mọi chuyện đã yên ổn và không phải phiền bạn nữa. Lần này Gina lại hỏi người khách đến gặp bạn là ai, nhưng Debbie vẫn không chịu nói. Cô chỉ nhờ bạn sáng ra gọi điện cho cô sớm để đánh thức cô dậy đi làm cho kịp giờ. Điều yêu cầu này khiến Gina lấy làm lạ, vì xưa nay chưa bao giờ Debbie Carter yêu cầu như vậy.
Gina Vietta định vẫn lái xe đến nhà Debbie Carter nhưng rồi lại đổi ý. Đang có khách ở nhà mà mình bỏ đi lâu thật ra cũng không lịch sự lắm. Vả lại Debbie Carter rất có thể tự bảo vệ nếu lỡ xảy ra chuyện gì. Hơn nữa lúc này Debbie Carter đang có bạn trai, mình đến rất không tiện. Nghĩ thế, Gina Vietta về nhà. Cho đến lúc lên giường nằm, cô đã quên không gọi cho Debbie hỏi xem có chuyện gì không.
Khoảng 11h sáng ngày 8 tháng Mười hai, một bạn gái của Debbie Carter, tên là Donna Johnson, lái xe đến nhà Debbie định thăm bạn. Cô cùng học trung học với Debbie Carter và hai người rất thân nhau, nhưng sau đấy Donna Johnson chuyển đi Shawnee, một địa điểm ở cách thị trấn Ada một tiếng đồng hồ xe hơi. Hôm nay cô về đây thăm cha mẹ và gặp gỡ vài người bạn, nhân tiện ghé vào thăm Debbie Carter. Lúc lên thang gác, cô thấy dưới chân có nhiều mảnh kính vỡ. Ô cửa sổ nhỏ cạnh cửa chính vào căn hộ bị đập vỡ. Ý nghĩ đầu tiên của Donna Johnson là, hẳn bạn quên chìa khóa cửa ở trong nên phải đập vỡ cửa sổ để chui vào. Cô gõ cửa. Không có tiếng trả lời. Cô bỗng nghe thấy tiếng nhạc vang ra nhè nhẹ từ đài thu thanh trong nhà. Cô thử xoay nắm cửa, thì ra cửa không khóa. Donna Johnson đẩy cửa, bước vào, thấy cảnh tượng rất không bình thường.
Căn hộ bị đập phá, nệm và gối trên đi văng bị hất xuống sàn, quần áo quăng tung tóe mọi chỗ. Trên tường, một dòng chữ màu đỏ viết nguệch ngoạc: “Thằng Jim Smith sẽ phải chết nay mai”. Nhìn kỹ thì viết bằng một thứ bột nhão màu đỏ.
Donna Johnson cất tiếng gọi to tên bạn, nhưng không thấy ai trả lời. Do đã có lần đến đây nên cô chạy vội vào phòng ngủ, miệng tiếp tục gọi tên bạn. Cô kinh hoàng nhìn thấy giường bị đẩy sang một bên, nệm và khăn trải đều bị lột và quăng dưới sàn. Cô nhìn thấy một cái chân thò ra rồi thấy Debbie nằm sấp trên sàn, bên kia giường, thân thể trần truồng và khắp người đầy máu. Trên lưng Debbie có viết mấy chữ gì đấy.
Donna Johnson lạnh toát người, bủn rủn không bước thêm được nữa, mắt đăm đăm nhìn bạn, chờ xem có thấy còn thở không. “Hay mình nằm mê?” Cô thầm nghĩ.
Donna Johnson vội quay ra, sang gian bếp. Trên chiếc bàn ăn nhỏ sơn trắng cô thấy dòng chữ nguệch ngoạc của hung thủ, vẫn mấy chữ cô nhìn thấy ở phòng ngoài. Đột nhiên cô thầm nghĩ, rất có thể “hắn” vẫn còn ở đây, thế là cô cuống quít quay ra, xuống nhà. Cô vội vã lái xe đến một cửa hiệu nhỏ, nhờ điện thoại, gọi cho mẹ của Debbie Carter để báo tin.
