Ba tháng sau khi xảy ra vụ án mạng cô Debbie Carter, thanh tra Dennis Smith và thám tử Mike Kieswetter đến nhà Ron Williamson và lần đầu tiên thẩm vấn anh. Bà Juanita cũng có mặt trong cuộc thẩm vấn. Khi được hỏi anh ở đâu trong đêm 7 tháng Mười hai, Ron trả lời anh không nhớ, vì đã lâu, cách đấy những ba tháng. Có, anh có hay đến câu lạc bộ Coachlight cũng như đến các nhà hàng và câu lạc bộ khác trong thị trấn Ada. Bà Juanita tìm sổ nhật biên của bà, xem lại trang ghi các việc xảy ra vào ngày ấy, rồi nói với hai thám tử là con trai bà có ở nhà đêm hôm ấy, lúc mười giờ. Bà đưa họ xem những trang bà ghi vào cái ngày 7 tháng Mười hai ấy.
Ron được hỏi anh có biết cô Debbie Carter không. Anh trả lời anh không dám chắc chắn. Chắc hẳn anh có biết đến cái tên ấy vì từ hôm xảy ra vụ án mạng, người ta bàn tán rất nhiều đến cô ấy. Thanh tra Dennis Smith đưa ra một tấm ảnh cô gái. Ron xem rất kỹ. Có lẽ anh có quen cô này, mà cũng có thể không quen. Sau đấy anh xin xem lại một lần nữa. Trông cô hơi quen quen. Ron quả quyết khẳng định anh không biết gì về vụ án mạng, nhưng xin đưa ra ý kiến của anh, cho rằng hung thủ phải là một kẻ tâm thần, đã bám theo gót nạn nhân về nhà cô, đẩy cửa vào rồi sau khi gây án xong, hắn bỏ chạy ra ngoài.
Khoảng ba mươi phút sau, hai sĩ quan cảnh sát đề nghị Ron cho dấu vân tay, mẫu lông và tóc. Ron bằng lòng rồi theo hai ông đến trụ sở cảnh sát thị trấn.
Ba hôm sau, ngày 17 tháng Ba, thanh tra Dennis Smith và thám tử Mike Kieswetter quay lại và hỏi cũng những câu như hôm trước. Ron một lần nữa tuyên bố anh không liên quan gì đến vụ án mạng và đêm ngày 7 sang ngày 8 tháng Mười hai ấy anh chỉ ở nhà.
Cảnh sát cũng thẩm vấn một người nữa tên là Dennis Fritz, anh này nếu có bị nghi liên quan đến vụ án mạng thì chỉ vì là bạn của Ron Williamson. Theo một báo cáo của cảnh sát hồi ấy, thì Fritz là “một nghi phạm hoặc ít nhất cũng là quen với một nghi phạm trong vụ án mạng cô Debbie Carter.”
Dennis Fritz rất ít khi đến câu lạc bộ Coachlight và đã mấy tháng liền trước khi vụ án mạng xảy ra anh không đến. Không một bằng chứng nào nói anh có đến đấy và trong suốt tháng Ba không có một nhân chứng nào nhắc đến cái tên Fritz. Anh cũng chưa bao giờ lái xe chở Ron Williamson đến câu lạc bộ Coachlight. Dennis Fritz không biết Debbie Carter, không chắc mình đã gặp cô ấy bao giờ trước đây không, và cũng không có một chút ý niệm gì về nơi cô ấy ở. Nhưng vì bây giờ cuộc điều tra đang xoay quanh Ron Williamson và theo một dự đoán chưa có căn cứ cụ thể nào hết, là có hai hung thủ cùng gây vụ án mạng, cho nên nếu Ron Williamson là một thì Dennis Fritz rất có thể là tên thứ hai.
Dennis Fritz thuở nhỏ sống gần thành phố Kansas City và tốt nghiệp bậc trung học tại đây. Sau đấy anh theo học trường đại học Trung Đông đóng tại bang Oklahoma và đỗ cử nhân Sinh học năm 1971. Năm 1973, vợ anh, Mary, sinh đứa con gái duy nhất của họ, đặt tên là Elizabeth. Thời gian ấy, gia đình anh sống tại thành phố Durant, bang Oklahoma. Chị Mary dạy học tại một trường trung học gần đấy, còn Dennis Fritz thì làm cho hãng đường sắt.
Lễ Giáng sinh năm 1975, trong khi Dennis Fritz đi làm ngoài thành phố thì vợ anh, chị Mary, bị một thanh niên mười bảy tuổi giết. Cậu ta bắn chị một phát súng, trúng vào đầu, lúc Mary đang ngồi ở nhà.
Trong suốt hai năm sau đấy, Dennis Fritz không sao làm việc nổi. Lúc nào anh cũng hoảng sợ và dồn mọi chăm sóc, bảo vệ cho đứa con gái nhỏ Elizabeth. Năm 1981, khi cháu bắt đầu đi học thì Dennis cũng đi theo và nhận dạy học tại trường trung học thị trấn Konawa gần đấy. Mấy tháng sau anh dọn đến thị trấn Ada, thuê một ngôi nhà nhỏ, cách không xa nhà của gia đình Williamson, và cũng cách không xa căn hộ của Debbie Carter sau này sẽ thuê. Mẹ Dennis Fritz, bà Wanda, cũng đến ở với con trai để giúp trông cháu Elizabeth.
Dennis Fritz nhận dạy tại một trường trung học khác, môn sinh học, đồng thời làm huấn luyện viên cho đội bóng rổ của thị trấn Noble, cách nhà khoảng một tiếng đồng hồ chạy xe. Ban giám hiệu trường trung học cho phép anh được sử dụng một ngôi nhà lưu động đặt trong khuôn viên của trường. Thế là Dennis sống tại đấy, chỉ cuối tuần mới về thị trấn Ada với bà mẹ và con gái. Thị trấn Noble không có sinh hoạt ăn chơi ban đêm cho nên thỉnh thoảng Dennis cũng lái xe về thị trấn Ada vừa thăm con vừa để uống một ly rượu trong một nhà hàng hoặc câu lạc bộ nào đấy, và nếu tiện gặp một cô gái và hoàn cảnh lại thuận lợi thì tán tỉnh và làm tình với cô ta.
Vào một đêm tháng Mười một năm 1981, Dennis Fritz ở thị trấn Ada. Đang buồn, muốn uống một ly bia, thế là anh lái xe đến cửa hàng tùy chọn, nơi có thể uống bất cứ thứ gì và ăn một chút gì đấy. Anh thấy Ron Williamson cũng vừa lái xe vào bãi đỗ và ngồi thơ thẩn phía trước chiếc xe ô tô nhãn Buick của anh. Ron lơ đãng gẩy đàn ghi-ta và hát nhè nhẹ, đồng thời ngắm nhìn người qua lại. Dennis cũng thích chơi ghi-ta và may anh lại đem theo một chiếc để trên ghế sau trong xe. Anh bèn lấy ra, đến ngồi bên cạnh Ron, bắt chuyện làm quen với anh. Họ trao đổi với nhau về ca nhạc. Ron cho biết nhà anh chỉ cách đây vài lô nhà và mời Dennis về nhà anh ăn chút gì đấy. Từ đấy hai người thành đôi bạn.
Dennis Fritz nhận thấy nơi Ron ở chật chội và bẩn thỉu. Ron giải thích rằng anh sống với mẹ mà bà rất ghét mùi rượu cũng như khói thuốc cho nên anh cứ phải ru rú trong cái gian nhà kho này để khỏi làm phiền bà. Ron không đi làm và khi Dennis hỏi cậu làm gì suốt cả ngày thì Ron đáp là ngủ. Hai người đều tính thoải mái, họ nói chuyện với nhau đủ thứ và có vẻ hợp nhau. Dennis thấy Ron cởi mở và vui tính, hơi một chút cũng bật cười được, nhưng đồng thời anh cũng cảm thấy hình như Ron thần kinh không được bình thường.
Nhưng hai người cùng chơi ghi-ta, hát và bình luận chuyện ca nhạc rất vui và hợp nhau. Sau vài lần đến chơi, Dennis Fritz bắt đầu nhận thấy Ron uống bia rượu quá nhiều và tính tình thay đổi thất thường, vừa vui đấy có thể buồn hay cáu kỉnh ngay được. Ron nghiện bia rượu nặng và lệ thường của anh là ban ngày ngủ li bì, chiều thức dậy, tỉnh như sáo và bắt đầu nốc bia rượu, lúc này mẹ anh lại thường không có nhà nên Ron được hoàn toàn thoải mái. Bia rượu giúp anh chống lại trầm cảm, lấy lại được thăng bằng tinh thần, không chán đời nữa. Từ khi quen Dennis, hai người gặp nhau luôn rồi cùng kéo nhau đi uống.
