***

Người Vô Tội

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Mười

❊ ❊ ❊

Bang Oklahoma là bang rất coi trọng án tử hình. Khi tòa án tối cao Hoa kỳ chấp nhận ý kiến đề xuất là khôi phục lại án tử hình vào năm 1976, thì bang Oklahoma lập tức triệu tập ngay cuộc họp của Hội đồng tư vấn bang để thông qua quyết định khôi phục án tử hình.

Năm sau, các nhà hoạch định pháp chế thảo luận về một phương pháp mới được đề ra, là thi hành án tử hình bằng cách tiêm thuốc độc thay cho phương pháp cũ là sử dụng ghế điện. Lý do cơ bản là phương pháp này nhẹ nhàng hơn, do đấy cũng làm giảm bớt số ý kiến phê phán án tử hình, cho là độc ác, tàn bạo. Phương pháp dùng cách tiêm thuốc độc lại có thêm một ưu thế nữa là làm tội nhân chết nhanh hơn.

Trong không khí nhiều người không đồng tình, báo chí tranh cãi và dân chúng phản đối, các nhà hoạch định chính sách đã tổ chức một cuộc tranh luận về các biện pháp để kết liễu tính mệnh một con người. Một số người còn đòi quay lại kiểu xử án trước kia, treo cổ hoặc sử dụng một đội xạ thủ dùng súng bắn. Nhưng cuối cùng đại đa số tán thành phương pháp tiêm thuốc. Thế là bang Oklahoma trở thành bang đầu tiên thông qua điều luật quy định việc thi hành án tử hình theo cách này.

Nhưng bang Oklahoma không phải bang đầu tiên thực hiện phương pháp tiêm. Điều làm các nhà hoạch định chính sách, các quan chức và nhân viên cảnh sát và các ủy viên công tố buồn rầu là bang Oklahoma chỉ đứng thứ hai trong việc bắt đầu thi hành biện pháp giết người này. Bởi trong suốt mười ba năm trời, ở bang Oklahoma không có ai bị kết án tử hình. Mãi đến năm 1990, sau bao nhiêu năm chờ đợi, lần đầu tiên người ta mới được sử dụng biện pháp tiêm, tức là biện pháp “chết nhanh” kia.

Giống như khi con đê đã vỡ một chỗ thì nước lũ ào ào chảy vào. Từ năm 1990, số người bang Oklahoma xử tử vượt xa con số trung bình của các bang tại Hoa Kỳ. Không bang nào, kể cả bang Texas, đuổi kịp bang Oklahoma.

Các cuộc thi hành án tử hình ở bang Oklahoma được thực hiện tại nhà tù McAlester, nhà tù kiên cố nhất của bang, nằm cách thủ phủ bang hai mươi dặm về phía đông nam. Tử tù bị giam trong một khu riêng biệt, tên là Khám H.

Cứ làm rồi khắc thạo. Do đấy, các án tử hình ở bang Oklahoma được tiến hành tuyệt đối chính xác. Đối với tù nhân sắp đến ngày tận số, trong ngày cuối cùng của cuộc đời, y được phép tiếp khách đến thăm: thân nhân, bè bạn, thường có cả luật sư đã nhận bào chữa cho y. Tất nhiên khách đến thăm đều đau lòng, nhưng điều làm họ đau xót hơn cả là không được tiếp xúc trực tiếp với tù nhân. Hai bên ngồi cách nhau một tấm kính rất dày, khóc lóc và trò chuyện với nhau bằng điện thoại. Không hề có động tác ôm nhau ghì chặt hoặc những cái hôn vĩnh biệt.

Giữa những người ruột thịt, giữa cha mẹ với con cái, chỉ có những câu: “Mẹ yêu con”, “Con yêu mẹ”, hoặc “Bố yêu con” và “Con yêu bố”, hoặc “Anh yêu em” và “Em yêu anh”... truyền qua máy điện thoại. Thông thường, kẻ sắp đi xa và kẻ ở lại chỉ làm động tác tượng trưng bằng một cái hôn gió, hoặc cả hai cùng áp môi vào hai bên tấm kính. Bạn bè thì áp bàn tay vào tấm kính, và tuy ở hai bên mặt kính, nhưng họ cảm thấy như thể hai bàn tay chạm vào nhau.

Không có điều luật nào cấm sự đụng chạm thân thể trước giờ tiêm thuốc. Mỗi bang quy định một số điều riêng cho bang mình, và bang Oklahoma là bang thích những nghi thức nghiệt ngã nhất.

Nếu như quản giáo đang lúc vui, anh ta cho phép tù nhân được thỉnh thoảng gọi điện thoại. Khi cuộc thăm viếng kết thúc, thì đến bữa ăn cuối cùng của tử tù. Nhưng bữa ăn này đã được quy định là không quá 15 đô la, và thực đơn phải được Giám đốc nhà tù phê duyệt. Thông thường là thịt băm với pho mát, gà rán, tôm và một ly kem tráng miệng.

Trước giờ hành quyết khoảng một tiếng đồng hồ, tử tù được chuẩn bị tư thế. Anh ta thay quần áo tù bằng một bộ complê xanh lam nhạt, hơi giống màu các bác sĩ và nhân viên y tế trong phòng mổ. Anh ta còn bị trói bằng một dây vải khổ rộng, và những bước chân cuối cùng trong cuộc đời, anh ta được bạn bè tiễn đưa bằng những động tác mạnh mẽ. Họ đập vào cánh cửa, lay các chấn song sắt. Họ la hét, kêu gào cho đến khi giờ quy định để tử tù phải chết đã đến. Và khi tử tù hoàn toàn im bặt, có nghĩa không còn sống nữa, thì tất cả những tiếng la hét kia cũng chấm dứt, và thường chấm dứt một cách đột ngột, như theo một hiệu lệnh.

Trong khi tử tù được chuẩn bị, phòng hành quyết được sửa soạn đầy đủ, chỉ còn chờ nạn nhân. Phòng “chết” này được trang bị hết sức chu đáo. Những người làm chứng được đưa vào hai phòng, từ đấy có thể theo dõi diễn biến của cuộc hành quyết. Một phòng dành cho thành viên gia đình tử tù, một dành cho thành viên gia đình nạn nhân. Phòng dành cho gia đình nạn nhân có hai mươi tư chiếc ghế gấp, nhưng thường người ta dành một số ghế cho nhà báo, bình thường là bốn hoặc năm ghế, rồi hai ghế cho các luật sư, một số ghế cho quản giáo và nhân viên dưới quyền anh ta. Quận trưởng cảnh sát và ủy viên công tố quận ít khi vắng mặt trong buổi quan trọng này.

Sau gian phòng này và cũng sau những tấm pa-nen kính, loại chỉ nhìn qua được một chiều, là phòng dành cho những người trong gia đình tử tù muốn chứng kiến việc thi hành án. Phòng này nhỏ và chỉ có mười hai ghế gấp, nhưng thường bị bỏ trống. Một số tử tù không muốn người thân nhìn thấy cảnh tượng này. Một số tử tù không có người thân. Và một số nạn nhân cũng không có gia đình. Thỉnh thoảng gian phòng nhỏ này mới có vài người ngồi.

Hai phòng tách biệt hẳn nhau, và hai nhóm được theo dõi sít sao để khỏi đụng độ với nhau. Trong khi những người kiểm chứng vào phòng, họ không nhìn thấy gì vì phòng tử hình bị che kín mít.

Tử tù được chở vào bằng xe đẩy. Các kỹ thuật viên đã chuẩn bị sẵn kim tiêm, mỗi chiếc cắm vào một bên cánh tay. Khi mọi thứ đã sẵn sàng đâu vào đấy, và mọi chuẩn bị đã hoàn tất, vách ngăn chắn phòng hành hình vén lên để những người kiểm chứng có thể nhìn thấy tử tù. Một tấm kính, loại chỉ nhìn thấy một chiều, ngăn không cho y nhìn thấy gia đình nạn nhân, nhưng lại nhìn thấy thân nhân gia đình mình. Một micro chui qua tường, gắn vào tường, cách đầu tử tù tám mươi phân.

Một bác sĩ bố trí các dụng cụ theo dõi nhịp tim. Một nhân viên nhà tù đứng trong góc một chiếc bục sơn trắng theo dõi và ghi lại diễn biến của cuộc hành hình. Bên cạnh ông ta là một máy điện thoại để phòng khi có tin cấp báo có ảnh hưởng đến việc xét xử, thí dụ chính phủ đổ, hoặc nguyên thủ quốc gia bị ám sát, vân vân.

Xưa kia thường có một linh mục đứng ở góc bên kia đọc Kinh Thánh suốt trong quá trình hành quyết, nhưng ngày nay, người ta không thực hiện tục lệ ấy nữa.

Nhân viên nhà tù tiến lên mấy bước, hỏi tử tù có muốn nói lời cuối cùng hoặc trối trăng gì không. Thông thường họ không muốn nói gì, tuy nhiên thỉnh thoảng cũng có trường hợp tử tù xin tha thứ, hoặc tuyên bố y vô tội. Hoặc tử tù cầu nguyện hoặc kêu lên là mình oan. Có người lại hát một bài thánh ca hoặc quốc ca. Có người bắt tay nhân viên nhà tù và những người cùng đi, dưới quyền nhân viên ấy, cảm ơn là đã chăm sóc và đối xử tốt trong suốt quãng thời gian y nằm tù tại đây.