Bà Peggy Stillwell nghe mà không tin nổi. Sao con gái bà lại có thể nằm trần truồng, thân thể đẫm máu và không cử động được? Bà bảo Donna nhắc lại lần nữa. Sau đấy bà bỏ máy, chạy xuống lấy ô tô. Nhưng bà run rẩy không sao nổ được máy. Bà đành quay vào nhà, gọi điện cho ông Charlie Carter. Ông là cha của Debbie và đã li hôn với bà cách đây ít lâu. Cuộc chia tay diễn ra rất không nhẹ nhàng nên hai người đã lâu không nói năng gì với nhau.
Ông Charlie Carter vội gọi đến một số nơi để hỏi, nhưng không ai biết gì. Bà Peggy biết con gái bà có một bạn gái nhà ở phố bên kia, tên là Carol Edwards. Bà bèn gọi điện cho cô này, báo tin dữ và nhờ cô đến căn hộ của con gái bà xem thử có chuyện gì. Sau đấy bà ngồi bên máy chờ. Chờ mãi không thấy gì, sốt ruột quá, bà gọi lại cho ông chồng cũ.
Cô Carol Edwards vội chạy đến căn hộ của Debbie, cũng thấy những mảnh kính vỡ và cửa ngoài mở. Cô bước vào trong và nhìn ngay thấy thi thể của bạn.
Ông Charlie Carter là thợ xây, thỉnh thoảng có đến câu lạc bộ Coachlight làm thêm chân bảo vệ. Nghe vợ cũ báo tin, ông hết sức kinh hoàng, vội lao xuống nhà, lấy ô tô phóng đến căn hộ của con gái. Dọc đường, càng nghĩ ông càng xót con. Lúc đến nơi, cảnh tượng ông nhìn thấy còn khủng khiếp hơn nhiều, vượt xa mọi dự đoán của ông.
Nhìn thấy thi thể con gái, ông gọi tên cô hai lần. Biết rằng con đã chết, ông quỳ xuống, nhẹ nâng vai cô lên để nhìn được rõ mặt con. Một chiếc khăn ăn đẫm máu được nhét vào miệng Debbie. Bây giờ thì ông tin là con ông đã chết, nhưng trong thâm tâm ông vẫn thầm hy vọng thấy được một biểu hiện gì là con ông còn sống. Lát sau, khi đã tin chắc không còn hy vọng gì nữa, ông chậm rãi đứng dậy, quan sát xung quanh. Chiếc giường bị đẩy ra khỏi vị trí bình thường, bây giờ nằm cách xa bức tường. Nệm và khăn trải đã bị lột hết. Quần áo, chăn nệm, gối... vứt lung tung khắp sàn. Mọi thứ chứng tỏ đã có một cuộc vật lộn dữ dội. Ông bước vào phía trong và nhìn thấy dòng chữ của hung thủ để lại. Rồi ông sang gian bếp, cũng lại thấy cảnh tượng khủng khiếp như bên phòng ngủ. Ông Charlie thọc tay vào túi áo rồi ra khỏi căn hộ.
Hai cô bạn của Debbie Carter là Donna Johnson và Carol Edwards đều đang đứng trên lối đi bên ngoài cửa, khóc nức nở và chờ tin tức của ông. Khi ông bước ra, họ thấy ông cũng nước mắt đầm đìa.
“Cháu gọi xe cấp cứu chứ ạ?” Donna hỏi.
“Không cần”, ông Charlie đáp. “Gọi cấp cứu làm gì nữa? Cháu gọi cảnh sát ấy.”
Hai người đến đầu tiên là hai nhân viên y tế. Họ chạy lên căn hộ, và lúc quay ra, xuống nhà, họ chỉ chực nôn.
Khi thanh tra Dennis Smith đến thì bên ngoài căn hộ đã đầy cảnh sát, nhân viên y tế và những người hiếu kỳ, có cả hai nhân viên của cơ quan Công tố. Khi thấy rõ đây là một vụ giết người, ông thanh tra ra lệnh giữ nguyên hiện trường, niêm phong căn hộ và bố trí người canh gác không cho ai vào.