Một buổi chiều, Dennis Fritz đến nhà Ron Williamson sớm hơn thường lệ, lúc Ron chưa dậy và chưa bắt đầu uống rượu. Anh nói chuyện với bà Juanita, một phụ nữ đáng mến nhưng lúc nào cũng rầu rĩ và có vẻ đã ngán cậu con trai đến tận cổ. Nói chuyện một lúc thì bà Juanita xin kiếu. Dennis bèn vào phòng ngủ của Ron tìm anh ta, thấy Ron đang ngồi thẫn thờ nhìn lên tường. Gian phòng làm anh cáu kỉnh và ít khi anh vào đây.
Trên tường treo tấm ảnh Patty, vợ Ron trước đây, nay đã li dị. Ảnh Patty được phóng to. Ngoài ảnh cô, còn rất nhiều ảnh chụp bản thân Ron trong nhiều tư thế và nhiều trang phục khác nhau, chủ yếu là đồng phục cầu thủ bóng chầy.
“Chị ấy đẹp đấy!” Dennis ngắm tấm ảnh Patty, nhận xét.
“Đã có thời mình có được mọi thứ”, Ron buồn rầu nói.
***
La cà các quán rựợu bao giờ cũng là chuyện không ai đoán trước được là sẽ gặp phải chuyện gì. Ron Williamson không bao giờ lặng lẽ bước vào một nhà hàng hay câu lạc bộ. Đến đâu anh cũng phải tỏ thái độ gì đấy để mọi người chú ý đến anh. Một trong những trò Ron thích nhất là mặc một bộ đồ sang trọng rồi tự nhận là một luật sư giàu có ở bang Dallas.
Năm 1981 Ron Williamson đã trải qua khá nhiều thời gian trong những phiên tòa xét xử, đâm ra vở kịch ngắn “Phiên tòa xử vụ Tanner” đã được anh “biểu diễn” trong nhiều phòng khách khắp vùng Norman và khắp thành phố Oklahoma City.
Tính Dennis Fritz lại khác. Anh thích ngồi ở vị trí kín đáo, thường là phía sau, không muốn làm ai chú ý đến mình. Anh để mặc cho Ron huênh hoang khoe mẽ gì tùy thích và anh cũng bắt đầu ngán anh bạn mới này. Đêm nào đi chơi và uống bia rượu với Ron cuối cùng cũng dẫn đến một cuộc cãi cọ hoặc một kết thúc không lấy gì làm vui vẻ.
Trong mùa hè năm 1982, sau một đêm uống rượu say khướt, đôi bạn lái xe về thị trấn Ada. Ron tuyên bố anh sẽ đến Galveston. Chẳng là Dennis Fritz đã dại dột kể về thị trấn này, một cảng nước sâu chuyên nghề đánh cá, thế là Ron tuyên bố cái nghề ấy rất hợp với anh. Cả hai đang say khướt. Họ lái xe suốt tám tiếng đồng hồ trên xe của Dennis Fritz. Nói chung Ron không có xe, không có bằng lái và cũng không có tiền để mua xăng.
Đang nghỉ hè, lại có tiền rủng rỉnh trong túi, tội gì Dennis Fritz không đi đến một nơi nào đấy câu cá nước sâu? Thế là họ mua thêm ít bia và rượu để trữ sẵn và cho xe chạy về hướng nam.
Sang đến bang Texas, đến một chỗ, thấy Dennis Fritz bắt đầu ngủ gật, Ron bèn cầm tay lái thay. Lúc Dennis tỉnh dậy, anh thấy một người đàn ông da đen ngồi ghế sau. “Mình cho một người đi nhờ”, Ron nói giọng tự hào. Đến khoảng thành phố Houston, lúc trời rạng sáng, họ đỗ xe bên một cửa hiệu bán thực phẩm tùy chọn để mua thêm bia và thức ăn. Khi quay ra thì không thấy xe đâu nữa, người đi nhờ kia đã cuỗm chiếc xe chạy trốn mất rồi. Ron bảo anh quên, lại để chìa khóa bật công tắc trong ổ khóa, thậm chí Ron còn bảo có khi anh ta không chỉ để quên chìa khóa mà còn quên cả tắt máy nữa.
Hai chàng trai bèn đem bia ra nốc đến say khướt, để quên đi nỗi bất hạnh. Dennis Fritz bảo phải gọi điện báo cảnh sát, nhưng Ron ngại, không chịu. Hai chàng cãi nhau, rồi đánh nhau, cuối cùng Dennis vẫn gọi được cảnh sát. Nghe xong câu chuyện, viên cảnh sát cười vào mặt hai cậu.
Đôi bạn đang ở một khu vực vắng vẻ của thành phố. Tuy vậy họ vẫn tìm được một nhà hàng bán bia rượu và bánh pizza. Họ ăn pizza và nốc khá nhiều bia, rồi sục sạo các phố. Cuối cùng họ gặp một câu lạc bộ khiêu vũ loại bình dân của dân da đen. Và họ lảo đảo bước đến. Ron đòi vào đấy chơi và nhảy. Dennis cho là không nên, nhưng đồng ý là dù sao vào đấy cũng an toàn hơn là lang thang ngoài đường. Ngồi vào quầy, Dennis lấy một vại bia và thầm mong không ai chú ý đến họ. Nhưng Ron thì do tính huênh hoang, cười nói huyên thuyên, muốn làm mọi người chú ý đến. Ron đang mặc một bộ đồ sang trọng và đóng vai một luật gia Dallas giàu có và ăn chơi. Dennis Fritz thì còn mải nghĩ đến xe ô tô bị mất, đang mong không bị ai đâm một nhát dao vào bụng. Trong khi ấy, anh bạn Ron lại vẫn huênh hoang khoe mẽ ta đây. Ron khoe anh ta là bạn thân của luật gia nổi tiếng Reggie Jackson.
Chủ câu lạc bộ là một chàng trai da đen tên là Cortez. Anh ta và Ron nhanh chóng trở thành đôi bạn thân thiết. Khi Ron kể câu chuyện bị mất ô tô, Cortez khoái trá cười vang. Đến lúc câu lạc bộ này đóng cửa thì Cortez rủ Dennis Fritz và Ron Williamson lên xe của mình để về nhà anh ta chơi. Nhà Cortez gần đây nhưng không có đủ giường cho hai bạn mới. Hai chàng trai da trắng ngủ ngay trên sàn nhà.
Khi Dennis Fritz thức dậy, nhớ đến xe ô tô bị mất cắp, anh lại nổi cơn uất giận. Anh quyết định về thẳng thị trấn Ada, không đi đâu nữa. Anh đánh thức Ron Williamson và cả hai năn nỉ Cortez chở họ, lấy giá rẻ một chút, đến ngân hàng nào đấy để Dennis có thể rút ít tiền ở cuốn ngân phiếu của anh ta. Đến ngân hàng, Cortez để hai bạn vào còn mình ngồi ngoài xe. Dennis lấy tiền xong đi ra thì khoảng một chục xe cảnh sát đã vây khắp các phía để bắt Cortez. Một sĩ quan cảnh sát cầm súng hét, đòi Cortez ra khỏi xe và đẩy anh ta lên ngồi ghế sau một chiếc xe của họ.
Ron và Dennis đành lê bước, quay lại ngân hàng, vội vã thanh toán tiền bãi, rồi lẩn ra lối cổng sau. Đôi bạn mua vé xe buýt. Chặng đường về nhà khá xa khiến họ rất mệt. Dennis Fritz đã chán ngấy Ron Williamson và rất uất về chuyện Ron đã để tên da đen kia lấy đi ô tô của anh. Anh tự thề với bản thân là từ nay sẽ cạch mặt bạn.
Một tháng sau, Ron Williamson gọi điện cho Dennis Fritz ngỏ ý muốn rủ anh đi chơi. Từ sau chuyến đi hẩm hiu đến thành phố Houston, tình bạn giữa hai người nhạt đi rất nhiều. Tuy nhiên Dennis cũng đang buồn, muốn ra ngoài chơi và khiêu vũ một chút, anh tự nhủ lần này sẽ không để mặc Ron muốn làm gì thì làm, đưa đi đâu thì đưa nữa. Tuy nhiên, anh thấy có vẻ Ron Williamson hồi này đã lành hơn. Ron rất thích cùng ngồi với Dennis tại nhà mình, đánh ghi-ta và hát. Nhưng lần này đi chơi với nhau, nếu đến quán hàng, Ron lại bốc lên và mọi chuyện xúi quẩy rất có thể lại xảy ra chưa biết chừng.