Lời nói cuối cùng, còn gọi là trối trăng, được quy định không quá hai phút. Và hiếm khi có người vi phạm quy định ấy.

Tử tù thường tự buông thả và không phản ứng gì mạnh. Y đã chấp nhận số phận và đã chuẩn bị cho sự kiện này trong nhiều năm. Nhiều tử tù còn mong đợi thời điểm này. Họ thích chết hơn là phải nằm trong Khám H thêm hai hoặc ba chục năm nữa.

Trong một phòng nhỏ phía sau phòng hành quyết có ba đao phủ náu kín chờ. Họ không được để ai trông thấy. Lai lịch họ khắp nhà tù không ai được biết. Họ không phải nhân viên nhà nước mà thường là những tình nguyện viên của một tổ chức nào đó và họ giấu biệt tung tích từ nhiều năm nay. Việc họ đến nhà tù McAlester và đi khỏi đây đều hoàn toàn bí mật. Chỉ giám đốc nhà tù biết họ là ai, từ đâu đến và họ lấy thuốc độc ấy ở đâu. Mỗi lần thực hiện hành quyết một tử tù như vậy, ông ta chi cho họ 300 đô la tiền mặt.

Hai ống truyền thuốc từ hai cánh tay tử tù nâng cao dần, rồi chui qua hai lỗ đục trên tường, sang bên gian phòng nhỏ, nơi những người chịu trách nhiệm hành quyết tiến hành công việc.

Khi các thủ tục đã hoàn tất, và giám đốc nhà tù đã biết chắc là sẽ không có cú điện thoại “tối hậu” nào hết, thì ông ta ra lệnh và thuốc độc bắt đầu đưa vào ống.

Mũi đầu tiên là một dung dịch saline để mở các tĩnh mạch. Tấm rèm khép lại rất nhanh. Những người giám sát và quan sát nhanh chóng rút ra ngoài. Trong số này nhiều người xúc động rất mạnh. Ghế hành hình bị đẩy ra ngoài và đưa lên một chiếc xe cấp cứu y tế. Gia đình muốn đem thi hài người thân về phải làm một số thủ tục, nếu không, thi hài ấy được nhà nước mai táng trong nghĩa trang dành cho tù nhân.

Ngoài cổng nhà tù có hai tốp nhân viên bảo vệ thay phiên nhau canh phòng. Những người sống sót trong các vụ giết người ngồi trước máy thu hình chờ đến lúc nghe tin báo việc hành quyết đã xong. Gần đấy là một tấm đá ghi tên những nạn nhân của tên sát thủ. Những tấm ảnh màu chụp những đứa trẻ và những sinh viên đang mỉm cười; những bài thơ dâng tặng người chết. Những dòng chữ lớn báo tin về những vụ giết hai người một lúc. Hàng loạt tấm ảnh chụp những người bị hại mà thủ phạm là những tên đang ngồi trong khám tử hình. Tấm đá hoa cương ấy được gọi là: “Nhớ về những nạn nhân”.

Cách đấy không xa, một linh mục Thiên chúa giáo đang làm lễ cho một đám người đứng thành vòng cung hát thánh ca và lầm rầm cầu nguyện. Một số người chủ trương phản đối án tử hình chăm chỉ theo dõi các cuộc hành quyết, không bỏ qua cuộc nào. Họ cầu nguyện không chỉ cho những người bị hành quyết mà cho cả các nạn nhân.

Hai tốp này biết nhau và tôn trọng nhau, nhưng quan điểm trái ngược nhau.

Khi loa thông báo cuộc hành quyết đã hoàn tất, số người có mặt ở đây cầu nguyện to hơn. Rồi một số cây nến bị tắt đi, sách kinh bị giấu đi.

Họ ôm hôn nhau, từ biệt nhau. Đến kỳ hành quyết sau chúng ta lại gặp nhau.

Khi Ron Williamson được giải đến nhà tù McAlester ngày 29 tháng Tư năm 1988, Khám H chưa được xây, người ta vẫn còn tranh luận về nó. Các quan chức nhà tù muốn có một công trình riêng xây theo kiểu mới để nhận số tử tù mỗi năm một đông thêm, nhưng cơ quan tư pháp không chịu chi tiền.

Lẽ ra Ron phải được đưa đến Khám F, nơi đã giam giữ tám mươi mốt tù nhân. Khám F, còn gọi là “Khám Lớn”, chiếm tầng hầm, bên dưới một cánh của nhà tù cũ, xưa có tên là Nhà tù lớn. Công trình xây dựng này giống một con khủng long bốn tầng, xây từ năm 1935 và sau đấy năm năm thì bị bỏ. Mấy thập niên nhà tù này chật ních, đủ loại tội phạm, từ giết người cướp của, giết người vì thù hằn, đến đánh chém nhau và đủ mọi thứ tội ác khác.

Trong Nhà tù lớn rộng thênh thang, lại rỗng không và đang đổ nát dần, chỉ tầng hầm, gọi là Khám F, là được sử dụng. Và mục đích duy nhất của nó là để giam những tù nhân cần phải cấm cố.

Ron được đưa vào Khám F. Anh được cấp hai bộ kaki, hai sơ mi ngắn tay xanh lam, hai áo phông trắng, hai đôi tất trắng, và hai chiếc quần soóc thể thao trắng. Tất cả những thứ này đều đã từng sử dụng nhiều lần, sạch sẽ nhưng có những vết đen. Giày da đen và cũng là giày cũ. Anh còn được cấp một chiếc gối, một khăn trải giường, giấy vệ sinh, bàn chải và thuốc đánh răng. Trong một thời gian ngắn làm quen với hoàn cảnh mới, Ron được phổ biến là anh có thể mua các đồ dùng cá nhân ở quầy bán tạp hóa và thực phẩm của nhà tù, gọi là căng tin, thậm chí có thể mua chút ít đồ uống không có men và thức ăn nhẹ tại đấy. Tiền gia đình gửi cho đều được đưa vào tài khoản, và anh có thể lấy dần ra để mua những thứ vặt vãnh.

Khi đã thay sang quần áo tù và hoàn tất các thủ tục, Ron Williamson được dẫn sang cánh nhà, nơi anh sẽ ở đây trong nhiều năm tiếp theo, cho đến ngày bị hành quyết. Hai cổ tay anh bị còng. Trong lúc anh xếp khăn trải, gối, áo quần chưa dùng đến, cùng những vật dụng khác thì quản giáo mở cánh cửa có chấn song rất to và cuộc diễu hành bắt đầu.

Trên đầu anh, sơn bằng chữ rất to màu đen là địa chỉ nơi này: “Khám Tử Tù". Hành lang dài năm chục mét, rộng chừng sáu mét, hai bên là những xà lim nối tiếp nhau. Trần cao chưa đến bốn mét.

Bước chân rất chậm, Ron đi giữa hai quản giáo áp giải. Ba người đi dọc theo hành lang. Đây là một thủ tục, một cuộc đón tiếp tù nhân mới, tiến hành ngắn ngủi. Các hàng xóm của Ron biết anh sẽ đến nhập “làng” với họ. Đám người nhốn nháo reo to: “Ê, miếng thịt mới kìa!”, rồi “Chào em bé bỏng!”

Những cánh tay thò ra ngoài chấn song sắt bỏ thõng xuống. Những cánh tay da trắng, những cánh tay da đen, rồi da nâu, những cánh tay hình xăm chi chít. Chà, toàn là dân ghê gớm đây. Mình phải tỏ ra là kẻ không biết sợ. Đám tù nhân đá vào cánh cửa sắt, hét gọi tên anh, rồi tự xưng tên. Người nào người nấy đều hung dữ, không ai kém ai.

Ron đã từng ngồi tù, đã sống qua mười một tháng tại nhà tù quận Pontotoc. Và anh thầm nghĩ, bất cứ ở đâu, kể cả ở đây cũng không thể tồi tệ hơn ở nhà tù quận Pontotoc.

Ron cùng hai quản giáo áp giải dừng lại trước xà lim số 16. Tiếng huyên náo đã lùi xa, nhỏ đi rất nhiều. Xin chào mừng bạn đến với Khám tử tù. Một quản giáo mở khóa cửa xà lim. Đây là “nhà” của mình cho đến bao giờ không biết. Ron bước vào “nhà” của anh.

Ở bang Oklahoma có một câu nói vui để gọi những ai đến sống tại Khám tử tù: “Anh ta sắp nghỉ ngơi an dưỡng tại Big Mac.” Ron duỗi dài chân trên tấm phản gỗ hẹp, nhắm mắt lại và thầm nghĩ phải chăng mình đang nằm mộng: thế là mình bị giam ở McAlester! Hay nói theo cách nói lóng của địa phương: “Mình đã đến thưởng thức mùi vị cuộc đời tại Big Mac!”

Xà lim có mấy chiếc giường khung sắt. Mỗi giường kèm thêm một ghế đẩu cũng bằng sắt. Toàn xà lim có một chậu để vừa rửa ráy vừa đi tiểu, một chiếc gương và một cái giá đựng sách cũng bằng sắt, và một bóng đèn điện. Xà lim dài năm mét, rộng ba mét, cao ba mét rưỡi. Sàn lát bằng đá chen hai màu đen trắng. Tường gạch quét sơn trắng, và do sơn đi sơn lại quá nhiều lần nên sơn tạo thành một lớp dày nhẵn thín.