Là Cảnh sát trưởng, đã mười bảy năm làm nghề thám tử và là người giàu kinh nghiệm nhất của Phòng cảnh sát thị trấn Ada, thanh tra Smith biết ông cần phải làm gì. Ông xua mọi người ra hết, chỉ giữ lại một thám tử trẻ tuổi cùng khám nghiệm hiện trường với ông, rồi phân chia các nhân viên cảnh sát đi dò hỏi các nhà hàng xóm xung quanh. Giao nhiệm vụ cho mọi người xong, ông lấy thuốc lá ra hút để ghìm nỗi xúc động. Ông biết rất rõ cô gái Debbie Carter này. Con gái ông và em gái út của Debbie là đôi bạn thân, ông quen cả bố mẹ nạn nhân, ông Charlie Carter và bà Peggy Stillvell. Do đó ông thấy cô Debbie bị sát hại là chuyện hết sức kinh ngạc, và vụ án này cũng quá tàn bạo.
Khám xét hiện trường, thanh tra Smith tìm thấy một bộ đồ ngủ bằng phla-nen, vẫn còn đính nhãn của siêu thị Wal Mart. Trên bức tường phòng ngoài có dòng chữ rất to vạch nguệch ngoạc bằng cái giũa móng tay: “Thằng Jim Smith sẽ phải chết nay mai”.
Ông thanh tra biết Jim Smith là ai.
Bên gian bếp, trên mặt bàn ăn có một dòng chữ khác: “Đừng điều tra vô ích”, viết nguệch ngoạc bằng nước tương cà chua. Dưới sàn, bên cạnh bàn ăn còn chiếc quần Jean và đôi ủng. Ông nhớ ra hôm trước đã thấy cô gái Debbie Carter mặc chiếc quần này và đi đôi ủng này.
Thanh tra Dennis Smith sang phòng ngủ. Tại đây, chiếc giường bị đẩy ra khỏi vị trí bình thường, chắn một phần cửa vào. Các cửa sổ đều mở. Rèm bị cuốn lên nên gió thổi vào rất lạnh.
Rõ ràng trước khi chết, nạn nhân đã chống cự quyết liệt. Khi ông quỳ xuống bên cạnh thi thể cô gái, ông nhìn thấy lời nhắn thứ ba của hung thủ. Đấy là một cái tên viết trên lưng nạn nhân, cũng bằng nước tương cà chua cô đặc: “Duke Gram”.
Ông thanh tra cũng biết Duke Gram, hay còn gọi là Duke Graham, là ai.
Luồn dưới đầu thi thể cô gái là một sợi dây điện và một thắt lưng kiểu phương Tây có chiếc khóa to bằng bạc. Cái tên “Debbie” được khắc chính giữa cái khóa.
Trong lúc thám tử Mike Kieswetter, cũng thuộc Phòng cảnh sát thị trấn Ada, lúi húi chụp các góc của hiện trường vụ án, thì thanh tra Smith bắt đầu thu thập chứng cứ. Ông thấy sợi lông trên thi thể, trên sàn nhà, trên giường, trên con vật nhồi bông. Ông cẩn thận gắp mỗi sợi lông, nhẹ nhàng đặt lên từng tờ giấy gấp, rồi ghi chú rõ tìm thấy sợi lông ấy ở chỗ nào.
Ông thận trọng nhấc lên, thu thập rồi gói lại từng thứ: khăn trải giường, vỏ gối, khăn trải, sợi dây điện và chiếc thắt lưng, hai mảnh của chiếc quần lót phụ nữ bị xé đôi ông thấy trong buồng tắm, vài con thú nhồi bông của cô gái, một bao thuốc lá “Marlboro”, một hộp nước giải khát “Seven Up” rỗng, một chai dầu gội bằng nhựa, những cuống thuốc lá, một cái cốc trong bếp, điện thoại và mấy sợi lông ông tìm thấy bên dưới thi thể nạn nhân. Ông bọc chai nước tương cà chua nhãn “Del Monte” tìm thấy trong bếp vào một tấm khăn trải giường. Tất cả những thứ này sẽ được nhân viên phòng thí nghiệm của Cục Điều tra hình sự bang Oklahoma xem xét kỹ lưỡng.
Thu thập chứng cứ xong, thanh tra Dennis Smith bắt đầu thu thập các dấu vân tay. Việc này ông làm đi làm lại. Phủi bụi cả hai mặt cánh cửa của căn hộ, rồi các khung cửa sổ, các mặt phẳng bằng gỗ trong phòng ngủ, trên mặt bàn ăn ở bếp, trên những chiếc cốc thủy tinh vỡ, trên máy điện thoại, thậm chí cả trên vỏ chiếc xe ô tô của nạn nhân.