Dennis Fritz đến nhà Ron và đôi bạn cùng đi chơi. Dennis bảo đêm nay anh không thể la cà đến tận sáng như mọi lần, mà phải về sớm vì anh ta có hẹn với một cô gái. Chẳng là Dennis Fritz đang trong trạng thái yêu. Vợ anh mất đã bảy năm và anh đang muốn xây một tổ ấm mới, bền vững. Ron thì không có ý định ấy. Anh ta tán tỉnh phụ nữ chỉ cốt thỏa mãn nhu cầu tình dục chứ không nhằm thứ gì khác.
Lần này Ron Williamson không thay đổi được ý muốn của bạn, và khi Dennis đòi về để gặp người yêu thì Ron cũng đi theo. Khi thấy mình không được niềm nở đón tiếp, Ron nổi giận, bỏ đi. Nhưng anh không đi bộ mà lấy trộm xe ô tô của Dennis, rồi lái đến nhà Bruce Leba.
Dennis ở lại nhà người yêu, sáng hôm sau, thức dậy, anh phát hiện ra xe ô tô đã bị mất. Anh gọi điện báo cảnh sát, viết một bản khai, rồi gọi điện cho Bruce Leba, hỏi xem có biết Ron ở đâu không? Bruce Leba đồng ý đưa Ron và chiếc xe ăn cắp về thị trấn Ada. Khi đến nơi thì họ bị cảnh sát giữ lại. May mà sau đấy cảnh sát thả họ ra, nhưng từ đấy Dennis tuyệt giao với Ron trong nhiều tháng liền.
***
Dennis Fritz đang ở nhà tại thị trấn Ada thì nhận được cú điện thoại của thanh tra Dennis Smith yêu cầu đến phòng cảnh sát để trả lời một số câu hỏi. Câu hỏi gì? Dennis hỏi, và được trả lời rằng lúc đến nơi sẽ biết.
Dennis đến phòng cảnh sát với tâm trạng bực tức. Anh không có điều gì phải giấu giếm, nhưng mỗi lần có chuyện rắc rối với cảnh sát anh đều khó chịu. Thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers hỏi Dennis Fritz về mối quan hệ với Ron Williamson, một người bạn mà đã nhiều tháng nay anh không có quan hệ. Lúc đầu, những câu hỏi chỉ mang tính chất công việc, nhưng dần dần các câu hỏi mang tính chất thẩm vấn một nghi phạm. “Đêm 7 tháng Mười hai ông ở đâu?” Dennis Fritz không nhớ hôm ấy là hôm nào. Và anh phải nghĩ một lúc. “Ông có quen cô Debbie Carter không?” Không. Và vân vân. Sau một tiếng đồng hồ, Dennis Fritz ra khỏi trụ sở cảnh sát, hơi lo, thấy mình đang nằm trong một diện nghi vấn nào đấy.
Thanh tra Smith lại gọi điện lần nữa và đề nghị Dennis Fritz đến phòng cảnh sát để thử trên máy phát hiện nói dối. Do có hiểu biết về khoa học nên Dennis Fritz biết rằng loại máy này có xác suất hiệu quả rất thấp, cho nên anh miễn cưỡng làm theo yêu cầu của cảnh sát. Mà chưa bao giờ anh gặp cô gái tên là Debbie Carter kia. Anh thấy cần khẳng định rõ điều này với thanh tra Smith và thám tử Rogers.
Dennis Fritz được mời đến Phòng nghiệp vụ thuộc Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma tại Oklahoma City. Càng đến gần ngày, tâm trạng Dennis Fritz càng bồn chồn, khó chịu. Trước khi đến dự buổi thử trên máy, để làm dịu thần kinh, anh uống một viên thuốc an thần.
Cuộc thử trên máy phát hiện nói dối được tiến hành bởi chuyên gia điều tra Rusty Featherstone. Thanh tra Smith và thám tử Rogers lảng vảng gần đấy theo dõi. Khi việc thử đã xong, hai viên sĩ quan này đến xem kết quả và họ gật gù, có vẻ cho rằng đã tìm đúng đối tượng.
Họ cho Dennis Fritz biết là kết quả thử của anh “có tác dụng tốt”.
“Vô lý!” Câu trả lời đầu tiên của anh.
“Ông có giấu một điều gì đấy!” Họ nói.
Dennis Fritz công nhận là anh có bị hồi hộp và cuối cùng thú nhận rằng trước khi đến đây anh có uống một viên thuốc an thần. Điều này làm hai viên sĩ quan cảnh sát ngạc nhiên và họ yêu cầu anh thử thêm một lần nữa trên máy. Dennis Fritz đành chịu thử, bởi không có sự lựa chọn nào khác.
Một tuần lễ sau, điều tra viên Featherstone đem máy dò của ông ta đến lắp tại trụ sở cảnh sát thị trấn Ada. Dennis Fritz rất hoang mang nhưng vẫn trả lời các câu hỏi một cách thành thật và thoải mái.
Có vẻ anh lại bị coi là “khả nghi” thêm một lần nữa, và lần này còn rõ hơn lần trước, theo nhận định của điều tra viên Featherstone, cũng như thanh tra Smith và thám tử Rogers.
Trong cuộc thẩm vấn sau cùng trước máy phát hiện nói dối này, thám tử Rogers đóng vai “ông Ác”. Ông ta giận dữ quát: “Đúng là anh có giấu một điều gì đấy, Fritz!” Trong khi ấy, thanh tra Smith lại đóng vai “ông Thiện” ra vẻ thông cảm và tin vào mọi lời khai của Dennis Fritz. Cứ một bên tung lại một bên hứng như thế, hai viên sĩ quan cảnh sát như thể chơi trò hú tim với Dennis Fritz.
Thám tử Rogers ăn mặc theo kiểu một gã du đãng, đi ủng và lăng xăng đi đi lại lại, rồi lồng lộn trong phòng, hết quát tháo lại văng tục, rít thuốc lá liên tục, hết điếu này đến điếu khác, cốt đe dọa cho Dennis Fritz sợ. Nhưng Dennis Fritz vẫn bình tĩnh: “Các ông nghi lầm rồi. Không đúng đâu!”.
Cuối cùng thám tử Rogers thẳng thừng kết luận, chính Dennis Fritz đã tham gia vụ cưỡng hiếp cô gái Debbie rồi giết cô một cách cực kỳ dã man. Ông ta nổi cơn thịnh nộ, nói toạc ra là Dennis Fritz đã cùng với Ron Williamson nhúng tay vào vụ cưỡng hiếp và giết người cực kỳ tàn bạo này. Hai người đã phá cửa để vào căn hộ của nạn nhân.
Không có chứng cứ cụ thể, nên rất cần một lời thú nhận của kẻ có tội. Vì thế hai viên sĩ quan cố gắng bằng mọi cách khủng bố tinh thần của Dennis Fritz, buộc anh phải nói lên một lời thú tội. Nhưng Dennis Fritz vẫn một mực nói mình không dính dáng đến cái chết của cô Debbie Carter, khiến hai sĩ quan cảnh sát càng uất giận.
Dennis Fritz không bị kích động. Và không uy lực nào buộc anh phải nói sai sự thật. Nhưng sau hai tiếng đồng hồ bị quay như một học sinh hiền lành bị ông thầy nghiệt ngã quay trong phòng thi, cuối cùng Dennis Fritz kể một câu chuyện, mục đích để gọi là “cung cấp cho cảnh sát một món ăn cho đỡ cơn đói”. Anh kể về chuyến anh cùng Ron Williamson lái xe đi thành phố Norman vào mùa hè năm trước, về cái đêm la cà nhà hàng tìm gái. Rồi họ tìm được một cô. Cô gái lên ngồi ghế sau, và nổi khùng khi đòi ra khỏi xe nhưng Dennis Fritz không cho ra. Cuối cùng cô ta mở được cửa xe, băng ra ngoài, chạy đi gọi điện cho cảnh sát. Trong khi Dennis Fritz và Ron Williamson lái xe vào một bãi đỗ xe để tránh cảnh sát lùng tìm, rồi đôi bạn ngủ say sưa trong đó. Thế là thoát.
Câu chuyện ấy có vẻ làm nguội đi phần nào cơn hung nộ của hai viên cảnh sát trong vài phút. Tuy nhiên vì đã có định kiến về Ron Williamson nên bây giờ họ càng có thêm bằng chứng về mối quan hệ “đồng lõa” giữa hai người. Tin rằng họ không có bằng chứng gì về sự liên quan của mình đến cái chết của cô Debbie Carter, cho nên mặc cho họ nói gì thì nói, Dennis Fritz vẫn tin tưởng anh vô tội. Không ai buộc tội được anh. Còn nếu như hai viên cảnh sát này, thanh tra Smith và thám tử Rogers cứ bám chặt theo đuổi anh, thì tên hung thủ thật sự chỉ càng yên tâm là sẽ không bị gì hết.