Ơn Chúa, xà lim lại có một cửa sổ, Ron nghĩ, và tuy nó không cung cấp một phong cảnh bên ngoài, nhưng cũng cho chút ít ánh sáng rọi vào. Nhà tù quận Pontotoc ở thị trấn Ada làm gì có cửa sổ!

Ron bước ra chỗ cửa. Cửa chỉ là một ô chữ nhật có những thanh sắt chéo nhau, giữa là một ô nhỏ để nhân viên nhà tù đưa thức ăn vào cho tù nhân. Hoặc thỉnh thoảng đưa quà từ bên ngoài gửi vào, tiếp tế cho tù.

Ron nhìn ra hành lang, thấy ba người đàn ông, một ở ngay xà lim đối diện, số 9, còn hai người kia ở hai xà lim hai bên cái xà lim số 9 ấy. Ron chỉ im lặng nhìn họ. Họ cũng nhìn anh, lặng lẽ, không nói gì.

Hầu hết các tù mới đến nói rất ít trong những ngày đầu tiên. Tâm trạng ngỡ ngàng khi đến một chỗ mới, nơi họ sẽ sống thêm vài năm cho đến khi bị đưa đến phòng hành quyết. Nhìn xung quanh họ cảm thấy như bị choáng váng. Và nỗi sợ xâm chiếm họ: sợ cho tương lai, sợ sẽ không vượt qua nổi những cực khổ để sống, sợ sẽ không bao giờ nhìn thấy những thứ thân thuộc họ đã quen nhìn thấy khi chưa vào tù, sợ bị những tên ác ôn trong tù đâm chém, đánh đập...

Ron sửa soạn giường và xếp đặt đồ đạc cá nhân. Anh thích thú thấy ở đây được riêng rẽ, không bị ai quấy rầy. Chỉ khu tử tù mới có chế độ mỗi người giam riêng một xà lim. Ngoài hành lang thường xuyên huyên náo. Khi thì mấy tù nhân nói chuyện với nhau rất to, khi thì tiếng mấy quản giáo cười hô hố, khi thì tiếng máy thu hình vặn âm thanh cực đại, khi thì tiếng la hét, hoặc gào thét. Ron thường nằm lui hẳn vào trong cùng, cách xa cửa tối đa. Anh đọc sách, ngủ, và hút thuốc lá.

Trong khám tử tù này ai cũng hút thuốc lá. Mùi thuốc cũ và thuốc mới quyện vào nhau lúc nào cũng lơ lửng trong không trung, tựa như một bức màn, một làn sương mù.

Có hệ thống thông gió, nhưng cánh quạt đã quá cũ, không còn hoạt động được nữa. Tất nhiên cửa sổ không được phép mở, mặc dù đã có chấn song sắt rất to ngăn chặn. Kiếp sống trâu ngựa khiến mọi người cảm giác đang bị hành hạ. Không có thời khắc biểu. Không có gì để chờ mong. Thỉnh thoảng tù nhân được ra ngoài một lúc. Thế thôi. Sự tẻ nhạt làm trí óc con người ta mụ mẫm.

Tù nam giới mỗi ngày bị nhốt hai mươi ba tiếng đồng hồ, mà có rất ít việc để làm, cuộc sống nhàn tản làm con người thành đần độn. Mỗi ngày ba lần thức ăn được chở đến. Nhân viên nhà tù chở thức ăn bằng xe đẩy có bánh xe. Xe chạy dọc theo hành lang và quản giáo phân phối thức ăn cho từng xà lim, đưa vào qua ô nhỏ lẩn trong cánh cửa. Tù nhân ăn một mình và bao giờ cũng ăn sạch, vét kỹ. Bảy giờ sáng là bữa lót dạ, thường có một quả trứng, một mẩu thịt nướng, đa số các ngày có được một khoanh mỡ thỏi, vài ba khoanh bánh mì khô hoặc nướng. Cà phê thì lạnh và nhạt nhẽo, nhưng vẫn được coi là thứ quý giá. Bữa trưa có bánh mì kẹp thức ăn và xúp đậu. Bữa chiều là bữa tồi nhất, chỉ có một mẩu thịt nhẽo với vài sợi rau luộc chưa chín. Mỗi suất ít đến mức nực cười. Và thức ăn bao giờ cũng nguội tanh. Thức ăn được nấu tại một khu vực khác cách xa nơi này rồi chở đến đây bằng xe đẩy và phải qua một chặng đường khá dài. Ai quan tâm đến những thứ này làm gì? Họ đều là những người tai điếc đặc. Thức ăn thật khủng khiếp nhưng giờ ăn vẫn là giờ được quan tâm chờ đợi nhất.

Hai chị Ron, Annette và Renee gửi tiền đến cho em và Ron dùng số tiền ấy mua thực phẩm, thuốc lá, đồ vặt, khăn mặt và đồ uống không có cồn ở căng tin. Khi cần mua thứ gì, Ron kê ra một mảnh giấy rồi đưa cho trực ban, còn gọi là “người quan trọng” trong khám tử tù này. Anh ta cũng là tù nhân nhưng được lòng các nhân viên bảo vệ nhà tù cho nên được hưởng ưu đãi lớn là được ra ngoài xà lim, không bắt buộc phải ở trong ấy suốt ngày, hai mươi tư trên hai mươi tư. Anh ta lang thang ngoài hành lang và thấy ai gọi thì chạy đến giúp. Anh ta cũng là người truyền tin tức và lời nhắn từ tù nhân này đến tù nhân khác, đồng thời là tác nhân quan trọng trong việc loan truyền những lời đồn đại, những chuyện ngồi lê đôi mách của nhau cho những người khác. Trực ban còn khuyên bảo người này người khác và khi nào gặp dịp thì bán chất ma túy cho người nào nghiện.

Sân tập là nơi thiêng liêng. Đấy là một diện tích rộng bằng khoảng hai sân bóng rổ, xung quanh có rào sắt cao bít kín. Sân nằm trong khuôn viên của nhà tù McAlester, và gần Khám F. Mỗi ngày một lần và năm ngày một tuần, mỗi tù nhân được phép ra “sân tập” để kiếm chút ánh nắng mặt trời, gặp một người bạn tù, chơi bóng rổ, chơi bài hoặc chơi quân domino.

Mỗi nhóm không đông, chỉ khoảng năm sáu người mỗi lần, và do anh em tù nhân trông coi lẫn nhau một cách nghiêm ngặt. Bạn bè, chỉ là bạn bè mới được phép cùng ra sân tập một lúc. Một tù nhân mới phải có tù nhân cũ mời thì mới được ra sân, đấy là biện pháp an ninh. Luôn xảy ra những vụ đánh nhau cho nên quản giáo trông coi sân tập rất cẩn thận.

Trong tháng đầu tiên ở nhà tù này, Ron thích ra sân tập một mình. Khám tử tù này giam giữ rất nhiều kẻ giết người và Ron không muốn quan hệ với họ cho thêm rắc rối.

Một địa điểm duy nhất nữa để gặp gỡ nhau là nhà tắm. Tù nhân được phép ra đấy tắm mỗi tuần ba lần. Mỗi lần tắm bằng vòi hoa sen như vậy không được quá mười lăm phút. Nếu tù nhân nào yêu cầu hoặc không thích tắm chung, có thể tắm một mình. Ron thích tắm một mình. Nước thì thừa thãi, cả nóng lẫn lạnh, nhưng khốn nỗi hai thứ nước ấy lại không được trộn lẫn, cho nên hoặc là suýt bỏng hoặc là run lẩy bẩy. Chỉ có cách duy nhất là trong hai thứ chọn lấy một.

***

Có hai tù nhân bị xử oan nữa của cơ quan luật pháp quận Pontotoc, nay đã chuyển đến nhà tù này khi Ron được áp giải đến đây, mặc dù khi ấy anh chưa biết. Đấy là Tommy Ward và Karl Fontenot. Hai anh này ngồi ở nhà tù McAlester đã ba năm, đang chờ ngày nhận lệnh đến dự phiên xét xử phúc thẩm.

Trực ban đưa cho Ron một tờ giấy, một lời nhắn không chính thức, và các quản giáo không cần biết đến nó. Thư của Tommy Ward. Anh ta gửi lời chào Ron và chúc điều tốt lành. Ron gửi một lá thư trở lại cho Tommy Ward và hỏi xin một ít thuốc lá. Tuy thương xót cho Tommy Ward và Karl Fontenot, nhưng Ron vẫn tin rằng trong khám tử tù này không phải ai cũng là đồ tể. Anh vẫn tin rằng trong số tù nhân nằm ở đây, có nhiều người vô tội, và Ron thường nghĩ về họ trong thời gian anh chịu hình phạt.

Tommy Ward đã ngồi tù cùng với Ron ở nhà tù của quận Pontotoc đóng tại thị trấn Ada cho nên biết thần kinh bạn rệu rã. Các nhân viên, các quản giáo nhà tù và các tù nhân thường trêu chọc hai người. Mấy năm trước đây, một lần giữa đêm khuya, có tiếng ai gọi ngoài hành lang: “Tommy, Tommy! Denice Haraway đây, anh hãy nói cho họ biết xác tôi hiện nằm tại chỗ nào.” Anh nghe thấy tiếng thầm thì của cảnh sát và một số tù nhân bụm miệng cười không ra tiếng. Tommy không biết đấy là một kiểu đùa, và cuối cùng mọi người bỏ mặc anh.