Thám tử Gary Rogers là người của Cục Điều tra hình sự bang Oklahoma nhưng cũng sống ở thị trấn Ada. Lúc ông ta đến căn hộ của Debbie Carter vào khoảng 12h30 trưa, ông được thanh tra Dennis Smith thông báo ngắn gọn về vụ án mạng. Hai người vốn là bạn thân, đã từng cộng tác chặt chẽ với nhau trong nhiều vụ án.
Trong phòng ngủ, thám tử Gary Rogers phát hiện ra một vệt máu nhỏ ở gần chân bức tường phía nam, ngay bên trên nền nhà và sát một ổ điện, về sau, khi thi thể nạn nhân đã được chuyển đi, ông Rogers yêu cầu sĩ quan cảnh sát Carson cắt một ô vuông gỗ lát tường, xung quanh vệt máu ấy để đem về xét nghiệm.
Thám tử Rogers và thanh tra Smith trao đổi với nhau về ấn tượng đầu tiên. Họ cho rằng hung thủ không phải chỉ có một người. Tiềng ồn ào náo động cô bạn của nạn nhân nghe thấy trong máy điện thoại, không thấy vết dây trói ở cổ tay cổ chân nạn nhân, vết thương rất lớn trên đầu, rồi tấm khăn nhét rất sâu vào cổ họng cô gái, cùng nhiều thương tích khác nữa của nạn nhân chứng tỏ không thể chỉ một người mà làm được tất cả những thứ ấy. Đấy là chưa kể cô gái Debbie này rất khỏe, cao 1,6 mét, nặng 58 kg, tất nhiên cô phải chống cự rất quyết liệt để tự cứu mạng.
Bác sĩ Larry Cartmell, thuộc cơ quan pháp y địa phương cũng đến tiến hành một cuộc khám nghiệm ngắn. Kết luận ban đầu của ông là nạn nhân chết do ngạt thở, tức là bị bóp hoặc chẹn cổ. Ông ký giấy cho phép đưa thi thể nạn nhân đi mai táng.
***
Thanh tra Smith và thám tử Rogers quay về trụ sở phòng cảnh sát thị trấn Ada, tại đây hai người tiếp xúc với thân nhân của nạn nhân. Trong lúc an ủi họ, hai ông tranh thủ lên bảng kê tên các bạn bè, đồng sự, các bạn trai, kể cả những người có cảm tình đặc biệt cũng như có ác cảm mạnh mẽ với cô gái Debbie Carter.
Lập xong bản danh sách, thanh tra Smith và thám tử Rogers bắt đầu gọi điện đến từng người. Yêu cầu của hai ông đối với họ rất đơn giản: mời đến phòng cảnh sát thị trấn để cho dấu vân tay, mẫu nước bọt, mẫu máu, mẫu lông cơ quan sinh dục và mẫu tóc.
Không người nào thoái thác. Mike Carpenter, nhân viên bảo vệ của câu lạc bộ Coachlight, người đã nhìn thấy cô gái Debbie Carter ở bãi đỗ xe cùng với Glen Gore lúc khoảng 12h30 đêm, là nhân chứng tự nguyện đầu tiên. Tommy Glover, một người nữa đã nhìn thấy Debbie gặp và nói chuyện với Glen Gore, thì mau mắn đến cung cấp các mẫu.
Khoảng 7h30 tối ngày 8 tháng Mười hai, Glen Gore đã đến câu lạc bộ Harold's, nơi theo lịch anh chịu trách nhiệm trông nom quầy rượu. Thấy câu lạc bộ vắng tanh, anh ngạc nhiên hỏi thì được trả lời là do có vụ án mạng. Rất nhiều khách của câu lạc bộ này, thậm chí nhiều nhân viên làm việc ở đây đều đến phòng cảnh sát để trả lời những câu hỏi và nộp mẫu vân tay.
Glen Gore vội lao đến phòng cảnh sát. Tại đây anh được thám tử Rogers và nhân viên cảnh sát thị trấn Ada là Barrett thẩm vấn. Glen Gore khai với hai người là anh quen cô gái Debbie từ khi học trung học và đã nhìn thấy cô tại câu lạc bộ Coachlight đêm trước đấy.