Sau khi tra khảo suốt ba tiếng đồng hồ, hai sĩ quan cảnh sát bỏ đi. Cả hai đã tin chắc chắn Dennis Fritz có dính vào vụ án mạng, nhưng một tội ác phải được chứng minh không chỉ bằng một lời thú tội. Người cảnh sát tốt phải là người tìm ra được bằng chứng. Thế là họ bắt đầu bám sát Dennis Fritz, bám theo anh đi khắp mọi nơi, thỉnh thoảng lại giữ anh lại mà không có lý do nào hết. Nhiều lần thức dậy, Dennis Fritz nhìn qua cửa sổ ra ngoài thấy xe cảnh sát đậu ngay trước cửa nhà mình.
Dennis Fritz tự nguyện nộp mẫu vân tay, mẫu máu, mẫu lông và tóc, mẫu nước bọt. Tại sao không nộp kia chứ? Anh không có gì phải sợ hết. Có lúc Dennis thoáng nghĩ, hay tìm một luật gia và kể chuyện này ra với ông ta? Nhưng để làm gì? Có cần không? Anh hoàn toàn vô tội và chẳng bao lâu nữa, cảnh sát sẽ nhận ra điều ấy.
Thanh tra Smith điều tra sâu vào lý lịch Dennis Fritz và phát hiện năm 1973 anh phạm tội trồng cần sa ở thị trấn Durant. Có được thứ vũ khí này trong tay, ông ta cử một nhân viên thuộc phòng cảnh sát thị trấn Ada đến liên hệ với trường trung học tại thị trấn Noble, nơi Dennis Eritz đang dạy học, báo với ban giám hiệu nhà trường biết Dennis Fritz không chỉ đang nằm trong diện tình nghi bị theo dõi mà còn vi phạm nguyên tắc là đã có lần phạm tội dính dáng đến chất ma túy mà che giấu không chịu khai ra. Sau khi nghe biết chuyện này, ban giám hiệu đã lập tức sa thải Dennis Fritz.
***
Ngày 17 tháng Ba, nữ chuyên gia Susan Land công tác ở Phòng xét nghiệm Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma lại nhận được mẫu da đầu và mẫu lông ở bộ phận sinh dục nữa của hai người là Dennis Fritz và Ron Williamson, do thanh tra Smith gửi đến.
Ngày 21 tháng Ba, Ron đến trụ sở cảnh sát, sẵn sàng thử trước máy phát hiện nói dối, để chuyên gia B. G. Jones, một chuyên viên khác của cơ quan điều tra xem xét. Jones tuyên bố việc thử này không thể kết luận được. Ron nộp cả mẫu nước bọt. Một tuần sau, mẫu này được đưa đến phòng xét nghiệm của Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma, cùng với mẫu nước bọt của Dennis Fritz.
Ngày 28 tháng Ba, chuyên gia Jerry Peters cùng với phòng xét nghiệm Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma hoàn thành việc phân tích dấu vân tay. Trong bản báo cáo, ông chuyên gia này tuyên bố không có dấu vân tay nào trùng với các dấu vân tay của nạn nhân Debbie Carter, Ron Williamson cũng như của Dennis Fritz. Kết luận này lẽ ra phải là một tin tốt lành cho cảnh sát. Bởi nếu tìm được dấu vân tay nào trùng khớp, hẳn họ sẽ tìm ra được hung thủ.
***
Nhưng cảnh sát đã không nghĩ như vậy, họ thông báo cho thân nhân gia đình cô Debbie Carter là họ đã xếp Ron Williamson vào chân nghi phạm số một. Tuy hiện nay chưa có đủ chứng cứ nhưng họ sẽ tiếp tục theo dõi sít sao, từng bước, và sẽ lập hồ sơ hình sự về Ron Williamson. Rõ ràng anh ta là kẻ có nhiều điều khả nghi nhất. Một là anh ta cư xử rất quái đản, sống với mẹ, vô nghề nghiệp, nổi tiếng là chuyên dụ dỗ đàn bà con gái, thường xuyên la cà những nơi công cộng, quán hàng, câu lạc bộ, coi thường mọi thứ, nhà lại ở gần nơi xảy ra án mạng. Nếu dùng kiểu đi tắt bên trong, Ron có thể đến căn hộ của cô gái Debbie Carter bất cứ lúc nào, và chỉ mất vài phút.
Thêm nữa Ron Williamson lại có hai vụ phạm pháp ở thị trấn Tulsa. Có rất nhiều khả năng trong hai vụ ấy anh ta chính là kẻ cưỡng dâm, mặc dù tòa án ở thị trấn Tulsa hồi ấy không kết luận là anh ta có tội.
Sau khi vụ án mạng cô gái Debbie Carter xảy ra ít lâu, bà dì của nạn nhân là Glenna Lucas nhận được một cú điện thoại nặc danh và bà nghe thấy một giọng đàn ông nói: “Cháu mụ đã chết, bây giờ sắp đến lượt mụ”. Nghe xong, bà Glenna hoảng hốt nhớ lại những câu viết trên tường ở căn hộ của cháu gái bà hôm ấy, viết bằng chất sơn móng tay. “Thằng Jim Smith sẽ phải chết nay mai”. Sự tương tự này làm bà rất sợ. Nhưng lẽ ra phải báo cảnh sát, thì bà lại gọi điện báo cho tòa án quận Pontotoc đóng tại thị trấn Ada.
Ủy viên công tố ở tòa án quận Pontotoc là Bill Peterson, một thanh niên vóc to lớn, con một gia đình có địa vị ở thị trấn Ada. Ông ta giữ chức vụ này đã được ba năm. Quận của ông ta bao gồm ba hạt: Pontotoc, Seminole và Hughes, và cơ quan của ông ta đóng trong trụ sở tòa án.
Bill Peterson biết gia đình cô Debbie, và giống như bất cứ một ủy viên công tố nào khác, ông ta cũng lo giải quyết cho xong vụ án. Thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers thường xuyên báo cáo với Bill Peterson tiến triển của cuộc điều tra.
Bà Glenna miêu tả nội dung và giọng đe dọa bà trên máy điện thoại cho Bill Peterson, thế là họ đồng ý với nhau rằng người gọi rất có thể chính là Ron Williamson. Chỉ cần đi vài bước chân từ gian để ô tô của nhà anh ta sang lối đi sau, anh ta có thể nhìn thấy chỗ ở của Debbie. Còn nếu đi thêm vài bước nữa, Ron Williamson có thể nhìn thấy nhà của bà Glenna. Nhà gia đình Williamson nằm gần đúng điểm giữa hai nhà của hai dì cháu. Ron Williamson lại vô nghề nghiệp, cách xử sự hết sức thất thường và thường xuyên nhìn ra các gia đình xung quanh anh ta.
Ủy viên công tố Bill Peterson bố trí một máy ghi âm gắn vào máy điện thoại của bà Glenna để theo dõi. Nhưng sau lần ấy, không lần nào thấy tiếng của một người vô danh nào đấy gọi đến nữa.
Con gái bà Glenna, tên là Christy, lên tám tuổi nhưng rất biết nỗi đau xót chung của cả nhà. Bà Glenna sợ, không dám để con gái đi đâu một mình hoặc sử dụng điện thoại. Và bà luôn căn dặn nhà trường chú ý che chở cho đứa trẻ.
Đã bắt đầu có những tiếng xầm xì xung quanh gia đình và họ hàng Carter về nhân vật Ron Williamson. Thằng cha ấy giết cô gái Debbie vì mục đích gì? Tại sao cảnh sát chưa bắt hắn?
Tiếng xầm xì và đàm tiếu cứ lan dần, kích thích thêm những điều “phỏng đoán” khác chẳng có cơ sở nào hết. Rồi khắp thị trấn xôn xao: tại sao cảnh sát chưa bắt thằng cha dở điên dở khùng Ron Williamson ấy đi? Tại sao một kẻ nguy hiểm như thế mà vẫn được để tự do đi lại trên đường phố của thị trấn?
***
Một năm rưỡi sau khi khám bác sĩ Snow lần cuối cùng, Ron Williamson đúng là cần phải không được ra đường nữa. Lẽ ra anh phải được điều trị cẩn thận trong một bệnh viện chuyên khoa hẳn hoi.