Ron không thể chịu đựng kiểu đùa như thế. “Ron ạ, tại sao anh giết Debbie Carter”, một giọng nói thều thào nghe như vọng qua những bức tường của nhà tù ở thị trấn Ada đến đây. Khi nghe thấy tiếng nói ấy, Ron thường vùng dậy và kêu ầm lên.

Trong khám tử tù, hàng ngày Tommy phải đấu tranh kịch liệt để giữ cho mình khỏi phát điên. Điều khủng khiếp là địa điểm này tồi tệ đến mức dù có là tử tù đi nữa cũng không đáng phải chịu, thế mà một người vô tội lại phải chịu và do đấy rất dễ phát điên. Ngay từ khi Ron mới chuyển đến đây, Tommy đã rất lo cho sức khỏe tinh thần của bạn.

Một trong số quản giáo ở đây biết chi tiết về vụ án mạng cô Debbie Carter. Sau khi Ron chuyển đến ít lâu, Tommy nghe thấy một nhân viên bảo vệ nhà tù gọi: “Ron, Debbie Carter đây. Tại sao anh lại giết tôi?”

Lúc đầu Ron vẫn giữ được điềm tĩnh, chỉ kêu lên là mình vô tội. Gã quản giáo thích thú trước phản ứng của anh, bắt đầu trêu chọc anh. Những tù nhân khác thấy thích thú nên cũng tham gia luôn cái trò trêu chọc này để cùng cười với nhau.

Sau khi Ron đến được mấy ngày, bỗng nhiên Tommy Ward bị lôi ra khỏi xà lim và bị còng tay, xích chân và bị đám lực sĩ bảo vệ nhà tù đánh đập tàn bạo. Bị trừng phạt dữ dội thế nhưng bản thân Tommy cũng chưa biết mình phạm lỗi gì. Bọn kia không bao giờ kể với tù nhân tại sao chúng đánh đập họ.

Chúng giải Tommy đi, một cậu trai gầy còm, yếu đuối giữa cả một đám lực lưỡng trông như đoàn võ sĩ canh gác cho tổng thống. Anh hỏi: “Giải tôi đi đâu thế này?” Nhưng không ai trả lời. Tommy bị giải dọc theo hành lang, rồi ra khỏi tòa nhà, qua một gian phòng lớn hình tròn, trông giống như của một ngôi nhà thờ lớn, và được gọi là Khám Lớn, rỗng không, chỉ có những con chim bồ câu thấy động, hoảng sợ bay vụt lên hoặc chạy xáo xác. Chúng giải Tommy đến ngôi nhà của Ban Giám đốc nhà tù.

Giám đốc nhà tù đứng đấy đợi anh, và nói có những tin xấu cho anh.

Chúng xích Tommy lại, đặt lên một chiếc ghế nóng bỏng ở cuối một chiếc bàn hội nghị dài, xung quanh đã đông đủ các nhân viên hành chính, thư ký và trợ lý, nhân viên văn phòng, nói cách khác, tất cả những ai muốn dự cái buổi thông báo tin khủng khiếp kia. Các quản giáo đứng sau lưng Tommy, tất cả đều mặt lạnh như tiền, toàn thân bất động như những pho tượng bằng đá, sẵn sàng đề phòng. Bởi khi nghe thông báo, tử tù rất có thể vùng lên, lao ra khỏi đây. Mỗi người ngồi sau chiếc bàn họp đều cầm sẵn bút và giấy để ghi lại những gì sẽ xảy ra.

Giám đốc nhà tù trịnh trọng nói. Tin xấu là Tommy không được hưởng một thời gian giam cầm trước khi bị hành quyết mà sẽ bị hành quyết ngay. Đúng, quả là có hơi sớm, phiên tòa sơ thẩm xử Tommy chỉ mới ra phán quyết cách đây có ba năm, nhưng những chuyện như thế này cũng là bình thường, luôn xảy ra.

Ông ta tỏ ra thông cảm và thương tiếc cho Tommy, nhưng bổn phận ông ta là phải thi hành lệnh trên. Đã ấn định ngày hành quyết là sau đây hai tuần lễ.

Tommy thở hổn hển và cố ghìm nỗi uất ức xuống. Anh đã thuê luật sư để giúp anh trong phiên phúc thẩm, nhưng như anh đã được thông báo nhiều lần, hành trình để đến phiên xét xử phúc thẩm sẽ rất dài, phải mất nhiều năm mới thực hiện được. Tommy đã hy vọng người ta sẽ mở một phiên tòa khác tại thị trấn Ada.

Bấy giờ là năm 1988, bang Oklahoma chưa phải hành quyết một người nào trong suốt hơn hai chục năm qua. Có thể họ hơi đơn giản và không biết phải làm gì.

Giám đốc nhà tù nói tiếp, báo tin là họ muốn tiến hành công việc chuẩn bị ngay từ bây giờ. Một mục quan trọng là xử lý thế nào với thân thể.

Tommy thầm nghĩ: “Thân thể nào? Hay thân thể mình?”

Các nhân viên hành chính và các thư ký đều cúi đầu ghi chép. Mặt họ cau lại và đưa bút lia lịa, vẫn những câu chữ ấy. Tại sao phải triệu tập tất cả những người kia đến đây? Tommy thầm tự hỏi.

“Hãy đưa tôi về gặp mẹ tôi”, Tommy nói hoặc định nói như thế.

Hai đầu gối anh mềm oặt, phải cố lắm anh mới khỏi ngã quỵ xuống. Các quản giáo túm chặt anh, giữ và kéo lê anh về khám. Đến xà lim của anh, bọn họ mở cửa sắt, đẩy anh vào trong rồi khóa lại. Tommy bò đến giường, vừa bò vừa khóc nức nở. Không phải anh sợ chết mà vì anh thương gia đình. Người anh thương nhiều nhất là mẹ anh.

Hai ngày sau, Tommy Ward được thông báo là có sự nhầm lẫn. Một số giấy tờ khác đã bị thất lạc trên đường. Có nghĩa chưa phải ngày hành quyết đã được quyết định, và mẹ anh, bà Ward chưa phải tính đến chuyện xin thi hài con về.

Sự nhầm lẫn kiểu này không phải là không luôn xảy ra.

***

Sau khi cậu em bị giải đi khỏi thị trấn Ada, chị Annette nhận được một công văn của Giám đốc nhà tù McAlester. Chị cho đây chỉ là thủ tục thông thường. Mà rất có thể chị Annette nghĩ thế là đúng, do giọng văn vui vẻ và bình thản thường được sử dụng trong nhà tù này.

“Bà Annette Hudson kính mến!

Tôi vô cùng hân hạnh được thông báo cho bà biết là em trai bà, cậu Ronald Williamson, số tù 134846, đã nằm trong kế hoạch sẽ bị hành quyết ngày 18 tháng Sáu năm 1988, lúc 12h02 sáng, tại nhà tù của bang Oklahoma.

Em trai bà sẽ được chuyển từ nơi giam giữ hiện nay đến một xà lim khác vào buổi sáng trước hôm hành quyết. Vào ngày hành quyết, giờ thăm viếng đã có sự thay đổi và nay được quy định như sau: sáng từ 9h00 đến 12h, chiều từ 1h00 đến 4h00, tối từ 6h00 đến 8h00.

Việc thăm viếng tiến hành trong 24 tiếng đồng hồ và bị hạn chế chỉ trong những người sau đây: linh mục, luật sư giám sát, và hai người thân của tù nhân được giám đốc nhà tù cho phép. Em trai bà có quyền có năm người thân đến thăm viếng và dự giai đoạn hành quyết. Các người thăm viếng ấy phải được giám đốc nhà tù cho phép.

Vì những khó khăn có thể có, công việc mai táng cần được tính toán trước và nội dung của nó thuộc trách nhiệm của gia đình. Nếu trách nhiệm ấy gia đình không nhận, nhà nước sẽ lo việc mai táng. Xin bà vui lòng thông báo cho chúng tôi biết quyết định của bà về vấn đề này.

Nếu còn cần hỏi thêm hoặc cần chúng tôi giúp đỡ, xin bà vui lòng cho biết.

Kính thư, James L. Saffle, giám đốc nhà tù”.

Thư đề ngày 21 tháng Sáu năm 1988, chưa đầy hai tháng sau khi Ron bị giải đến nhà tù McAlester. Chị Annette biết rằng trong các vụ trọng án, việc tiến hành phúc thẩm là chuyện nhất thiết phải tiến hành. Có lẽ cần thông báo cho những người lo việc thực hiện các vụ hành quyết biết điều ấy.

Tuy bị lá thư làm đầu óc xáo trộn, nhưng Annette vẫn gạt chuyện ấy sang một bên. Em trai chị vô tội và sẽ được minh oan trong một phiên tòa sẽ được mở. Annette tin vào điều ấy một cách bướng bỉnh, bất chấp mọi lời đồn đại, bất chấp mọi chuyện gì có thể xảy ra. Và niềm tin sắt đá ấy không bao giờ suy suyển. Chị đọc Thánh Kinh, thường xuyên cầu nguyện Chúa và luôn đến gặp mục sư.