Biên bản cuộc thẩm vấn Glen Gore như sau: GIen Gore làm DJ ở câu lạc bộ Harold’s. Cô Susie Johnson kể cho Glen Gore về Debbie tại câu lạc bộ Harold’s vào khoảng 7h30 tối ngày 12-8-1982, Glen đến trường học cùng với Debbie. Glen gặp cô Thứ hai ngày 6-12 tại câu lạc bộ Harold’s, Glen lại gặp Debbie ngày 7-12-1982 tại câu lạc bộ Coachlight. Hai người trao đổi về chuyện sơn lại xe ô-tô của Debbie. Cô không hề nói gì với Glen về chuyện có rắc rối với người nào đó. Glen Gore đến câu lạc bộ Coachlight vào khoảng 10h30 tối cùng với Ron West. Đến khoảng một giờ rưỡi sáng thì ra về cùng với Ron West. Glen Gore chưa bao giờ đến căn hộ của Debbie.
Biên bản do nhân viên cảnh sát Barrett viết trước sự làm chứng của thám tử Rogers và được lưu vào hồ sơ cùng với hàng chục biên bản khác.
Về sau Glen Gore có thay đổi vài chi tiết, thí dụ anh ta có nhìn thấy một người tên là Ron[1] Williamson cứ dai dẳng bám theo cô Debbie Carter trong cái buổi tối ngày 7 tháng 12 ấy. Chi tiết bổ sung này đã không được ai kiểm chứng. Nhiều người có mặt biết Ron Williamson, một nam giới rượu chè be bét và hay ăn to nói lớn. Không ai nhìn thấy anh ta trong câu lạc bộ Coachlight, đúng thế, và hầu hết những người được thẩm vấn đều quả quyết khai là không thấy Ron Williamson có mặt tại câu lạc bộ Coachlight đêm 7 tháng 12.
Mỗi khi Ron Williamson ngồi bên một quầy rượu nào đấy, mọi người đều nhìn thấy anh ta.
Có điều lạ là trong tất cả các dấu vân tay và mẫu lông, tóc thu thập được hôm 8 tháng 12 ấy, không có mẫu của Glen Gore. Anh ta không biết hay cố tình lảng tránh? Nhưng dù nguyên nhân nào đi nữa thì trong các mẫu vân tay và mẫu lông tóc, không có mẫu của anh ta, Glen Gore.
Mãi ba năm rưỡi sau, cảnh sát mới lấy mẫu vân tay và mẫu lông, tóc của Glen Gore, trong khi anh ta chính là người cuối cùng được nhiều người nhìn thấy đứng nói chuyện với Debbie trước khi cô bị sát hại.
***
Vào 15 giờ trưa hôm sau, ngày 9 tháng 12, bác sĩ Fred Jordan tiến hành mổ xác. Có mặt cả thám tử Gary Rogers và sĩ quan Jerry Peters, hai người của Cục Điều tra hình sự bang Oklahoma.
Bác sĩ Jordan đã có kinh nghiệm qua hàng ngàn ca mổ xác nạn nhân các vụ án. Nhận xét đầu tiên của ông đây là thi thể của một phụ nữ trẻ da trắng, trên người chỉ có đôi tất trắng, ngoài ra không có gì hết. Qua độ cứng lại của cơ thể, thấy được rằng cô gái đã chết được ít nhất là hai mươi tư tiếng đồng hồ. Trên ngực cô, có một chữ được viết bằng sơn móng tay màu đỏ: “Chết đi”. Một chất nữa cũng màu đỏ, có lẽ là nước tương cà chua, được dùng để viết nguệch ngoạc, chéo trên bụng cô gái: “Duke Gram”.
Rất nhiều vết bầm tím trên hai cánh tay, ngực và mặt nạn nhân. Nhiều vết rách bên trong môi và trong họng, khiến chiếc khăn nhét vào miệng cô, lúc được ông thận trọng lôi ra, đẫm máu, đã tím lại và đông đặc. Bộ phận sinh dục của cô bị giập nát. Trực tràng bị sưng tấy, ông bác sĩ lôi ra được một vật bằng kim loại, tựa như dụng cụ mở nút chai rượu.