Tháng Sáu năm 1983, trước lời năn nỉ của bà mẹ, Ron lại một lần nữa đi bộ đến bệnh viện chuyên khoa Tâm thần của thị trấn Ada. Anh khai là mắc chứng trầm cảm nặng và không muốn hoạt động gì nữa. Ron được đưa tiếp đến thị trấn Cushing. Tại đây anh được bác sĩ chuyên khoa phục hồi Al Roberts khám. Bác sĩ Roberts làm phép tính và thấy chỉ số IQ của Ron Williamson là 114. Không những thế, tinh thần cũng như trí tuệ của anh hoạt động rất tốt. Thế là bác sĩ cho rằng tình hạng hiện nay của Ron như thế này là do não bị tổn thương, mà nguyên nhân là do uống quá nhiều bia rượu.
Bác sĩ Roberts viết: “Bệnh nhân này cần được chữa trị cấp tốc”. Ron bồn chồn, lo lắng, cáu kỉnh và bị trầm cảm nặng.
Bệnh nhân là một người có tính cách không chịu khuất phục hoàn cảnh và rất ghét mọi hình thái cưỡng bức. Thái độ ứng xử của anh ta rất thất thường, không ai đoán trước được. Anh ta có vấn đề về khả năng kiềm chế các xung lực nội tâm. Anh ta rất đa nghi vì không tin người xung quanh. Anh ta thiếu hẳn sự khéo léo trong giao tiếp và rất không bình tĩnh khi có mặt những người khác. Tính cách này là của những người ít nhận trách nhiệm về hành vi của mình và có cách ứng xử kiểu bột phát, họ rất dễ nổi giận mỗi khi cảm thấy bị xúc phạm. Anh ta nhìn thế giới bao quanh như thứ gì đe dọa gây hại cho anh ta và anh ta tự vệ bằng cách chống cự quyết liệt hoặc bỏ trốn. Ron tỏ ra rất thơ ngây và luôn tỏ ra là một con người không quan tâm đến thứ gì khác.
Ron làm đơn xin theo học một chương trình rèn luyện năng khiếu tại trường Đại học Trung Đông đóng tại thị trấn Ada, để có được tấm bằng cử nhân môn hóa, hoặc theo học một chương trình thể thao để có thể trở thành huấn luyện viên thể thao. Anh bằng lòng để người ta thẩm tra anh tỉ mỉ hơn về trạng thái tâm thần qua một loạt “tét”[1]. Giáo viên tiến hành thí nghiệm là Melvin Brooking, một trợ lý tâm lý làm việc trong cơ sở Phục hồi chức năng.
Ông Brooking biết rõ Ron và gia đình Williamson, thậm chí có thể nói biết rất rõ. Ông thường gọi Ron là “Ronnie”.
Về sự nghiệp thể thao của anh, ông viết:
“Tôi không biết nếu cho Ronnie vào học đại học thì nên xếp cậu ta vào loại sinh viên gì. Cậu ta đã tốt nghiệp trung học và tôi biết rằng cậu ta là một vận động viên thể thao xuất sắc, nhưng bị mắc tật nóng nảy, thói tật của loại trẻ tuổi mà quen được nuông chiều. Ronnie có một khả năng tập trung cao độ và mắc thói dễ gây gổ. Thái độ hay có nhất của Ronnie, sự không biết cách thích ứng với mọi người và tính bất chấp quy tắc, luật lệ, đã khiến cậu ta trở thành một thành viên không thích hợp trong mọi hoàn cảnh cậu ta rơi vào”.
Về gia đình Williamson, ông viết: “Mẹ của Ronnie suốt đời là một phụ nữ lao động thủ công. Bà đã mở một phòng thẩm mỹ, tự điều hành và đích thân làm nghề trong nhiều năm. Cả cha và mẹ Ronnie đều để mặc cho con họ tự lo liệu lấy trong những thời kỳ khủng hoảng, riêng bà mẹ về sau có quan tâm, hỗ trợ con trai, nhưng chỉ về mặt tình cảm, còn về mặt sức lực và tài chính thì bản thân bà cũng bất lực.”
Về chuyện cuộc hôn nhân của Ron bị tan vỡ, ông viết: “Cậu ta cưới một phụ nữ cực kỳ xinh đẹp, đã có năm được bầu là Hoa hậu của thị trấn Ada, nhưng cuối cùng cô ấy cũng không chịu nổi tính khí thất thường và sự bất lực của cậu ta khi cần phải kiếm tiền để nuôi gia đình. Và cô ấy đã bỏ cậu ta.”
Tất nhiên, Ronnie có lỗi trong việc tự ý sử dụng bia rượu và ma túy. Ông Brooking viết: “Trong quá khứ, Ronnie đã có nhiều vấn đề về bia rượu và ma túy... Cậu ta còn sai ở chỗ dùng thuốc an thần vô tội vạ, mục đích chính là để dẹp cơn trầm cảm. Cậu ta cho biết sẽ cai hẳn bia rượu và ma túy.”
Ông Brooking bắt đầu bản nhận xét bằng sự rối loạn song hành và miêu tả như sau:
“Rối loạn song hành có nghĩa chàng trai này bị mắc nặng tính thất thường trong cảm xúc, liên tiếp có sự thay đổi đột ngột từ trạng thái cực đoan này sang trạng thái cực đoan khác ngược chiều, thí dụ đang vui nổ trời bỗng chuyển sang buồn rũ rượi, đang phấn khích cao độ bỗng chuyển sang chán chường ghê gớm. Tôi xác định cậu ta mắc bệnh trầm cảm vì phần lớn thời gian cậu ta bị rơi vào tình trạng này. Trạng thái phấn khích cao độ chủ yếu chỉ sau khi uống rượu hoặc sử dụng chất ma túy và cũng tồn tại không lâu. Trong ba hoặc bốn năm gần đây, Ronnie bị trầm cảm nặng, nằm lì trong căn phòng phía sau ngôi nhà của bà mẹ cậu ta. Hầu hết thời gian cậu ta ngủ. Cậu ta làm việc hết sức ít và phụ thuộc hoàn toàn vào những người xung quanh. Cậu ta chỉ ra khỏi nhà ba hoặc bốn lần, cốt để làm ra vẻ cậu ta có cố gắng tu chỉnh, thực ra cậu ta không có khả năng làm việc”.
Ông Brooking còn chẩn đoán Ron mắc cả chứng “vĩ cuồng” [2], tự huyễn hoặc mình và đa nghi đối với mọi người xung quanh. Rất dễ xúc động mạnh nhưng lại cố tự kiềm chế.”
Và để dễ điều trị, ông ghi căn bệnh là nghiện bia rượu và ma túy. Ron xa gia đình đã trên mười năm. Và trong suốt thời gian ấy, cậu ta gặp phải biết bao nhiêu vấn đề và phải tự giải quyết bao nhiêu khủng hoảng. “Cậu ta cố đứng vững trên hai chân mình, nhưng đấy là việc vô cùng khó khăn, cậu ta không có khả năng thực hiện”. Nhiệm vụ của ông Brooking là đánh giá Ron chứ không phải điều trị cho anh.
Vào cuối mùa hè năm 1983, tình trạng tinh thần của Ron xuống quá thấp, vậy mà anh không chịu đến nơi nào đấy để được nhận sự giúp đỡ cần thiết. Đúng ra Ron cần được nằm điều trị dài hạn trong một viện tâm thần, nhưng gia đình không có khả năng đài thọ. Nhà nước cũng không giúp, và bản thân Ron cũng không chịu.
Việc xin vào học trường Đại học Trung Đông chỉ là một yêu cầu nhằm nhận được sự giúp đỡ về tài chính. Yêu cầu của Ron được chấp thuận và anh được báo là một ngân phiếu đang chờ anh tại văn phòng trường. Ron đến để nhận, trông hình dạng của anh lâu nay, không hề cải tiến: tóc để dài, ria mép rậm, cùng đi lại có thêm hai người dáng khả nghi, cả hai đều tỏ ra quan tâm nhiều đến khoản tiền Ron sắp nhận. Tấm ngân phiếu đề tên Ron nhưng lại dành cho cả một viên chức của trường. Ron đang vội, nhưng người ta lại bảo anh chờ và xếp hàng đằng sau một dãy dài. Ron cảm thấy số tiền là của anh và anh không muốn phải chờ đợi. Hai bạn đồng hành với anh thì tỏ vẻ sốt ruột, muốn nhận ngay tiền mặt. Thế là do lúng túng, Ron quên bẵng mất tên người viên chức của trường kia.
Anh lấy 300 đô la rồi đi.
Việc lấy phần tiền lớn hơn mà không báo cho người cùng hưởng ngân phiếu đã được bà Nancy Carson, vợ của Rick Carson xác nhận. Chồng bà lại là một người bạn thuở nhỏ của Ron, hiện là cảnh sát thị trấn Ada. Bà Nancy Carson làm việc ở phòng kinh doanh của thị trấn và quen biết Ron đã nhiều năm. Bà ta thấy Ron xử sự không chính đáng, bèn gọi điện báo cho chồng biết.