Và còn một điều Annette chưa rõ, là những người như thế nào đang quản lý nhà tù McAlester.

***

Đến Khám tử tù này được khoảng một tuần lễ, một hôm Ron bước ra cửa, gọi tử tù giam ở xà lim đối diện, bên kia hành lang. Ron chỉ cách anh ta bốn mét. Tên người tử tù bên xà lim số 9 ấy là Greg Wilhoit. Nghe tiếng Ron gọi, anh chào đáp lại, rồi hai người trao đổi vài câu. Họ chưa có gì để nói với nhau nhiều.

Hôm sau Ron lại gọi to, chào Greg và họ lại trao đổi với nhau vài câu thăm hỏi. Đến hôm sau nữa, thì họ nói với nhau nhiều hơn. Greg kể rằng nhà anh ở thị trấn Tulsa. Ron đã có thời sống ở đấy, cùng với một cậu trai trẻ tên là Stan Wilkins.

“Cậu ta có phải thợ sắt không?” Greg hỏi.

Đúng, cậu ta là thợ sắt và Greg biết cậu ta. Sự trùng hợp khiến cả hai đều thích thú, đồng thời cũng phá tan sự dè dặt của cả hai bên. Hai người nhắc lại về những người họ cùng quen biết và những địa điểm trong thị trấn Tulsa.

Greg cũng ba mươi tư tuổi, cũng mê bóng chày, và cũng có hai chị hiện đang nâng đỡ cậu em trai.

Và Greg cũng vô tội.

Đấy là mở đầu cho một tình bằng hữu sẽ giúp hai người sống qua được cái địa ngục trần gian này. Greg rủ Ron đến nhà thờ. Trong khuôn viên nhà tù có một nhà thờ nhỏ, mỗi tuần một lần tổ chức giảng kinh và làm lễ cầu Chúa. Rất nhiều tử tù chăm chỉ đến đây. Tay bị còng, chân bị xích, các tù nhân vào ngồi chen chúc, chật kín gian phòng nhỏ. Tại đây họ làm lễ, cầu nguyện và nghe giảng đạo, do một linh mục thánh thiện dẫn dắt. Tên linh mục là Charles Story. Ron và Greg rất hiếm khi bỏ lỡ buổi cầu kinh nào tại đây. Và lần nào đến, họ cũng ngồi cạnh nhau.

***

Greg Wilhoit đã ở nhà tù McAlester này được chín tháng. Anh làm nghề thợ sắt. Một lao động dẻo dai với một lịch sử tội phạm là đã tàng trữ cần sa, nhưng Greg không gây gổ với ai bao giờ.

Năm 1985, Greg chia tay với vợ, chị Kathy. Họ có hai đứa con gái còn chập chững và hai vợ chồng gặp rất nhiều khó khăn. Greg giúp Kathy dọn đến một căn hộ mới, và gần như đêm nào anh cũng ngủ lại ở đấy để trông nom hai đứa con gái nhỏ. Cả hai đều hy vọng tình cảm sẽ trở lại và họ khôi phục lại cuộc hôn nhân, nhưng họ đều thấy nên có một quãng thời gian sống riêng rẽ. Họ vẫn sinh hoạt tình dục với nhau và chung thủy với nhau, không đi ngủ lung tung.

Ngày 1 tháng Sáu, ba tuần lễ sau khi li hôn, một người hàng xóm ở căn hộ bên cạnh căn hộ của Kathy trong tòa nhà chung cư cao tầng, nghe thấy tiếng trẻ con khóc thét mãi không thôi. Ông ta lấy làm lạ, bèn sang gõ cửa. Khi không thấy tiếng trả lời, ông báo cảnh sát. Cảnh sát mở cửa vào căn hộ, họ thấy trong gian ở tầng dưới thi thể chị Kathy. Ở gian trên, hai đứa bé gái chập chững đang khóc thảm thiết vừa sợ vừa đói.

Kathy đã bị kẻ nào cưỡng hiếp và giết. Thời điểm bị giết là giữa 1 giờ đêm và 6 giờ sáng. Khi cảnh sát thẩm vấn Greg, anh nói anh ở nhà anh, và vào giờ ấy đang ngủ. Nhưng như thế là không có bằng chứng nào khẳng định anh ngoại phạm. Greg một mực nói là mình không biết gì về cái chết của người vợ cũ và không muốn trả lời những câu cảnh sát hỏi.

Bộ phận điều tra phát hiện thấy một dấu vân tay trên ống nghe máy điện thoại. Máy này treo trên tường, bị giật xuống và nằm dưới sàn, cạnh thi thể Kathy. Dấu vân tay không phải của Greg, cũng không phải của Kathy. Cảnh sát tìm thấy một sợi lông ở bộ phận sinh dục nạn nhân, và quan trọng nhất là lại có một vết răng cắn trên vú của nạn nhân. Một chuyên gia về hình sự khẳng định rằng hung thủ đã cắn rất mạnh vào vú chị trong lúc hắn hiếp chị.

Là chồng đã li hôn của nạn nhân, Greg là nghi can đầu tiên, mặc dù dấu vân tay không phải của anh. Chuyên gia phòng xét nghiệm thuộc Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma là Melvin Hett kết luận rằng sợi lông ấy không có độ chắc giống như mẫu lông của Greg. Cảnh sát yêu cầu anh cắn thử vào một chất dẻo để so sánh vết cắn ấy với vết cắn trên vú nạn nhân.

Greg không chịu nhận anh là kẻ tình nghi. Anh hoàn toàn vô tội và anh không tin ở cảnh sát. Được gia đình giúp, anh chi 25.000 đô la và kiếm được một luật sư.

Cảnh sát không bằng lòng thấy anh thuê luật sư. Họ kiếm được một cái lệnh của tòa án yêu cầu anh cắn thử làm mẫu, để so sánh vết răng. Greg thực hiện và suốt năm tháng liền anh không nghe thấy tin tức gì. Anh vẫn nuôi hai đứa con gái nhỏ, làm thông tầm với tư cách thợ sắt và hy vọng cảnh sát ngừng việc nghi ngờ và điều tra anh. Nhưng rồi họ đã đến gặp anh vào một ngày tháng Giêng năm 1986, mang theo lệnh bắt tạm giam vì nghi anh phạm tội giết người cấp độ một, nếu được chứng thực có thể phải chịu án tử hình.

Viên luật sư thứ nhất của Greg, tuy được trả tiền hậu hĩ và được tiếng là người giàu kinh nghiệm, lại rất không nhiệt tình với công việc này. Một tháng trước khi ra hầu tòa, Greg thải hồi ông ta nhưng rồi anh lại phạm một sai lầm khủng khiếp là đi thuê George Briggs, một luật sư già đã sắp nghỉ sau một thời gian dài hành nghề. Tiền thù lao là 2.500 đô la. Hai bên đã ngã giá và George Briggs nhận lời bảo vệ anh.

Vị luật sư này thuộc lớp luật sư nông thôn kiểu cũ. Anh kiếm chứng cứ của anh, tôi kiếm chứng cứ của tôi, rồi hai chúng ta sẽ trình bày trước tòa và đấu tranh đến cùng. Không có sự khám phá nào trước khi tòa làm việc. Khi nghi ngờ, người ta nghe theo bản năng và cứ xét xử bất chấp mọi thứ.

Luật sư già George Briggs còn nghiện rượu và nghiện thuốc an thần mà ông ta bắt đầu sử dụng từ cách đây đã vài năm, sau khi bị một tại nạn xe hơi khiến ông ta bị chấn thương một phần não. Hôm nào gặp may, tuy sặc mùi thuốc giảm đau nhưng ông ta còn cố giữ được tỉnh táo. Nhưng hôm nào không may, ông ta ngáy khò khò trong buổi xét xử, đái dầm ra quần và nôn mửa trong phòng của thẩm phán. Người ta luôn thấy ông ta đi xiêu vẹo trên hành lang của tòa án. Greg cùng gia đình hoảng hồn khi thấy trong một bữa ăn, luật sư bào chữa cho họ nốc liền một lúc mấy chai bia.

Chánh án phiên tòa và các hội tư pháp nhà nước bang Oklahoma đều đã biết thói nghiện rượu và nghiện ma túy của vị luật sư già George Briggs, nhưng không cách nào ngăn được ông ta, hoặc giúp đỡ, che chở thân chủ của ông ta.

Gia đình Greg phát hiện được một chuyên gia rất giỏi về nghiên cứu các vết cắn tại thành phố Kansas, nhưng luật sư George Briggs quá bận, không tìm được thời gian đến gặp và trao đổi với ông chuyên gia này. Vị luật sư già kia cũng không thẩm vấn một nhân chứng nào, và đúng như Greg sau này đã thấy lo, là ông ta chuẩn bị cho việc bào chữa trước tòa hết sức đại khái.

Phiên tòa diễn biến hệt như một cơn ác mộng. Ủy viên công tố mời hai chuyên gia về các vết răng cắn, một trong hai người mới tốt nghiệp trường trung cấp Răng Hàm Mặt chưa đến một năm. Luật sư George Briggs không bác được những kết luận của ông chuyên gia răng hàm mặt trung cấp này. Hội đồng xét xử thảo luận trong hai tiếng đồng hồ rồi khẳng định Greg có tội. Luật sư George Briggs không mời được một nhân chứng nào xác nhận điều gì ngược lại. Hội đồng thảo luận thêm một tiếng đồng hồ nữa rồi tuyên án Greg tội tử hình.