Lúc mổ ra, ông bác sĩ thấy bên trong còn khủng khiếp hơn: hai lá phổi bị giập, tim phình to... Tất cả những thương tích ấy nạn nhân đều nhận được trong lúc còn sống.
Không có dấu hiệu của sự trói hai cổ tay và hai cổ chân. Có rất nhiều vết thương tích nhỏ trên hai cánh tay, chứng tỏ nạn nhân đã chống cự hết sức quyết liệt. Độ cồn trong máu của nạn nhân lúc sắp chết rất thấp, 04. Khám thấy vết tích tinh dịch trong âm hộ và hậu môn nạn nhân, nhưng không thấy trong miệng.
Bác sĩ Jordan cạo lấy chất sơn móng tay và chất nước tương cà chua hung thủ dùng để viết lên những lời đe dọa, đưa xét nghiệm và giữ lại làm chứng cứ.
Nguyên nhân tử vong, là bị ngạt thở, do miệng bị nhét giẻ và cổ họng bị sợi dây điện thít chặt.
Khi bác sĩ Jordan đã hoàn thành công việc mổ xác, nhân viên cảnh sát Jerry Peters chụp thêm mấy tấm ảnh rồi thu thập các dấu vân ngón tay và vân lòng bàn tay, xếp thành một bộ.
***
Mẹ của nạn nhân, bà Peggy Stillwell đau đớn đến nỗi không còn suy nghĩ, quyết định được gì nữa. Bà không cả quan tâm đến ai lo việc mai táng và bà nghĩ sẽ không đến dự đám tang con gái. Bà không ăn được, cũng không tắm được, vì không thể chấp nhận được sự thật là con gái bà đã chết. Em gái bà, Glenna Lucas đến lo mọi thứ giúp bà.
Thứ bảy, ngày 11-12, đám tang cô gái Debbie Carter được tổ chức tại một nhà thờ nhỏ thuộc Hãng từ thiện Criswell. Bà Glenna Lucas tắm rửa, mặc quần áo cho bà Peggy Stillwell, rồi dìu bà đến nhà thờ dự lễ mai táng con gái.
Tại vùng nông thôn bang Oklahoma, có tục lệ các đám tang đều để mở nắp quan tài để mọi người có thể nhìn mặt người quá cố thêm một lần nữa trước khi phải rời xa vĩnh viễn. Tục lệ ấy có từ bao giờ và do nguyên nhân nào không ai biết, chỉ biết chính tục lệ ấy làm tăng thêm nỗi đau đớn cho thân nhân và bè bạn của người xấu số.
Nhìn thi thể cô gái Debbie Carter nằm trong cỗ quan tài mở nắp, mọi người thấy rõ cô đã bị hành hạ man rợ đến mức nào. Mặt cô sưng vù lên và đầy vết tím bầmMay có tấm áo người ta mặc cho cô lúc khâm liệm che đi được vết da cổ bị đứt do sợi dây điện thít vào. Nằm trong quan tài, cô vẫn được mặc chiếc quần Jean và đôi ủng cô ưa thích, đeo sợi dây chuyền đính kim cương bà Peggy Stillwell mua, chuẩn bị sẽ tặng con gái nhân lễ Giáng sinh sắp đến.
Hung thủ giết Debbie đã vụng về lái sự tình nghi về phía Duke Graham, đồng thời cũng hù dọa Jim Smith. Jim Smith thì đã bay xa, y đang nằm trong trại giam. Còn Duke Graham thì ngay sau đấy đã chủ động đến phòng cảnh sát đưa ra chứng cứ ngoại phạm hoàn toàn thuyết phục, không ai có thể bác bỏ.
***
Gia đình nạn nhân được thông báo là phải dọn đồ ra khỏi căn hộ cô đã thuê. Mẹ cô, bà Peggy Stillwell thì không còn làm được gì. Bà dì Glenna Lucas đành đảm nhiệm công việc vất vả này.