Vốn biết rõ gia đình Williamson, ông chồng bà đến thẳng Trung tâm chăm sóc sắc đẹp báo cho bà Juanita, mẹ Ron, biết sự việc. Nếu bà chịu đền lại nhà trường số tiền 300 đô la kia thì con trai bà sẽ không bị khởi tố. Bà Juanita vội vã viết luôn một tấm ngân phiếu ghi đúng số tiền trên rồi chạy đi tìm con trai.
Ngày hôm sau, Ron bị bắt tạm giam về tội chiếm đoạt tài sản của người khác, một tội có thể bị đưa ra toà xét xử và lĩnh hình phạt, cao nhất là tám năm tù. Anh bị tạm giam trong nhà tù quận Pontotoc. Anh không có tiền nộp bảo lãnh để tại ngoại và gia đình cũng không giúp được cho anh.
***
Việc điều tra về vụ án mạng cô Debbie Carter tiến triển rất chậm. Mãi vẫn chưa thấy người của Phòng xét nghiệm Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma kết luận gì về các mẫu dấu vân tay, mẫu máu, mẫu nước bọt, mẫu lông tóc...
Hai người tại thị trấn Ada là Ron Williamson và Dennis Fritz bị khởi tố.
Glen Gore vẫn chưa bị yêu cầu nộp mẫu dấu vân tay và mẫu nước bọt.
Tháng Chín năm 1983, toàn bộ các mẫu lông tóc được đặt trên bàn của chuyên gia Melvin Hett của Cục Điều tra Hình sự bang.
Ngày 9 tháng Mười một, Ron còn đang bị tạm giam, lại một lần nữa phải thử trước máy phát hiện nói dối, và được điều tra viên Rusty Featherstone cũng là người của Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma tiến hành.
Cuộc đối chất diễn ra trong hai tiếng đồng hồ. Người ta đặt ra vô số câu hỏi. Ron vẫn một mực khai là không dính dáng gì, cũng không biết gì về vụ án mạng. Cuộc thử lần này lại đưa ra kết luận là không thấy gì, và toàn bộ cuộc thẩm vấn được ghi hình đầy đủ.
Ron Williamson tự thu xếp để sống trong nhà tù. Anh bỏ thuốc an thần và ma túy vì không có cách nào kiếm được trong nhà tù, và anh lặp lại cách mỗi ngày ngủ suốt hai mươi tư tiếng đồng hồ. Do không có hình thức điều trị nào nên tình trạng trầm cảm và rối loạn trí óc ngày càng trầm trọng.
Cuối tháng Mười một, một tù nhân khác, là nữ, tên là Vicki Michelle Owens Smith kể với thanh tra Dennis Smith một câu chuyện quái đản về Ron Williamson. Thanh tra Dennis Smith nghe xong bèn viết bản báo cáo như sau:
“Vào 03h hoặc 04h sáng Thứ bẩy, Ron Williamson nhìn qua cửa sổ ra ngoài, thấy nữ tù nhân Vicki Michelle bèn hét lên, gọi cô này là mụ phù thủy. Ron Williamson còn nói rằng chính Vicki Michelle đã dẫn y đến nhà Debbie Carter vậy mà bây giờ cô ta lại đưa hồn ma Debbie vào phòng giam để đe nẹt dọa dẫm y. Williamson van xin bà mẹ y tha thứ cho y".
***
Tháng Mười hai, một năm sau vụ án mạng, Glen Gore bị cảnh sát triệu đến phòng cảnh sát để trả lời thẩm vấn. Y không nhận bất cứ một sự dính líu nào vào vụ án mạng cô Debbie Carter. Y công nhận có gặp cô Debbie tại câu lạc bộ Coachlight vài tiếng đồng hồ trước khi cô ấy bị giết. Y còn khai thêm là cô Debbie đã đề nghị y nhảy với cô ấy, và nói rằng cô ấy rủ y nhẩy cốt để chọc tức Ron Williamson vì lúc trước anh ta đã có thái độ không tốt với cô. Thực tế là không ai trong câu lạc bộ Coachlight nhìn thấy Ron Williamson có mặt trong câu lạc bộ này đêm hôm ấy. Bây giờ đâm ra lời khai của những người kia không còn tác dụng gì nữa.
Nhưng cảnh sát còn ngần ngại chưa khởi tố Ron Williamson về tội giết người vì bằng chứng vẫn quá ít ỏi. Không có một vết vân tay nào thu được tại hiện trường vụ án trùng khớp với vân tay của Ron Williamson cũng như của Dennis Fritz, do đấy khó có thể kết luận hai người này đã có mặt trong căn hộ của Debbie. Nhất là sự có mặt ấy phải diễn ra trong cả một quãng thời gian dài để hành hung và gây án. Và cũng không ai xung quanh căn hộ nhìn thấy gì hoặc nghe thấy gì khác lạ trong đêm hôm ấy. Việc so sánh mẫu lông tóc cũng không đem lại kết luận gì rõ ràng. Các mẫu ấy lúc này vẫn nằm trong lọ bảo quản trên bàn làm việc của chuyên gia lông tóc Melvin Hett của Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma.
Hồ sơ chống lại Ron Wiliiamson chỉ dựa trên “hai lần thử máy phát hiện nói dối, mà cả hai lần đều chưa có được kết luận rõ rệt”, trên tiếng xấu về anh, rồi trên chi tiết nhà anh gần hiện trường vụ án, và trên lời khai rất mơ hồ, không có gì kiểm chứng của Glen Gore.
Hồ sơ chống lại Dennis Fritz còn nghèo nàn hơn. Sau một năm điều tra, kết quả cuối cùng và duy nhất chỉ là việc sa thải một giáo viên dạy khoa học lớp Chín.
***
Tháng Giêng năm 1984, Ron Williamson bị đưa ra xét xử về tội chiếm đoạt tài sản của người khác. Anh bị kết án ba năm tù giam và bị giải đến một nhà tù gần thị trấn Tulsa. Chưa được bao lâu anh có một hành động ngây dại khiến ban chỉ huy trại giam chú ý. Anh lập tức được chuyển sang khu vực dành cho tù nhân bị rối loạn tâm thần để chăm sóc riêng. Bác sĩ Robert Briody phỏng vấn anh sáng ngày 13 tháng hai, đã ghi vào sổ như sau: “Thông thường anh ta nhịn nhục và kiểm soát được các hành vi của mình.” Nhưng trong buổi phỏng vấn chiều hôm ấy, ông bác sĩ Briody lại thấy một con người khác hẳn. Ron tỏ ra là con người “dễ bị kích động, dễ nổi cáu và dễ manh động, những ý nghĩ đến rời rạc và không liên quan gì với nhau. Có cả biểu hiện của bệnh hoang tưởng paranoid.”
An ninh không được thắt chặt lắm trong đơn vị nhà tù này. Ron phát hiện ra một sân bóng chầy gần đấy và anh thích thú bí mật lẻn ra đó ngồi một mình. Một lần một nhân viên cảnh sát nhìn thấy, bèn cho bao vây sân bóng rồi giải Ron về phòng giam.
Nhân viên nhà tù trói Ron lại, bắt viết báo cáo. Bản báo cáo ấy như sau:
“Đêm ấy tôi thấy buồn hết sức, muốn tìm một nơi yên tĩnh để suy nghĩ. Xưa nay tôi thường cảm thấy thanh thản khi ở trên một sân bóng chầy. Thế là tôi chui qua hàng rào phía đông nam để ra đấy. Vài phút sau, một nhân viên cảnh sát yêu cầu tôi quay về phòng giam. Tôi gặp ông Brents trên đường về trại và hai chúng tôi đi cùng với nhau. Ông Brents nói rằng anh ta sẽ không làm gì tôi. Vậy mà bây giờ bắt tôi viết báo cáo thế này ”.
Vì nghi can số một đã nằm trong tù cho nên cuộc điều tra về vụ án mạng Debbie Carter bị tạm ngừng. Nhiều tuần lễ trôi qua mà tình hình vẫn chưa tiến được là bao. Nghi can thứ hai là Dennis Fritz thì làm việc một thời gian ngắn ở một nhà trẻ, rồi ở một xưởng máy. Cảnh sát thị trấn Ada hối thúc anh, thúc ép anh, gây nhiều phiền nhiễu cho anh, nhưng rồi họ cũng ngán vì không phát hiện thêm được bằng chứng gì. Glen Gore vẫn sống trong thị trấn, nhưng không khiến cảnh sát quan tâm đến.
Cảnh sát lúng túng, căng thẳng và bị cấp trên thúc giục khiến họ càng sốt ruột.