Đúng ba mươi ngày sau, Greg bị giải ra tòa lần nữa để chính thức nhận bản án tử hình.

Trong xà lim số 9, Greg treo những tờ báo lên che kín các chấn song sắt ở cửa để không ai nhìn thấy anh. Anh cố tự nhủ bản thân rằng mình không phải đang nằm ở khám tử tù, mà chỉ đang nằm trong phòng riêng một mình, giết thời gian bằng cách đọc ngấu nghiến sách báo và nhìn màn hình chiếc máy thu hình nhỏ của anh. Greg không nói chuyện với ai, ngoài trực ban, là người ngay trong lần nói chuyện đầu tiên đã hỏi anh có mua cần sa không. Có, anh cần.

Thoạt đầu, Greg đâu biết rằng chỉ một số rất ít người may mắn ra thoát cái khám tử tù này trong khi vẫn còn sống. Họa hoằn lắm mới có trường hợp tòa phúc thẩm thay đổi bản án. Đấy là khi có luật sư bào chữa giỏi, có thẩm phán sáng suốt và thêm vào là một loạt may mắn khác nữa. Những trường hợp như thế vô cùng hiếm. Nhưng không ai nói điều ấy ra với Greg. Anh vẫn đinh ninh sẽ vượt qua được cái án tử hình.

Suốt trong sáu tháng liền, Greg chỉ ra khỏi xà lim khi cần tắm. Anh tắm cho thật nhanh và bao giờ cũng tắm một mình. Tuy nhiên dần dần anh quen được với một hoặc hai bạn tù. Họ rủ anh ra sân tập một tiếng đồng hồ và tiếp xúc với mọi người. Khốn nỗi hễ cứ bắt đầu trò chuyện với ai là Greg đều làm người ta không ưa. Greg là một “thứ hiếm hoi” trong khám tử tù, một người tuyệt đối tán thành án tử hình. Kẻ đã phạm tội ác lớn nhất là hủy diệt tính mạng con người thì kẻ ấy phải đền tội, phải chết. Anh lớn tiếng lý lẽ như thế. Lập luận kiểu ấy người ta hiếm khi nghe thấy.

Greg còn phát triển một cái thói rất đáng ghét là xem tiết mục David Letterman trên màn hình và vặn cho âm thanh lên cao tột độ. Ở khám tử tù này, giấc ngủ là thứ người ta quý vô cùng. Nhiều người ngủ suốt nửa ngày. Trong khi ngủ, người ta cảm thấy như thoát khỏi được cái thế gian khốn khổ này. Thời gian ngủ là thời gian của ta, không phải của nhà nước.

Những kẻ giết người đã bị kết án thường không ngần ngại khi giết người thêm nữa. Chẳng bao lâu Greg nghe thấy lời đồn bảo anh là một người được ghi sổ đen. Mỗi khám tử tù đều có ít nhất một “thủ lĩnh” và tù nhân nào cũng khao khát được giữ cái chân ấy. Tại đây có những cách kiểm soát lẫn nhau trong các tù nhân. Chúng bắt nạt, đàn áp kẻ yếu, thường xuyên đòi tiền để được chúng để yên, hoặc nói theo kiểu chúng, hãy trả tiền để được hưởng quyền sống ở cái khám tử tù này! Khi lời đồn đến tai Greg là anh phải trả tiền “thuế” ấy, anh cười vang và nhắn lại với những kẻ ấy rằng anh sẽ không chịu trả một xu cho bất cứ kẻ nào, để được sống trong cái địa ngục này.

Khám tử tù nằm dưới quyền cai trị của Soledad, biệt danh của một tên sát nhân. Tên này một thời đã từng ngồi ở nhà tù khét tiếng tại bang California. Soledad rất ghét cái lý thuyết ủng hộ án tử hình của Greg, và cũng rất ghét David Letterman. Và bởi bất cứ một thủ lĩnh nào có đủ bản lĩnh để làm mọi người kính nể và sợ hãi cũng không ngại giết người, Greg trở thành mục tiêu của Soledad.

Trong khám tử tù này, ai cũng có kẻ thù. Họ đánh chém nhau dễ dàng, thường chỉ vì những cớ rất nhỏ. Một bao thuốc lá có thể gây nên một vụ đánh lộn ngoài sân tập hoặc trong nhà tắm. Hai bao có thể làm anh bị giết.

Greg cần có một người bạn để đề phòng cho anh phía sau lưng, tránh cho anh khỏi lo bị đánh lén.

***

Lần đầu tiên chị Annette đến thăm em tại nhà tù McAlester thật đau buồn và đáng sợ. Không phải vì chị chờ đợi một thứ gì khác. Chị đã định không đến đấy, nhưng Ron không có ai thân thiết ngoài hai bà chị.

Mấy tên gác cổng đánh chị ngã gục xuống rồi kiểm tra ví tiền của chị. Đi qua các dãy xà lim của Khám Lớn mà Annette thấy như đang chui vào ruột của một con quái vật. Những cánh cửa khi mở ra kêu ken két, những chiếc chìa khóa vặn kêu răng rắc và những gã quản giáo nhìn chị như nhìn một con vật lạ. Annette cảm thấy đầu óc mình trở thành mụ mẫm, bước chân đi mà như người mê ngủ, với một cái dạ dày quặn đau và một ví tiền cứ vơi đi rất nhanh.

Xưa kia hai chị em đều xuất thân từ một gia đình ấm cúng, hòa thuận, trên một đường phố rợp bóng cây. Chủ nhật đi lễ nhà thờ. Hàng trăm trận đấu bóng chày Ron đã tham gia khi còn là đứa trẻ. Vậy mà bây giờ sự thể đâm ra thế này. Tại đâu?

Mọi thứ rồi sẽ quen đi, Annette tự trấn an như vậy. Chị sẽ còn nghe thấy những âm thanh này và gặp những gã quản giáo này bao nhiêu lần nữa ấy chứ. Chị hỏi xem có thể đem quà, thí dụ thức ăn, quần áo, tiền đến cho em chị được không. Câu trả lời thốt ra rất nhanh: “Không!” Chỉ được mang một ít tiền thôi. Chị bèn dúi vào tay gã quản giáo một nắm tiền lẻ hy vọng gã sẽ chuyển đến tay em chị.

Phòng tiếp khách dài và hẹp, chia ra nhiều ngăn bằng những tấm vách dày để mỗi ngăn không nghe thấy tiếng nói chuyện ở ngăn bên cạnh. Mọi cuộc trò chuyện đều phải qua điện thoại và nhìn nhau qua một ô cửa nhỏ xíu. Nhất thiết không được và cũng không thể chạm vào người nhau.

Cuối cùng thì Ron cũng đã ra. Trong nhà tù không ai vội vã. Trông anh có vẻ khỏe mạnh, nhưng có phần hơi bệu. Cân nặng của anh khi thì tăng lên, khi lại tụt xuống một cách đáng lo ngại.

Ron cảm ơn chị đã đến thăm, nói với chị rằng cậu sống ở đây tạm ổn, chỉ thiếu một thứ là tiền. Thức ăn tử tù vô cùng tồi tệ và anh cần mua thứ gì đấy ở căng tin để ăn thêm. Ron còn bảo anh rất thèm có một cây đàn ghi-ta, một số sách báo, tạp chí, và một máy thu hình nhỏ, những thứ anh có thể mua ở căng tin.

“Chị tìm cách nào cho em ra khỏi đây đi, Annette!” Anh lặp đi lặp lại lời năn nỉ ấy. “Em không giết Debbie và chị biết rõ như thế.”

Annette không bao giờ chao đảo lòng tin rằng em chị vô tội, mặc dù một số người trong gia đình có phần nghi ngờ điều ấy. Hai vợ chồng chị, chị và anh Marlon cùng làm việc và nuôi cả một gia đình, đồng thời cố để dành ra đôi chút. Tiền nong eo hẹp. Sẽ còn phải chi vào những việc gì? Những luật sư ăn lương nhà nước thường chỉ nhận công việc khi nào tòa phúc thẩm xem lại bản án của em chị.

Ron nói: “Chị bán cái nhà của chị đi rồi thuê một luật sư tầm cỡ. Bán mọi thứ đi. Hãy làm mọi thứ. Cố làm em thoát khỏi nơi này.”

Cuộc gặp căng thẳng và Annette khóc ướt đầm hai má. Một tù nhân khác bước vào ngăn bên cạnh ngăn Ron đang tiếp chị. Annette chỉ nhìn thấy anh ta lờ mờ qua tấm kính dày, nhưng chị tò mò muốn biết y là ai và người bị y giết là người thế nào.

Ron bảo đấy là Roger Dale Stafford, một tên sát nhân nổi tiếng giết nhiều người. Y đã phải nhận chín bản án tử hình. Y đã giết sáu người, trong đó năm ở độ tuổi dưới hai mươi, đằng sau một cửa hiệu bán thịt nướng, tại thành phố Oklahoma City trong một vụ cướp táo tợn. Ngoài ra y còn giết cả nhà một gia đình gồm ba nhân mạng.