Một nhân viên cảnh sát mở khóa cửa căn hộ. Bà Glenna Lucas hồi hộp bước vào trong. Mọi thứ vẫn y nguyên như hôm Debbie, cháu gái bà bị giết. Phản xạ đầu tiên của bà Glenna Lucas là một nỗi căm giận vô bờ. Rõ ràng cháu gái bà đã chống cự hết sức dũng cảm và quyết liệt. Kẻ nào? Kẻ nào đã tàn bạo, man rợ dùng bạo lực hủy hoại cuộc đời non trẻ của cháu gái bà, một cô gái ngoan ngoãn, chăm chỉ, và xinh đẹp nhường ấy?
Căn hộ giá lạnh và toát ra một mùi gì rất khó gọi tên. Mấy chữ: “Thằng Jim Smith sẽ phải chết nay mai” vẫn còn trên tường. Hung thủ viết được có nghĩa hắn đã ở trong căn hộ này khá lâu. Cháu gái bà đã phải chết sau một cuộc hành hình vô cùng tàn bạo. Trong phòng ngủ, tấm nệm bị đẩy xuống sàn, một góc nệm dựa lên tường. Trong tủ áo, không chiếc áo hay quần nào còn ở nguyên trên mắc. Hung thủ cần gì mà phải lôi xuống hết các quần áo của cháu gái bà như thế này?
Gian bếp nhỏ tuy bị xô đẩy dữ dội, nhưng không chứng tỏ có sự vật lộn ở đây. Bữa ăn cuối cùng của cháu gái bà chỉ gồm khoai tây. Cô ăn không hết, phần còn lại vẫn để trong tờ giấy gói đặt trên mặt chiếc bàn ăn nhỏ. Cạnh đấy là lọ đựng muối. Ngay chỗ ấy lại một lời đe khác của hung thủ: “Đừng cố tìm tao mà sẽ chết!” Dòng chữ viết bằng chất nước tương cà chua màu đỏ.
Bà Glenna Lucas cố gạt đi những ý nghĩ đau xót, lặng lẽ đóng gói các thứ. Phải hai tiếng đồng hồ sau, công việc thu dọn, đóng gói mới hoàn tất. Bà nhìn lại căn hộ, trên sàn còn dây rất nhiều vết máu.
Bà không định lau chùi căn hộ mà chỉ thu dọn đồ đạc rồi ra khỏi đây cho nhanh.
***
Cuộc thẩm vấn lần lượt theo diện tình nghi được tiến hành vào những ngày tiếp theo. Hai mươi mốt người đã cung cấp mẫu vân tay, mẫu máu, mẫu lông tóc...
Ngày 16 tháng 12, thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers đưa các chứng cứ thu lượm cùng các mẫu sinh học thu thập được của mười bảy người đến phòng xét nghiệm của Cục Điều tra hình sự bang Oklahoma đóng tại thành phố Oklahoma City. Máy xét nghiệm tách riêng những mẫu máu nào lấy được tại hiện trường không trùng hợp với mẫu máu của nạn nhân Debbie Carter để tiếp tục điều tra. Sau khi so sánh, nhân viên Phòng Điều tra Jerry Peters nhận thấy rằng đây là công việc tinh tế, cần phải thẩm tra lại một lần nữa.
Ngày 4 tháng 1 năm 1983, thanh tra Dennis Smith đưa đến thêm mẫu vân tay. Cùng ngày hôm ấy, các mẫu lông, tóc của nạn nhân, cô Debbie Carter, và các mẫu lấy được tại hiện trường được đưa đến cho Susan Land, nữ chuyên gia về lông tóc. Hai tuần sau, các mẫu lông tóc khác được đặt lên bàn của chị. Các kết quả được Susan Land phân tích, so sánh. Tuy nhiên phòng xét nghiệm của Cục Điều tra hình sự bang Oklahoma không đủ trang bị và không đủ chuyên gia cho nên công việc tiến hành rất khó khăn, vất vả. Chưa kể ngoài vụ án mạng Debbie Carter, còn những vụ án khác nữa.
Trong khi chờ kết luận của phòng xét nghiệm, thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers tiến hành điều tra xung quanh, đi sâu vào những dấu vết khả nghi. Vụ án mạng trở thành sự kiện quan trọng bậc nhất của thị trấn Ada và mọi người tại đây nóng lòng theo dõi cuộc điều tra. Nhưng sau khi gợi chuyện tất cả các nhân viên phục vụ, từ đứng bàn, trông coi các quầy rượu và quầy đánh bạc, các nhân viên bảo vệ cũng như các bạn trai, bạn gái của nạn nhân, cùng các khách có mặt tại hai câu lạc bộ Coachlight và Harold's đêm hôm ấy, hai ông vẫn chưa phát hiện ra manh mối gì giúp họ đẩy cuộc điều tra tiến thêm.