Tháng Tư năm 1984, một phụ nữ trẻ khác lại bị giết tại thị trấn Ada, và mặc dù cái chết của cô không liên quan gì đến Vụ án mạng Debbie Carter, nhưng cũng ảnh hưởng tai hại đến số phận của Ron Williamson và Dennis Fritz.
***
Denice Haraway là một nữ sinh viên hai mươi tư tuổi theo học trường Đại học Trung Đông đóng tại thị trấn Ada. Cô còn kiếm tiền thêm bằng cách nhận làm một số giờ tại nhà hàng tự chọn McAnally nằm ở bên rìa phía đông của thị trấn Ada. Cô đã kết hôn và chung sống với Steve Haraway từ tám tháng nay. Anh cũng là sinh viên trường Đại học Trung Đông và là con trai bác sĩ răng hàm mặt nổi tiếng của thị trấn Ada. Đôi vợ chồng mới cưới sống trong một căn hộ nhỏ nằm trong tòa nhà của bác sĩ Haraway.
Tối Thứ bẩy, 28 tháng Tư, vào khoảng 8h30, một khách hàng đến cửa nhà hàng tùy chọn McAnally thì gặp một cô gái xinh đẹp đang từ trong cửa hàng đi ra. Cô đi cùng với một thanh niên, anh ta ôm ngang người cô gái. Trông họ còn có vẻ là một cặp tình nhân. Họ đi ra chỗ đậu xe, đến một chiếc ô tô. Cô gái lên trước, ngồi vào ghế bên phải. Anh con trai vào sau và đóng cửa xe lại. Vài phút sau chiếc xe lao đi. Xe chạy về phía đông, ra khỏi trung tâm thị trấn. Chiếc xe ấy nhãn Chevrolet.
Vào bên trong cửa hàng, người khách không thấy ai. Ngăn kéo đựng tiền bị mở ra và trống rỗng. Một điếu thuốc lá vẫn còn cháy dở trên gạt tàn. Bên cạnh là một lon bia đang mở. Phía sau quầy có một chiếc ví màu nâu và một cuốn sách giáo khoa để mở. Người khách gọi nhân viên cửa hàng nhưng không thấy ai trả lời. Ông ta cho rằng đây là một vụ cướp tiền, bèn gọi điện báo cảnh sát.
Cảnh sát đến, thấy trong chiếc ví có tấm bằng lái xe mang tên Denice Haraway. Người khách nhìn vào tấm ảnh trên giấy phép lái xe thì nhận ra, đấy chính là cô gái lúc nãy đi ra xe ô tô cùng với một người đàn ông mà người khách nhìn thấy cách đây khoảng nửa giờ. Đúng, ông ta quả quyết cô gái lúc nãy ông nhìn thấy chính là cô gái này, là Denice Haraway, vả lại ông hay đến cửa hàng này nên đã biết mặt cô.
Thanh tra Dennis Smith đã lên giường rồi mới nghe thấy chuông điện thoại. Nghe xong, ông ra lệnh: “Xử lý địa điểm ấy như cách xử lý hiện trường một vụ cướp”. Nói xong, ông lại ngủ tiếp. Tuy nhiên, lệnh của ông thanh tra không được thực hiện. Chủ cửa hàng tùy chọn McAnally, nhà ngay gần đấy, đã đến ngay. Ông ta kiểm lại két đựng tiền. Két sắt vẫn y nguyên, không bị mở. Ông thấy có 400 đô la tiền mặt trong ngăn quầy, chưa cất vào két, và 150 đô la trong một ngăn kéo khác. Trong khi chờ người của cơ quan cảnh sát đến, ông chủ đóng cửa hàng lại. Ông đem chiếc gạt tàn đi đổ, chiếc gạt tàn có một điếu thuốc cháy dở, và quăng cái lon bia đi. Nhân viên cảnh sát không biết để ngăn lại. Nếu trên đó có dấu vân tay thì như thế là đã làm mất dấu vết.
Tối hôm ấy, Steve Haraway chồng cô, ngồi nhà chờ vợ về sau khi cửa hàng tùy chọn đóng cửa vào 11h đêm. Bỗng chuông điện thoại reo. Anh nhấc máy và rất ngạc nhiên thấy cảnh sát yêu cầu anh đến ngay cửa hàng. Lát sau Steve Haraway đã có mặt tại đây, nhận dạng chiếc ô tô, cuốn sách giáo khoa, và ví tiền của vợ. Theo yêu cầu của cảnh sát, anh cố nhớ lại và miêu tả cách ăn mặc của vợ anh tối nay: quần bò xanh lam, giày ten-nít, và chiếc áo chẽn mà anh không nhớ chi tiết.
Sáng sớm Chủ nhật, tất cả nhân viên trong lực lượng cảnh sát thị trấn Ada, gồm ba mươi ba người, được gọi đến nhiệm sở. Các đơn vị vũ trang từ mấy quận gần đấy cũng được điều đến. Hàng chục đơn vị quần chúng tự nguyện được điều động để tham gia chiến dịch truy nã. Thám tử của Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma, Gary Rogers, được Cục trưởng giao chỉ huy cuộc điều tra này. Và một lần nữa thanh tra Dennis Smith lại được giao chỉ huy trực tiếp phòng cảnh sát thị trấn Ada. Họ chia quận ra thành nhiều khu vực, phân công mỗi đơn vị lục soát một khu vực, kể cả phố xá, sông ngòi, đê điều, đồng ruộng.
Một nhân viên của cửa hàng tùy chọn khác tên là JP, cách cửa hàng McAnally khoảng nửa dặm, hướng tiến lên, báo cảnh sát biết có hai thanh niên lạ mặt đã đỗ xe trước cửa hàng của anh ta, nói gì đấy với cô Denice không lâu trước khi cô ấy biến mất. Cả hai thanh niên ấy đều chỉ trên hai mươi tuổi, để tóc dài và thái độ rất quái gở. Họ chơi một ván bi-a rồi lên một chiếc ô tô cũ lái đi.
Người khách ở cửa hàng tự chọn McAnally lại chỉ nhìn thấy một thanh niên cùng đi với cô Denice, và cô không có vẻ sợ sệt gì anh ta. Cách tả anh thanh niên của người khách tương tự với cách tả hai thanh niên của nhân viên cửa hàng JP. Do đấy cảnh sát quyết định đi tìm hai người thanh niên da trắng kia, tuổi trạc từ hai hai đến hai tư, một cao một mét sáu mươi hai, một cao một mét sáu mươi nhăm, một người tóc vàng, để dài chùm hai tai, nước da màu nhạt, một người tóc nâu, tóc dài xuống vai dáng gầy.
Cuộc lục soát tỉ mỉ ngày Chủ nhật không đem lại kết quả gì. Đến chập tối thì thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers cho tạm ngừng cuộc lục soát để nghỉ ngơi và sáng sớm mai tiếp tục.
Sang ngày Thứ hai, họ phát hiện được một tấm ảnh chụp cô Denice dùng để làm thẻ sinh viên, bèn sao ra nhiều bản, kèm theo nhận dạng, cao một mét sáu mươi, nặng năm mươi ki lô, mắt đen, tóc nâu và nước da màu nhạt, phân phát cho mọi người tham gia lục soát. Trên tờ bướm có cả đoạn miêu tả nhận dạng của hai người thanh niên kia cùng chiếc xe ô tô của chúng. Tờ bướm còn được dán ở khắp các cửa hàng và phố xá.
Một họa sĩ được giao làm việc với nhân viên cửa hàng JP để vẽ phác chân dung của hai thanh niên kia. Khi đưa hình vẽ cho người khách ở cửa hàng McAnally thì ông ta bảo một trong hai thanh niên ấy ông ta ít nhất cũng đã thấy một lần trên sân bóng. Sau khi hình phác họa chân dung các nhân vật cần tìm kiếm được đưa lên màn hình vô tuyến thì chuông điện thoại của cơ quan cảnh sát liên tục reo.
Thị trấn Ada lúc ấy có bốn sĩ quan cảnh sát: ngoài thanh tra Dennis Smith, còn có ba thám tử Mike Baskin, D. W. Barrett, và James Fox và cả bốn đều bị quá tải vì nghe quá nhiều phát hiện của dân chúng trên điện thoại. Hơn một trăm cú điện thoại và số người bị dân chúng phát hiện lên đến con số trên hai mươi.
Hai cái tên được đánh dấu. Một là Billy Charley được khoảng ba chục người phát hiện. Do đấy anh ta được cơ quan cảnh sát gọi đến để thẩm vấn. Anh ta đến cùng cha mẹ, và cha mẹ anh ta nói rằng suốt tối và đêm Chủ nhật con trai họ chỉ ở nhà, không ra khỏi nhà lần nào.