Chúng đều là những tên giết người, Ron nói tiếp. Và tất cả bọn chúng chỉ nói đến mỗi một chuyện là giết người. Trong khám tử tù này, đến đâu cũng chỉ thấy toàn những con người như thế, những chuyện tương tự như thế. Chị phải làm cách nào để em thoát khỏi địa ngục này.

Annette hỏi em có cảm thấy an toàn không?

Không. Sống giữa toàn bọn giết người làm sao thấy an toàn được? Xưa nay Ron vẫn tán thành phải có án tử hình, nhưng bây giờ anh càng tán thành hơn nữa. Anh giữ trong lòng quan niệm ấy, không nói ra với ai ở đây.

Không có quy định gì về hạn chế thời gian thăm viếng. Cuối cùng hai chị em chia tay nhau, và hứa sẽ viết thư và gọi điện cho nhau. Sau khi bước chân ra khỏi nhà tù McAlester, Annette thấy đầu óc mình dường như hoàn toàn trống rỗng.

Những cuộc gọi điện thoại lập tức đến ngay. Tại khám tử tù này, máy điện thoại đặt trên một chiếc xe và được đẩy đến xà lim nào có người gọi. Một quản giáo quay số rồi đưa ống nói cho tù nhân qua ô cửa nhỏ bố trí trong cửa ra vào ở mỗi xà lim. Ron là người gọi xe chở máy điện thoại đến nhiều nhất.

Anh bắt đầu hay xin tiền, 20 đô la hoặc 30 đô la, để anh mua thức ăn và thuốc lá. Hai bà chị, Annette và Renee, mỗi người hàng tháng cố gửi lấy 40 đô la cho cậu em, nhưng họ cũng có những khoản chi tiêu của họ và chỉ thừa ra một số tiền nhỏ. Không bao giờ Ron nhận được đủ số tiền anh yêu cầu, cho nên anh luôn nhắc hai chị về chuyện ấy. Anh hay cáu gắt, trách hai chị không yêu em, nếu yêu thì phải làm cách nào để Ron thoát khỏi nơi này. Anh vô tội, ai cũng biết điều ấy, và anh không có ai nghĩ đến và có thể giúp anh thoát khỏi cái địa ngục trần gian này, ngoài hai chị.

Những cú điện thoại ít khi vui vẻ, mặc dù cả hai chị đều không muốn tranh cãi với em. Đến một độ nào đấy, Ron thường lại nhắc hai chị rằng anh rất yêu cả hai chị.

Chồng của Annette đặt mua tạp chí Địa lý thiên nhiên và báo Tin tức buổi chiều ở Ada. Ron muốn theo dõi tình hình ở thị trấn quê hương.

Sau khi Ron Williamson đến nhà tù McAlester không lâu, lần đầu tiên anh nghe thấy có người kể về lời thú tội của Ricky Joe Simmons. Luật sư Barney biết là có lời thú tội đã được ghi hình ấy, nhưng không định sử dụng nó trong phiên tòa và cũng không nói điều này ra với thân chủ của ông. Một nhân viên điều tra thuộc Hệ thống phòng thủ Quốc nội đem băng ghi hình cuộc thú tội ấy đến nhà tù McAlester, đưa Ron xem. Anh kinh ngạc. Vậy ra có một người đã thừa nhận y giết cô Debbie Carter, tại sao tòa lại không biết gì về chuyện ấy.

Chắc chắn chẳng bao lâu tin này sẽ lan ra ở thị trấn Ada và Ron muốn đọc xem chuyện ấy được đưa tin trên tờ báo địa phương như thế nào.

Ricky Joe Simmons trở thành một nỗi ám ảnh khác, có lẽ là ám ảnh chính yếu, và Ron đã bị cái ám ảnh ấy theo đuổi suốt bao nhiêu năm trời.

Ron tìm cách gọi điện cho tất cả mọi người, anh muốn khắp mọi người đều biết về Ricky Joe Simmons. Lời thú tội của y là tấm giấy ra tù của Ron, và anh muốn thấy một người nào đấy đưa thằng cha kia ra tòa. Anh gọi điện cho ông luật sư già Barney, cho nhiều luật sư khác, cho nhiều quan chức của quận Pontotoc, thậm chí cho cả bạn bè cũ, nhưng hầu hết đều từ chối không muốn buộc tội ai theo kiểu chỉ dựa theo lời nói như thế.

Nhà tù thay đổi nội quy, và quy chế ưu tiên về sử dụng máy điện thoại bị hạn chế sau khi xảy ra chuyện hai tù nhân của khám tử hình gọi điện cho gia đình nạn nhân của chúng, chỉ nhằm mục đích đùa chơi. Vẫn được phép mỗi tuần gọi điện thoại trung bình hai lần, nhưng số máy thì phải trình báo trước cho ban giám đốc nhà tù.

***

Mỗi tuần một lần, trực ban đẩy chiếc xe chở những cuốn sách và tạp chí được tù nhân thích đọc dọc theo hành lang Khám F. Greg Wilhoit đọc tất cả những gì anh có thể kiếm được: sách tiểu sử, tiểu thuyết thần bí, truyện chinh phục miền Tây... Tác giả Stephen King được anh mê nhất, nhưng tác phẩm anh thật sự thích chính là của John Steinbeck.

Greg Wilhoit khuyến khích Ron Williamson đọc sách, coi đọc là một thứ trốn khỏi thực tế phũ phàng hiện nay. Thế là ít lâu sau, đôi bạn tranh luận về ưu khuyết điểm của cuốn “Những chùm hoa của Wrath" và “Phía đông của vườn Eden". Đấy là đề tài hiếm thấy ở khám tử hình. Hai người đứng nhiều giờ liền, tựa người lên những thanh chấn song sắt ở cửa xà lim, trò chuyện. Câu chuyện trao đổi giữa họ xoay quanh sách, bóng chày, phụ nữ, những bản án người ta gán cho họ.

Cả hai đều ngạc nhiên khi biết rằng hầu hết tù nhân giam giữ trong khám tử hình không cho là họ vô tội. Trái lại, họ còn tự hào, thậm chí mỗi khi kể lại những tội ác ấy cho người khác nghe, họ còn tô điểm thêm cho tội ác của họ khủng khiếp hơn nữa. Cái chết là đề tài thường ngày. Thêm vào đấy là những đề tài về giết người, về phiên tòa xét xử các vụ án mạng, về những tên sát nhân chưa bị đưa ra tòa xét xử...

Thấy Ron một mực nói mình vô tội, Greg bắt đầu tin. Mỗi tù nhân ở đây đều giữ bên mình bản sao biên bản phiên tòa xét xử họ. Greg đọc biên bản phiên tòa xét xử Ron, tất cả dày hai ngàn trang. Anh rất phẫn nộ khi thấy cách thức xét xử ở thị trấn Ada. Ron đọc biên bản phiên tòa xét xử Greg và cũng phẫn nộ trước cách thức xét xử ở quận Osage.

Đôi bạn tin lời nhau và không cần quan tâm đến sự nghi ngờ của những tù nhân khác.

Trong những tuần lễ đầu tiên của họ trong khám tử tù, tình bạn đã có tác dụng như liều thuốc đối với Ron Williamson. Vậy là ít nhất có một người ở đây tin anh, tin là anh vô tội. Một người anh có thể trò chuyện trong nhiều tiếng đồng hồ liền. Một người biết cách nghe anh nói với thái độ hiểu biết và thông cảm.

Rời xa được cái nhà tù ngột ngạt ở thị trấn Ada, lại tìm ra được một người bạn, tinh thần Ron được cải thiện rõ rệt. Tâm trạng anh ổn định dần. Anh không còn nói oang oang, đi lại lồng lộn như con thú, gào thét rằng mình vô tội nữa. Bây giờ Ron ngủ rất nhiều, đọc sách rất nhiều, hút thuốc lá liên tục và chuyện trò liên miên với Greg Wilhoit.

Đôi bạn cùng ra sân tập, người này quan sát phía sau lưng người kia để đề phòng cho nhau khỏi bị kẻ nào đánh lén. Chị Annette gửi thêm tiền đến và Ron mua một chiếc máy thu hình nhỏ ở căng tin. Chị còn biết một cây đàn ghi-ta quan trọng đến mức nào đối với cậu em, thế là chị lập tức nghĩ xem có cách nào mua cho em được một cây ghi-ta. Căng tin lại không bán đàn. Sau nhiều cú điện thoại và thư từ, chị thuyết phục được các quan chức nhà tù cho phép cửa hiệu nhạc cụ ở thị trấn McAlester được đem hàng vào bán ở căng tin của nhà tù.

Điều rắc rối xảy ra từ khi Ron có đàn. Sốt ruột muốn trổ tài cho các bạn tù thấy, Ron bắt đầu đánh đàn ầm ĩ và hát to hết cỡ. Mọi người phản đối dữ dội, nhưng Ron lờ đi, coi như không nghe thấy. Anh yêu cây đàn ghi-ta và thích hát, nhất là những ca khúc của Hank Williams. Bản “Trái tim tráo trở của cưng” vang lên suốt dọc hành lang. Các tù nhân khác văng ra những tiếng chửi tục tĩu, nhưng ai văng ra thì người ấy tự nghe.

Rồi ông trùm Soledad cũng chán ngấy trò đàn hát ầm ĩ của Ron, đe sẽ giết anh. Ai quan tâm đến chuyện ấy? Ron đáp. Tôi đã nắm bản án tử hình trong tay, đằng nào cũng chết.