Ngày 7 tháng 3 năm 1983, thám tử Gary Rogers thẩm vấn Robert Deatherage, một người dân địa phương. Anh ta vừa mới hoàn tất thời gian ngồi tù tại nhà tù quận Pontotoc về tội uống rượu trong khi lái xe. Trong trại giam, anh ta ở chung phòng với một người tên là Ron Williamson, cũng bị giam về tội say rượu trong lúc lái xe. Trong trại, các tù nhân bàn tán về vụ án mạng cô gái Debbie Carter và có rất nhiều ý kiến phỏng đoán hết sức khác nhau, nhiều ý kiến vô cùng quái đản. Theo lời khai của cựu phạm nhân Deatherage thì nhiều tù nhân đưa ra những phỏng đoán đụng đến Ron Williamson, gây ra những cuộc đánh lộn trong phòng giam. Thế là Ron Williamson bị chuyển sang một phòng giam khác. Cựu phạm nhân Deatherage cho rằng Ron Williamson có dính đến vụ án mạng và đề nghị với thám tử Gary Rogers là cảnh sát nên tập trung điều tra theo hướng Ron Williamson.
Đó là lần đầu tiên họ tên Ron Williamson được nêu lên trong danh sách tình nghi đặc biệt.
Hai ngày sau, cảnh sát thẩm vấn Noel Clement, một trong những người đầu tiên tự động đến phòng cảnh sát đăng ký mẫu vân tay và mẫu lông tóc. Noel Clement khai rằng Ron Williamson gần đây đã đến căn hộ anh ta và xem chừng có vẻ như đang tìm một người nào đấy. Ron Williamson đến, không gõ mà đẩy cửa vào luôn. Nhìn thấy cây đàn ghi-ta, Ron Williamson nhấc lên đánh, đồng thời bình luận về vụ án mạng Debbie Carter. Trong lúc nói chuyện, Ron Williamson cho biết sáng hôm xảy ra vụ án mạng, anh ta thấy xe cảnh sát đỗ đầy trên phố nơi anh ở và đinh ninh rằng cảnh sát đến là để bắt anh ta. Hồi sống ở thị trấn Tulsa, anh ta đã có lần bị cảnh sát gây rắc rối, vì thế anh ta chuyển về sống ở đây, thị trấn Ada này, cốt để khỏi bị cảnh sát để ý.
***
Thế là cảnh sát hướng cuộc điều tra về phía Ron Williamson. Có điều lạ là họ mất tới ba tháng trời thẩm vấn anh ta mà vẫn không kết luận được gì.
Một số ít người, trong đó có Rick Carson, thuở nhỏ chơi với Ron Williamson và còn nhớ cái thời Ron là cầu thủ xuất sắc của đội bóng chày của trường trung học. Năm 1983, Ron Williamson vẫn còn nổi tiếng là cầu thủ bóng chày nhiều triển vọng nhất của thị trấn Ada. Đến khi anh ta ký hợp đồng gia nhập câu lạc bộ bóng chày Oakland Athletics, mọi người, kể cả bản thân Ron Williamson, đều cho rằng anh sẽ nổi tiếng lừng lẫy và trở thành cầu thủ bóng chày số một của bang Oklahoma.
Nhưng cái thời bóng chày ấy của Ron Williamson đã qua lâu rồi và bây giờ cảnh sát chỉ biết anh ta là một chàng trai thất nghiệp, chuyên chơi đàn ghi-ta thuê cho các câu lạc bộ. Hiện anh ta sống với bà mẹ. Lúc nào Ron cũng say khướt và luôn có những hành vi quái đản.
Ron Williamson có hai tiền án. Một lần bị tù vệ tội say rượu, gây rối. Và nói chung trong thị trấn Ada này, anh ta là một thanh niên bị mang tiếng là phần tử xấu.
❀ ❀ ❀
[1] Hoặc Ronnie, tên gọi tắt của Ronald.