Hai là Tommy Ward được gần ba chục người phát hiện. Cánh sát biết rất rõ anh này, vì đã nhiều lần anh ta bị bắt vì những vi phạm vặt vãnh như say rượu nơi công cộng, ăn cắp vặt, nhưng không phạm tội nào nặng. Tommy Ward là người gốc ở thị trấn Ada, có nhiều bà con ở khắp thị trấn. Người mang họ Ward nói chung lành hiền, cần cù lao động và chăm chỉ trong mọi việc. Tommy Ward hai mươi bốn tuổi, con áp út của một gia đình có tám con, và là học sinh trung học, nhưng do không đủ điểm, không lên lớp được mà lại không chịu lưu ban, nên đã phải bỏ học.
Tommy Ward vui lòng đến cơ quan cảnh sát để được thẩm vấn. Thanh tra Smith và thám tử Baskin hỏi anh ta về tối thứ bảy vừa rồi. Anh ta trả lời là đi câu cùng với một người bạn tên là Karl Fontenot, rồi cả hai đến dự một cuộc liên hoan, lưu lại ở đấy đến tận 4 giờ sáng mới về. Tommy không có ô tô riêng. Hai sĩ quan cảnh sát nhận thấy làn tóc vàng của Ward cắt rất ngắn, có vẻ tự cắt lấy chứ không phải tại một hiệu cắt tóc chuyên nghiệp.
Các thám tử lấy chiếc máy ghi hình tự động cài trên đầu anh ta đặt thời điểm là 1 tháng Năm.
Hai nghi can trong hình vẽ của họa sĩ đều có mái tóc dài và vàng.
Thám tử Baskin tìm thấy Karl Fontenot, một chàng trai ông chưa biết và yêu cầu anh ta đến phòng cảnh sát để trả lời một số câu hỏi. Fontenot đồng ý, nhưng không đến. Baskin cũng không truy nã anh ta. Fontenot cũng có mái tóc dài và vàng.
Trong lúc cuộc điều tra tiến hành tích cực cả bên trong quận Pontotoc lẫn khu vực xung quanh, thì tên họ và nhận dạng của cô Denice Haraway được gửi đến tất cả các cơ quan an ninh trên toàn quốc. Điện thoại từ khắp mọi nơi gọi đến, nhưng không có một cú điện thoại nào cung cấp được chi tiết có ích. Cô Denice này chỉ đơn giản là biến mất, không để lại dấu vết gì.
Steve Haraway, chồng cô ta, nếu không la cà quán hàng hoặc lái xe đi chơi đâu thì chỉ ở nhà với vài người bạn. Điện thoại réo liên hồi và mỗi lần nhấc máy Steve Haraway đều lóe lên chút hy vọng.
Không có lý do nào khiến vợ anh bỏ đi. Hai người cưới nhau chưa được một năm và tình cảm vẫn đang rất đằm thắm. Cả hai đều là sinh viên năm cuối của trường đại học Trung Đông, đều sắp tốt nghiệp và tính sẽ rời khỏi thị trấn Ada đi lập nghiệp ở nơi nào đấy. Steve tin rằng vợ anh đi là do bị cưỡng bức.
Mỗi ngày trôi qua lại làm anh chồng trẻ này giảm đi hy vọng vợ còn sống. Nếu cô ấy bị một kẻ bắt cóc để cưỡng hiếp thì sau đấy hắn cũng sẽ thả cô. Còn nếu hắn bắt cóc để đòi tiền chuộc thì tất phải có cú điện thoại đòi tiền. Có dư luận nhắc đến một người yêu cũ của vợ anh ở bang Texas, nhưng anh theo dõi thì không thấy ai nói đến chuyện ấy nữa, có nghĩa chỉ là một lời phỏng đoán mơ hồ. Rồi tin đồn có những kẻ buôn bán ma túy, dụ dỗ những thanh niên dại dột rơi vào bùa mê của chúng....
Thị trấn Ada lại hoang mang sợ sệt. Vụ án mạng cô Debbie Carter cách đây mười bảy tháng có phần nhạt nhòa thì bây giờ lại xảy ra vụ cô sinh viên Denice Haraway đột nhiên mất tích. Xưa kia, các nhà thường để cửa ngỏ từ sáng đến tối, thì nay cả ngày lẫn đêm đều đóng chặt. Thậm chí có nhà dùng hai lần khóa. Đám trẻ choai choai bị quản lý rất nghiêm ngặt, không được tự do đi lại như trước. Nhiều người bắt đầu mua súng để phòng bị.
Nhiều tuần lễ trôi qua và đối với đại đa số dân chúng thị trấn Ada, cuộc sống dần dần trở lại bình thường. Những tin đồn, những lời bàn tán cũng thưa dần mặc dù chưa ngừng hẳn. Người ta đồn một kẻ tình nghi ở bang Texas giết đến mười phụ nữ, và cảnh sát thị trấn Ada chạy vội đến để phỏng vấn hắn. Tại bang Missouri người ta phát hiện một thi thể phụ nữ, hai chân có xăm. Cô Denice Haraway không xăm da.
Tình trạng này kéo dài suốt mùa hạ, kéo dài sang đầu mùa thu. Không một vết tích nào được phát hiện để cảnh sát có thể bám lấy mà lần ra chỗ có thi thể cô Denice Haraway.
Và cũng không có tiến triển nào trong việc điều tra vụ án mạng cô Debbie Carter. Hai vụ trọng án chưa điều tra ra khiến không khí trong cơ quan cảnh sát nặng nề, căng thẳng. Họ làm việc nhiều tiếng đồng hồ nhưng vẫn chưa phát hiện được gì thêm để báo cáo cấp trên và để có hướng điều tra tiếp. Các dấu vết cũ đều được rà soát lại nhưng cũng không đem đến một tia sáng nào mới mẻ. Cuộc sống của thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers ngày càng bị u ám bởi hai vụ án mạng chưa tìm ra manh mối.
Đối với thám tử Rogers, là sĩ quan của Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma thì sức ép còn nặng nề hơn. Trước khi xảy ra vụ cô Denice Haraway mất tích một năm, một trọng án tương tự đã xảy ra tại thị trấn Seminole, cách thị trấn Ada ba mươi dặm về phía bắc. Một cô gái mười tám tuổi tên là Patty Hamilton làm việc trong một cửa hàng tùy chọn mở suốt đêm đến sáng cũng đã biến mất tăm. Một khách hàng vào cửa hàng thấy cửa hàng vắng tanh, ngăn kéo đựng tiền sạch trơn, trên quầy vẫn còn hai lon bia uống dở. Không thấy dấu hiệu nào của một cuộc vật lộn. Xe ô tô của cô bị khóa được tìm thấy bên ngoài cửa hàng. Cô gái biến mất không để lại một vết tích, và trong suốt một năm trời, cảnh sát tin rằng cô ấy bị dụ dỗ, rồi bị kẻ gian đem đi đâu đấy và giết.
Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma giao nhiệm vụ cho thám tử Gary Rogers điều tra cả ba vụ Patty Hamilton, Debbie Carter và Denice Haraway, vậy mà cho đến nay ông chưa tìm ra được manh mối một vụ nào.
***
Khi bang Oklahoma còn là một vùng đất hoang, chưa thành một bang, thì “làng” Ada nổi tiếng là nơi trú ngụ của đám côn đồ và tội phạm. Mọi tranh chấp đều được dàn xếp do sáu tên côn đồ bắn súng như thần. Và chúng không sợ gì luật pháp. Bởi cứ xong mỗi vụ chúng lại biến mất tăm và khi câu chuyện nhạt đi, chúng mới mò về. Các băng đảng tội phạm tìm đến thị trấn Ada này để trú ngụ vì hồi ấy nơi đây vẫn còn là đất của thổ dân da đỏ, chưa thuộc quyền kiểm soát của chính quyền dân sự của bang nào.
Tiếng tăm về một vùng đất tự do của đám tội phạm đã thay đổi hoàn toàn vào năm 1909, khi bang Oklahoma được thành lập và bắt đầu có chính quyền cùng các cơ quan an ninh. Thời gian đầu mọi thứ chưa phải đã dễ dàng. Một chủ trại danh tiếng và đứng đắn tên là Gus Bobbitt đã bị bắn gục bởi một tên xạ thủ chuyên nghiệp do một chủ trại tình địch thuê. Tên hung thủ cùng ba đồng bọn của hắn bị bắt và một loạt vụ xử treo cổ diễn ra trong thị trấn.
Trong mấy thập niên tiếp theo, thị trấn Ada vẫn là đất “nghịch”.
❀ ❀ ❀
[1] Text: Còn gọi là làm “tét", có nghĩa là: Thử.
[2] Tên khoa học là: Paranoid.