***

Khám F không hề làm gì để cải thiện vấn đề điều hòa nhiệt độ. Và khi mùa hạ đến, cả khám nóng bức như trong phòng tắm hơi. Các tù nhân cởi hết quần áo ra rồi xô đẩy, chen chúc nhau trước cái quạt máy nhỏ xíu mua ở căng tin. Nhiều tù nhân thức dậy từ lúc mặt trời chưa mọc, sơ mi ướt đẫm mồ hôi. Một số tù nhân hoàn toàn không mặc quần áo.

Vì một nguyên nhân nào đấy, nhà tù tiếp nhận khách du lịch đến tham quan khám tử tù. Du khách thường là học sinh trung học, được cha mẹ cho tham dự những chuyến du lịch đến đây để con cái thấy sợ mà khi trưởng thành, sẽ không dám gây tội ác. Những khi thời tiết nóng bức, các quản giáo ra lệnh cho tù nhân mặc áo quần đầy đủ để khách du lịch còn đi qua thăm thú cuộc sống của tù nhân. Một số tuân theo nhưng một số không chịu.

Một tù nhân da đen biệt danh là Trâu Truồng, chuyên để tồng ngồng, không chịu mặc quần áo. Anh ta có một nghề kiếm thêm là thay ga vào bật lửa cho ai yêu cầu. Và khi đoàn tham quan đi ngang qua, cái thú của anh ta là áp mông lên thanh chấn song sắt ở cánh cửa xà lim và phát ra một tràng trung tiện. Trò ấy làm đám học sinh chối mắt, thế là họ bỏ dở cuộc tham quan.

Các quản giáo bảo anh da đen phải thôi cái trò ấy, nhưng anh ta không chịu. Các tù nhân thúc ép anh phải trật tự, nhất là trong lúc có khách tham quan. Cuối cùng, mỗi khi có đoàn tham quan đến thăm nhà tù, quản giáo phải đuổi anh ta đi ra chỗ nào khuất. Nhiều tù nhân cũng định bắt chước anh ta nhưng không đủ gan.

Ron đàn và hát cho cả các khách tham quan nghe.

***

Ngày 4 tháng Bảy 1988, Ron Williamson thức dậy trong trạng thái căm giận điên khùng và sau đấy không bình phục được nữa. Hôm ấy là Ngày Độc Lập, ngày lễ lớn nhất, có cả duyệt binh... vậy mà Ron bị nhốt trong một cái hốc khốn khổ chỉ vì một tội mà anh không gây ra. Vậy “Độc lập” còn có ý nghĩa gì nữa?

Ron bắt đầu lên cơn. Anh gào thét, chửi rủa, văng tục, kêu ầm lên là mình vô tội. Khi những tiếng ầm ĩ ấy lan theo hành lang ra khắp khám tử tù thì anh cũng phát điên. Anh quăng mọi thứ gì trong tầm tay: sách, báo chí, đồ vệ sinh, chiếc đài thu thanh nhỏ, cuốn Kinh Thánh, áo quần. Các quản giáo đứng ngoài theo dõi và khuyên anh nên bình tĩnh lại. Nhưng Ron chửi rủa cả họ, rồi gào thét mỗi lúc một to hơn. Bút, giấy, thức ăn mua ở căng tin bị anh ném khắp các chỗ. Rồi Ron vớ chiếc máy thu hình nhỏ quăng vào tường cho vỡ tan. Cuối cùng anh vớ cả cây đàn ghi-ta, đập liên tiếp vào các chấn song sắt ở cửa.

Hầu hết các tù nhân trong khám tử tù hàng ngày sử dụng một thứ thuốc chống trầm cảm tên là Sinequan. Thuốc này nhằm an thần và giúp ngủ ngon.

Cuối cùng các quản giáo thuyết phục được Ron uống thứ thuốc gì mạnh hơn, thế là anh thành đờ đẫn và im lặng. Sau đấy, cũng trong ngày hôm ấy, anh bắt đầu dọn dẹp xà lim.

Rồi Ron gọi điện cho chị Annette, vừa khóc vừa kể chị nghe chuyện mới xảy ra vừa rồi. Hôm sau chị đến thăm, và cuộc thăm viếng diễn ra rất không vui. Ron hét vào điện thoại, trách chị không cố gắng tìm cách cứu anh thoát ra khỏi chỗ này. Rồi Ron đòi chị bán hết mọi thứ để thuê luật sư giỏi, có tài thuyết phục tòa sửa lại bản án bất công kia. Annette khuyên giải em hãy bình tĩnh, đừng gào thét thêm nữa. Khi thấy em vẫn la hét, chị dọa sẽ bỏ về.

Ít lâu sau hai chị Annette và Renee góp tiền mua cho em một chiếc máy thu hình nhỏ khác, một đài thu thanh và một cây đàn ghi-ta khác.

***

Tháng Chín 1988, một luật sư ở thành phố Norman, tên là Mark Barrett đến nhà tù McAlester gặp thân chủ mới của ông. Ông là một trong bốn luật sư chịu trách nhiệm về tiến hành phúc thẩm cho những bị cáo nghèo bị quy là thủ phạm trong những vụ trọng án. Vụ án của Ron Williamson được giao cho Mark Barrett, người chưa tham gia gì vào việc xét xử vụ án này.

Trong những vụ trọng án, xét xử phúc thẩm là điều nhất thiết phải tiến hành, không cần ai yêu cầu. Các tư liệu về vụ án đã được xếp thứ tự, quá trình nghiên cứu đã được bắt đầu. Luật sư Mark Barrett giải thích cho Ron Williamson hiểu như thế rồi ông lắng nghe lời trình bày dài dòng về chuyện anh vô tội. Ông luật sư không ngạc nhiên khi ngồi nghe những lời biện bạch kiểu như vậy, và ông cũng chưa nghiên cứu biên bản phiên tòa xét xử vụ án này.

Để giúp ông luật sư mới, Ron trao tận tay ông bảng kê các nhân chứng đã khai dối trá tại phiên tòa xét xử anh. Rồi, một cách tỉ mỉ, Ron miêu tả cho ông luật sư Mark Barrett nghe về thực chất và tầm vóc của những lời khai dối trá ấy.

Luật sư Mark Barrett nhận thấy Ron thông minh, biết suy luận lô-gíc, hiểu rõ những khó khăn của bản thân và hoàn cảnh xung quanh. Ron nói năng rõ ràng, lưu loát và thuật lại chi tiết về những thủ đoạn dối trá mà cảnh sát và ủy viên công tố đã sử dụng để chống lại anh. Ron có lúc như hốt hoảng, nhưng đấy là điều ông có thể hiểu được. Ông chưa có ý niệm gì về bệnh trạng của Ron.

Thân sinh của Mark Barrett là một linh mục nhà thờ Thiên chúa giáo, và khi biết được chi tiết ấy trong lai lịch của ông, Ron mừng rỡ, bắt đầu trò chuyện rất nhiều về giáo lý Cơ đốc với ông. Anh muốn ông luật sư biết rằng anh là một tín đồ sùng tín, đã được dạy dỗ trong nhà thờ, do hai bậc cha mẹ anh đều là những con chiên kính Chúa và chăm chỉ đọc Thánh Kinh.

Ron cũng đọc ra luôn một loạt những câu trích trong Thánh Kinh, khiến luật sư Mark Barrett rất ấn tượng. Gặp điều nào Ron còn băn khoăn hoặc chưa hiểu thấu đáo, anh liền đưa ra hỏi Mark Barrett, nhờ ông luật sư giảng cho. Hai người trò chuyện say sưa. Điều quan trọng đối với Ron là hiểu được ý nghĩa sâu xa của câu văn trong sách Phúc Âm và anh đã từng băn khoăn về một số chỗ mình chưa hiểu thấu đáo. Những buổi đến thăm của luật sư Mark Barrett không có giới hạn thời gian, và các thân chủ của ông đều nóng lòng muốn được thoát ra khỏi xà lim của họ. Hai người trò chuyện hơn một tiếng đồng hồ.

Cảm giác ban đầu của luật sư Mark Barrett là Ron Williamson mộ đạo, là một người dễ trò chuyện, tuy có phần hơi thích nói nhiều. Như mọi khi, ông thường hồ nghi lời các thân chủ của ông kêu là mình bị quy tội oan, là mình vô tội. Nhưng không vì thế mà tấm lòng của ông khép lại trước nỗi lo lắng của thân chủ.

Luật sư Mark Barrett nhận cả việc xem xét mở phiên tòa phúc thẩm cho cả Greg Wilhoit. Và ông tin hoàn toàn là Greg không giết vợ.

Ông Mark Barrett biết rằng trong khám tử tù có những người bị xử oan, và thông qua trường hợp Ron Williamson, ông càng thấy rõ điều ấy. Và càng đi sâu vào hồ sơ vụ án, ông càng tin là Ron vô tội.

Giống như mọi chàng trai trẻ khác ở thị trấn Ada, Ron cũng sưu tầm hàng ngàn tấm ảnh, các tờ rơi, quảng cáo có hình các cầu thủ bóng chầy nổi tiếng và các tên tuổi khác trong làng bóng chầy như Mickey Mantle, Whitey Ford, Yogi Berra, Roger
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.